luận văn thạc sĩ quản lý nhà nƣớc đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thái bình - Pdf 41

i

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Lê Đức Giang
Sinh ngày: 14/02/1988 – Nơi sinh: Thái Bình
Là học viên cao học lớp: CH20B - Chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Niên khóa: 2015 - 2016 - Trường Đại học Thương Mại.
Tôi xin cam đoan
1. Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “Quản lý nhà nước đối với các Khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS. HÀ VĂN SỰ
2. Các số liệu, tài liệu trong Luận văn là do tôi tự thu thập, trung thực, bảo
đảm tính khách quan. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Đức Giang


ii

LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và bản Luận văn này, bên cạnh những nỗ
lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy cô, bạn bè, gia đình trong suốt quá trình học tập, công tác.
Nhân đây, tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới:
- Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Sự;
- Các thầy cô giáo Khoa Sau đại học - Trường Đại học Thương Mại;
- Tập thể lãnh đạo, cán bộ nhân viên Ban quản lý Khu công nghiệp của tỉnh
Thái Bình;
- Các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình, các

Bảng 2.6 Cơ cấu tổ chức cán bộ BQL các KCN ở tỉnh Thái Bình..........50
Bảng 2.7 Các công ty đầu tư kinh doanh hạ tầng......................................54
vào KCN Thái Bình đến năm 2015............................................................54
SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình QLNN đối với các KCN..................................................................47
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức Ban quản lý các KCN của tỉnh Thái Bình............................49
Biều đồ 2.2. Số doanh nghiệp vi phạm các quy định tại các KCN...................................57
Biểu đồ 2.3 Đánh giá hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra.......................................59


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

TỪ VIẾT TẮT

NGHĨA TIẾNG VIỆT

1

BQL

Ban quản lý

2

BHXH


Hợp đồng lao động

8

KCN

KCN

9

KK

Khu kinh tế

10

NĐ-CP

Nghị định – Chính phủ

11

QLNN

Quản lý nhà nước

12

TNHH MTV


Trung tâm của tỉnh là thành phố Thái Bình, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía
đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp
với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải Phòng
ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam, phía đông là
biển Đông.
Với vị trí địa lý thuận lợi, những năm qua, tỉnh Thái Bình đã có nhiều cố
gắng trong việc thu hút vốn đầu tư để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh
Thái Bình đã tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa bàn, xác định
các khu, các cụm công nghiệp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tính đến cuối
năm 2015, toàn tỉnh Thái Bình đã có 6 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện
tích 979,8 ha. Thu hút 152 dự án đầu tư vào các KCN, với tổng số vốn đăng ký
đạt 12.332 tỷ đồng, giá trị sản xuất đạt được chiếm 36,6% giá trị sản xuất công
nghiệp toàn tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình còn
tồn tại những hạn chế như công tác hoạch định chính sách, công tác quy hoạch
phát triển KCN chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, trình độ năng lực của bộ máy
quản lý nhà nước đối với các KCN còn hàn chế, tình trạng ô nhiễm môi trường,
vi phạm các quy định trong quá trình hoạt động tại các KCN vẫn tiếp diễn …
những vấn đề còn tồn tại đó đặt ra yêu cầu cần phải hoàn thiện công tác QLNN
đối với các KCN. Với mong muốn thông qua việc đánh giá kết quả hoạt động của
các KCN và thực trạng công tác QLNN trong thực tiễn phát triển KCN của tỉnh


2

Thái Bình để từ đó chỉ rõ nguyên nhân của thành công và hạn chế trong công tác
QLNN của tỉnh Thái Bình đối với các KCN nhằm đề ra những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của công tác. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác QLNN đối
với KCN ở tỉnh Thái Bình. Tôi đã lựa chọn vấn đề: “Quản lý nhà nước đối với các
KCN trên địa bàn tỉnh Thái Bình” Luận văn tốt nghiệp của mình. Đây là một đề

- Nguyễn Thị Mai Khanh (2013) “Quản lý của thành phố đối với hoạt động
của các KCN và khu chế xuất trên địa bàn Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ. Công
trình nghiên cứu hướng tới việc hoàn thiện chính sách QLNN đối các hoạt động
của KCN.
- Lê Hồng Yến (2007), “Hoàn thiện chính sách và mô hình tổ chức quản lý
nhà nước đối với việc phát triển KCN Việt Nam – thông qua thực tiễn các KCN
miền Bắc”, Luận án Tiến sỹ kinh tế tại Trường Đại học Thương Mại. Luận án đề
xuất một số phương hướng và giải pháp sơ bộ nâng cao năng lực hoạch định chính
sách phát triển KCN ở nước ta.
Nhìn chung, các công trình trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc
trực tiếp, hoặc gián tiếp đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các KCN đó là nguồn
tài liệu đáng quý giúp tôi có được những số liệu và thông tin cần thiết để kế thừa và
phát triển trong luận văn của mình. Tuy nhiên, trong số các công trình đã xuất bản
chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa
bàn tỉnh Thái Bình với tư cách là luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế. Trong luận văn
này, tác giả sẽ cố gắng nghiên cứu vấn đề này một cách cơ bản và hệ thống.
3. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là những lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà
nước đối với các KCN của các cấp chính quyền tỉnh Thái Bình (UBND tỉnh, các Sở
ban ngành có liên quan, BQL các KCN của tỉnh) đối với các KCN trên địa bàn tỉnh
Thái Bình được Chính phủ thành lập và các KCN và sẽ được thành lập trong tương
lai nằm trong quy hoạch đã được duyệt.
- Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của Luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đề
xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trên địa bàn
tỉnh Thái Bình theo hướng CNH, HĐH.


4



Mẫu 1: Khảo sát doanh nghiệp đầu tư vào KCN.
Nội dung: Thăm dò ý kiến về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn
tỉnh Thái Bình
Tổng số phiếu phát ra là 200 phiếu, tổng số phiếu thu về là 148 phiếu.
Mẫu 2: Phỏng vấn cán bộ quản lý nhà nước (chủ thể hoạch định và tổ chức
thực thi chính sách). Tổng số phiếu phát ra là 110 phiếu, thu về 95 phiếu.
Nội dung: Thăm dò ý kiến về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn
tỉnh Thái Bình.
Mẫu 3: Phỏng vấn doanh nghiệp và cán bộ QLNN.
Nội dung: Phỏng vấn về công tác QLNN đối với các KCN trên địa bàn tỉnh
Thái Bình.
Thông qua việc phỏng vấn đưa ra những nhận xét, đánh giá đảm bảo độ tin cậy
và chính xác.
- Phương pháp phân tích: Bao gồm các phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp phân tích có định tính.
+ Phương pháp so sánh: phương pháp này dùng để đánh giá hiệu quả quản lý
các KCN ở từng thời kỳ, quá trình hoạt động của các KCN…
+ Phương pháp thống kê: là phương pháp sử dụng các phép tính thống kê để xử
lý các số liệu thu lượm được từ các cuộc khảo sát, điều tra, trao đổi, thực nghiệm…
+ Phương pháp phân tích có định tính: phương pháp này phụ thuộc nhiều vào
ý kiến của chuyên gia, