Ảnh hưởng của hình thức sở hữu nhà nước đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

ĐÀO NGỌC THẢO
ẢNH HƢỞNG CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU NHÀ
NƢỚC ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÀO NGỌC THẢO
ẢNH HƢỞNG CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU NHÀ
NƢỚC ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN PHƢƠNG THẢO

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trình
bày trong Luận văn là trung thực và kết quả của Luận văn chưa từng được công bố

2.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời của NHTM -------------------------- 13
2.3.1 Nhân tố bên trong ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của NHTM -------------------- 13
2.3.2 Nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của NHTM --------------------- 17
2.4 Ảnh hƣởng của hình thức sở hữu nhà nƣớc đến tỷ suất sinh lời của NHTM - 19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 --------------------------------------------------------------------- 24


CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HÌNH THỨC SỞ HƢŨ NHÀ NƢỚC VÀ TỶ
SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT
NAM ---------------------------------------------------------------------------------------------- 25
3.1 Tổng quan về hệ thống Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam ------------- 25
3.2 Thực trạng về hình thức sở hữu nhà nƣớc của các NHTMCP Việt Nam ------ 27
3.3 Thực trạng về tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam ---------------------- 33
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 --------------------------------------------------------------------- 36
CHƢƠNG 4: MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH ẢNH HƢỞNG CỦA HÌNH THỨC SỞ
HỮU NHÀ NƢỚC ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM -------------------------------------------------- 37
4.1 Giả thiết nghiên cứu ----------------------------------------------------------------------- 37
4.2 Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu ------------------------------------------------- 38
4.3 Dữ liệu nghiên cứu ------------------------------------------------------------------------- 46
4.4 Kết quả nghiên cứu ------------------------------------------------------------------------ 46
4.4.1 Thống kê mô tả ---------------------------------------------------------------------------- 46
4.4.2 Phân tích định lượng---------------------------------------------------------------------- 48
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu ----------------------------------------------------------- 52
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 --------------------------------------------------------------------- 56
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ---------------------------------------- 57
5.1 Kết luận kết quả của mô hình ----------------------------------------------------------- 57
5.2 Khuyến nghị nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời NHTMCP Việt Nam ------------- 59
5.2.1 Điều chỉnh cơ cấu sở hữu hợp lý-------------------------------------------------------- 60
5.2.2 Gia tăng quy mô hoạt động -------------------------------------------------------------- 60


: Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

7. BIDV

: Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

8. ACB

: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

9. Sacombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
10. MB

: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội

11. Eximbank

: Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam ------------------------------------------------------ 27
Bảng 4.1 Các biến trong mô hình nghiên cứu ------------------------------------------------- 42
Bảng 4.2 Kết quả thống kê mô tả --------------------------------------------------------------- 47
Bảng 4.3 Ma trận tương quan ------------------------------------------------------------------- 48
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy theo OLS------------------------------------------------------------ 48
Bảng 4.5 Kiểm định Hausman test ------------------------------------------------------------- 49
Bảng 4.6 Kiểm định Breusch-Pagan ----------------------------------------------------------- 50

năm qua. Sự cạnh tranh về giá, chất lượng dịch vụ cũng như sản phẩm mới đã mang lại
lợi ích cho khách hàng. Trong quá trình đổi mới, tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trong hệ
thống ngân hàng đã giảm dần thông qua việc chuyển đổi mô hình các ngân hàng nông
thôn thành các NHTMCP cũng như việc cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh lớn trước
đây. Mặc dù vậy, tỷ lệ sở hữu Nhà nước được đại diện bởi NHNN vẫn còn được duy trì
tại mức cao ở một số ngân hàng do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối.
Ảnh hưởng của hình thức sở hữu đến tỷ suất sinh lời là đề tài tranh luận không
ngừng của các bài nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các doanh
nghiệp phi tài chính như là nghiên cứu của Demsetz (1983), Morck và cộng sự (1988),
McConnell và Servaes (1990), Hermalin và Weisbach (1991), Gedajlovic và Shapiro
(2002)…, và tại các nước phát triển như nghiên cứu của Kosak và Cok (2008) về mối
quan hệ hình thức sở hữu và tỷ suất sinh lời của các Ngân hàng tại 6 nước Đông Nam
Châu Âu, nghiên cứu của Moreno và cộng sự (2011) tại Đông và Trung Âu…, nghiên cứu
rất hạn chế thực hiện đối với các tổ chức tài chính tại các nước đang phát triển như Việt


2

Nam. Các ngân hàng ở nước đang phát triển được đặc trưng bởi các đặc tính khác so với
các ngân hàng ở các nước phát triển như nguồn vốn, cơ cấu sở hữu, kiến thức chuyên môn
và kỹ năng thấp hơn, về công nghệ, trình độ quản lý… điều đó đặt ra câu hỏi kết quả của
các nghiên cứu tại các nước phát triển có thể là áp dụng đối với các nước đang phát triển
hay không. Theo các nghiên cứu về vai trò của sở hữu nhà nước tại nhiều quốc gia trên
thế giới, sở hữu nhà nước có xu hướng làm giảm tỷ suất sinh lời, gia tăng nguy cơ rủi ro
Demirguc-Kunt và Huizinga (1999), Claessens và cộng sự (2000), Micco và cộng sự
(2004).
Thực tế tại Việt Nam cho thấy tác động mạnh của sở hữu nhà nước tại các ngân
hàng, đặc biệt là các ngân hàng do nhà nước nắm cổ phần chi phối đã được phản ánh rõ
thông qua sự tăng trưởng nóng của tín dụng dẫn tới hệ lụy nợ xấu cao do sự phân bổ tín
dụng chưa hiệu quả (Đinh Tuấn Minh, 2012, Trịnh Quang Anh, 2013). Bên cạnh đó, các

lời, trong đó luận văn tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của hình thức sở hữu nhà nước đến
tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của hình thức sở hữu nhà nước đến tỷ suất sinh
lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn từ năm 2007 cho tới năm
2014. Luận văn chọn giai đoạn nghiên cứu từ năm 2007 vì đây là năm đầu tiên NHNN
tiến hành cổ phần hóa các NHTMNN đánh dấu bởi sự kiện cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại
Thương Việt Nam.
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê mô tả áp dụng để phân tích tình hình sở hữu và tỷ suất sinh
lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 - 2014.
Phương pháp định lượng được áp dụng thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng
bao gồm: kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy, xử lý yếu tố nội sinh, kiểm tra độ tin cậy
của mô hình. Cụ thể một số kiểm định được sử dụng như sau:
 Sử dụng kiểm định Hausman Test để lựa chọn phương pháp FE và RE.


4

 Sử dụng kiểm định Breusch-Pagan để lựa chọn giữa phương pháp RE và OLS.
 Để xử lý nội sinh, bài luận văn sử dụng mô hình động trong đó biến phụ thuộc trễ
một thời kỳ làm biến độc lập, phương pháp hồi quy được sử dụng là SGMM.
 Kiểm định độ tin cậy kết quả mô hình theo SGMM: kiểm định AR (1), AR(2) và
Hansen test.
1.5 Kết cấu của luận văn
Chƣơng 1: Giới thiệu
Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hình thức sở hữu nhà nước đến tỷ
suất sinh lời của ngân hàng thương mại
Chƣơng 3: Thực trạng về hình thức sở hữu nhà nước và tỷ suất sinh lời của các
ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Chƣơng 4: Mô hình kiểm định ảnh hưởng của hình thức sở hữu nhà nước đến tỷ


CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU
NHÀ NƢỚC ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NHTM
2.1 Lý thuyết nền của nghiên cứu:
Các nghiên cứu về tác động của hình thức sở hữu nhà nước lên tỷ suất sinh lời dựa
trên các lý thuyết sau:
2.1.1 Lý thuyết ngƣời đại diện:
Theo Coriat và Weinstein (2011), lý thuyết người đại diện ra đời vào đầu những
năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và
người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau. Người ủy quyền
(chủ sở hữu) giao phó công việc cho người đại diện thông qua một hợp đồng. Những vấn
đề mà lý thuyết người đại diện nghiên cứu chỉ xuất hiện trong chừng mực mà lợi ích của
người ủy quyền và người đại diện có sự khác nhau và nhất là giữa họ có thông tin không
hoàn hảo (không có toàn bộ thông tin xác đáng) về trạng thái và hành vi của các tác nhân,
thông tin không đối xứng giữa các tác nhân (thường thì người đại diện biết nhiều hơn
người ủy quyền về công việc mình phải làm). Sự tồn tại của thông tin không hoàn hảo và
thông tin không đối xứng dẫn tới những hành vi cơ hội của người đại diện.
Có hành vi cơ hội trước khi ký hợp đồng khi người ủy quyền không có đầy đủ
thông tin về người đại diện dẫn tới việc mà lý thuyết người đại diện gọi là sự lựa chọn
nghịch. Có những hành vi cơ hội sau khi ký hợp đồng khi người ủy quyền không tuân thủ
những điều khoản của hợp đồng dẫn tới việc mà lý thuyết người đại diện gọi là rủi ro đạo
đức. Sự không hoàn hảo, không đối xứng về thông tin giữa người ủy quyền và người đại
diện dẫn tới chi phí người đại diện (Bouba-Olga, 2010).
Thực tế, không thể có một hợp đồng hoàn hảo giữa người ủy quyền và người đại
diện vì vậy vấn đề người đại diện luôn tạo ra một chi phí gọi là chi phí người đại diện.
Chi phí người đại diện là những chi phí tiền tệ và phi tiền tệ mà các bên phải gánh chịu do
sự cần thiết phải thiết lập những hệ thống ràng buộc và kiểm tra. Chi phí người đại diện
gồm 3 bộ phận cấu thành, chi phí cho việc kiểm tra và động viên, chi phí nghĩa vụ và chi




8

động một cách khá duy lý nhìn từ góc độ riêng của họ, có xu hướng tạo ra các kết quả phi
lý về mặt tập thể (Buchanan, 1986)
Nội dung lý thuyết lựa chọn công cộng cho rằng sự thất bại của chính phủ là do:
không có khả năng lãnh đạo, hoặc không sẵn lòng của chính phủ để hành động theo
hướng quan tâm đến sở thích của công chúng, đội ngũ công chức không có động lực làm
việc, tham nhũng, sử dụng nguồn lực/tiền bạc bởi một số người và nhóm trong nỗ lực gây
ảnh hưởng đến nhà chính trị nhằm thay đổi chính sách công do đó chính trị có xu hướng
bị chi phối bởi các nhóm nhỏ, ít người được lợi ích lớn trong khi chi phí phân tán rộng rãi
(Sử Đình Thành, 2010)
Như vậy, lý thuyết lựa chọn công cộng nghiên cứu về hành vi của các quyết định
đến từ các chính trị gia dựa trên các giả thuyết về tính tư lợi, tối đa hóa thỏa dụng, từ đó
đưa ra nhận định mục đích của các chính trị gia không hẳn là tối đa hóa lợi nhuận, mà là
tối đa hóa thỏa dụng cá nhân, chính trị, khiến cho các Ngân hàng thương mại nhà nước
hoạt động kém hiệu quả hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân.
2.1.3 Lý thuyết quyền sở hữu:
Lý thuyết quyền sở hữu được phát triển bởi Furubotn và Svetozar (1972), sau đó là
Fama và Jensen (1983), Hart và Moore (1990). Lý thuyết đánh giá ảnh hưởng của những
hình thức sở hữu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo lý thuyết quyền sở
hữu, một quyền sở hữu trên một tài sản được xác định bởi ba thuộc tính sau đây:
 Quyền được sử dụng tài sản
 Quyền có được thu nhập từ tài sản
 Quyền chuyển nhượng tài sản cho một người thứ ba.
Với lý thuyết quyền sở hữu, doanh nghiệp được xem như một tập hợp những hợp
đồng thiết lập một cấu trúc nhất định những quyền sở hữu. Chức năng đầu tiên của quyền
sở hữu, đặc biệt của sở hữu tư nhân là cung cấp cho những cá thể sự khuyến khích, động
viên nhằm tạo ra, duy trì và giá tăng giá trị tài sản (Coriat và Weinstein, 2011). Lý thuyết
quyền sở hữu đã chỉ ra rằng, cấu trúc những quyền sở hữu một mặt phải tận dụng được

liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế.


10

 Tại Pháp: theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, Ngân hàng thương mại
là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng
dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ
vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Tại Việt Nam, theo điều 4 của luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm
2010 quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức
tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Cổng thông tin bộ tư pháp, 2015).
Đó là các quan niệm về Ngân hàng đứng trên góc độ luật pháp còn đứng trên góc
độ tài chính ngân hàng thì Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế (Rose, 2008)
Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại nhưng tựu chung đều
nhất quán với nhau đó là: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm
cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế hay nói cụ thể hơn thì
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ
chức trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản
có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính, tín dụng,
thanh toán đa dạng cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế.
Đối với các doanh nghiệp phi tài chính thì tỷ suất sinh lời là khả tạo ra lợi nhuận từ
các hoạt động của một doanh nghiệp. Nó thể hiện khả năng quản lý của doanh nghiệp để
tạo ra thu nhập bằng cách sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm
khác nhau về tỷ suất sinh lời như theo Hermanson (1983) thì cho rằng tỷ suất sinh lời là
mối quan hệ giữa thu nhập với các đo lường kế toán trong đó thể hiện khả năng tạo ra thu

quan tâm đến đòn bẩy tài chính và các rủi ro liên quan, nếu xem xét ROA là tỷ lệ quan
trọng trong đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng và xem kết quả của ROE làm bằng


12

chứng bổ sung. Ngoài ra, trong khi ROA và ROE phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng
tài sản ngân hàng, NIM chỉ tập trung vào lợi nhuận kiếm được đối với các thu nhập và chi
phí từ lãi.
Như vậy, các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lời của NHTM bao gồm:
o Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản:
𝐑𝐎𝐀 =

𝐋ợ𝐢 𝐧𝐡𝐮ậ𝐧 𝐬𝐚𝐮 𝐭𝐡𝐮ế
𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐂ó 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧

ROA giúp ta xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản Có. ROA
cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản Có hợp lý, có sự
điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản Có trước những biến động của nền
kinh tế.
o Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu:
𝐑𝐎𝐄 =

𝐋ợ𝐢 𝐧𝐡𝐮ậ𝐧 𝐬𝐚𝐮 𝐭𝐡𝐮ế
𝐕ố𝐧 𝐭ự 𝐜ó 𝐛ì𝐧𝐡 𝐪𝐮â𝐧

Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự Có chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng
nguồn vốn, ngân hàng đã huy động vốn nhiều để cho vay. Trong trường hợp đó, một
sự điều chỉnh lại vốn tự có theo một tỷ lệ hợp lý với vốn huy động sẽ là cần thiết để
đảm bảo tính vận hành nghiêm túc của ngân hàng.

cộng sự (1987), hoặc ở tại các nền kinh tế thị trường mới nổi như Barajas và cộng sự
(1999). Tất cả các nghiên cứu trên đều nghiên cứu kết hợp cả nhân tố bên trong và nhân
tố bên ngoài ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Các kết quả thực nghiệm khác
nhau đáng kể bởi vì sự khác nhau về dữ liệu và môi trường.
Nhìn chung, các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng có thể chia
thành 2 nhóm cơ bản: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài. Trong đó, các nhân
tố bên trong bao gồm các nhân tố nói lên đặc tính riêng của mỗi ngân hàng và đặc tính
chung của ngành Ngân hàng, các nhân tố bên ngoài là các yếu tố kinh tế vĩ mô.
2.3.1 Nhân tố bên trong ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời của NHTM
Một số nhân tố phổ biến có thể phân loại vào nhóm yếu tố bên trong ảnh hưởng
đến tỷ suất sinh lời của NHTM như là quy mô, cơ cấu vốn, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt
động, hình thức sở hữu, tiền gửi khách hàng, dư nợ cho vay, thu nhập ngoài lãi.
Một trong những câu hỏi quan trọng nhất trong quản trị Ngân hàng là quy mô ngân
hàng như thế nào là tối ưu là tối ưu. Các thuyết kinh tế cho rằng các tổ chức lớn sẽ hiệu


14

quả hơn. Tuy nhiên, cũng không ít các quan điểm cho rằng việc mở rộng quy mô của
Ngân hàng không hợp lý sẽ gây rất nhiều khó khăn trong quản trị là giảm tỷ suất sinh lời
của Ngân hàng. Emery (1971), Smirlock (1985) Akhavein và cộng sự (1997), Bourke
(1989), Molyneux và Thornton (1992), Bikker và Hu (2002), đã tìm ra mối tương quan
dương và có ý nghĩa thống kê giữa quy mô của Ngân hàng và tỷ suất sinh lời. Kết quả
nghiên cứu được giải thích rằng các ngân hàng có quy mô lớn sẽ có lợi thế huy động nên
sẽ có nguồn vốn giá rẻ hơn, giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh. Demirguc-Kunt và
Huizinga (2000) cho rằng mức độ khác nhau về tài chính, pháp lý và các yếu tố khác (như
tham nhũng) ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ đến quy mô
ngân hàng. Thêm vào đó, như Short (1979) đã lập luận, quy mô liên hệ chặt chẽ đến an
toàn vốn của một Ngân hàng bởi vì với ngân hàng có quy mô lớn sẽ có thể huy động vốn
với chi phí thấp hơn và do đó sẽ tạo được lợi nhuận cao hơn. Sử dụng những lập luận

chất lượng tín dụng của các khoản vay. Hơn nữa, khi một ngân hàng có tốc độ tăng
trưởng tiền gửi cao, tính cạnh tranh của các đối thủ trong ngành cao lên làm cho mức lãi
suất giảm. Điều này làm giảm lợi nhuận chung của tất cả các ngân hàng trên thị trường.
Vì biến tốc độ tăng trưởng có nhiều tác động ngược chiều nhau nên chúng ta không có
một cơ sở lý thuyết để xem xét xu hướng tác động của biến này lên khả năng sinh lời của
một ngân hàng.
Chi phí ngân hàng cũng là một yếu tố quyết định rất quan trọng đến tỷ suất sinh
lời, liên quan chặt chẽ đến hiệu quả quản lý. Ví dụ, Bourke (1989) và Molyneux và
Thornton (1992) tìm thấy một mối quan hệ dương giữa quản lý tốt chi phí sẽ cho lợi
nhuận cao hơn.
Các ngân hàng thương mại thường hoạt động tập trung vào cả hai lĩnh vực nghiệp
vụ ngân hàng truyền thống (nhận tiền gửi và cho vay) và hiện đại (quản trị tài sản sinh lời
ngoài lãi). Nghiên cứu của Dietrich và Wanzenried (2014) cho thấy tại các ngân hàng ở
các nước có thu nhập thấp, tỷ lệ thu nhập từ lãi trên tổng thu nhập cao thì dẫn đến khả


16

năng sinh lời cao. Tuy nhiên, tại các nước có thu nhập trung bình và cao, ngân hàng nào
có mức độ đa dạng hóa các sản phẩm cao, tỷ lệ này thấp, thì sẽ có tỷ suất sinh lời cao hơn.
Liên quan đến cấu trúc vốn của NHTM có thể kể đến các nghiên cứu như là Allen
và cộng sự (2011) hoặc Bourke (1989) cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tương quan
dương với tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại tại Châu Âu, Úc, Bắc Mỹ vì các
ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn rẻ, và ít rủi ro
hơn. Trong khi đó, Berger và cộng sử (1995) tìm được mối quan hệ dương giữa tỷ lệ vốn
chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng Mỹ trong những năm 1980 nhưng kết
quả này lại ngược lại vào những năm 1990. Barth và cộng sự (2004) tìm thấy rằng tỷ lệ
vốn chủ sở hữu cao đồng nghĩa với tỷ lệ nợ xấu ít đi. Theo Berger (1995) với mô hình
một giai đoạn trong thị trường vốn hoàn hảo và thông tin là cân xứng thì có mối quan hệ
nghịch biến giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Athanasoglou

Các nhân tố bên ngoài đặc trưng cho môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến
tỷ suất sinh lời của ngân hàng như là lạm phát, GDP, lãi suất…
Theo Bashir (2003), GDP bình quân đầu người, được kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến
rất nhiều yếu tố liên quan đến việc cung ứng các khoản cho vay và nhu cầu đối với các
khoản tiền gửi. Ở mức thu nhập cao hơn, người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn và các
ngân hàng sẽ có thể huy động thêm nguồn lực. Do đó, họ tài trợ cho các dự án đầu tư
nhiều hơn và có khả năng tạo ra lợi nhuận nhiều hơn. GDP bình quân đầu người vì vậy
được kỳ vọng là sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng. GDP bình quân đầu
người được sử dụng bằng cách lấy logarit tự nhiên Dietrich và Wanzenried (2014).
Tăng trưởng và tỷ suất sinh lời từ hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng chịu tác
động từ tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (Bashir, 2003). Theo đó, nếu nền kinh tế tăng
trưởng tốt, ngân hàng với quản trị vững chắc sẽ gia tăng lợi nhuận từ hoạt động cho vay,
kinh doanh chứng khoán và gia tăng nhu cầu các giao dịch tài chính khác. Ngược lại, hầu
hết các ngân hàng đều suy giảm lợi nhuận trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status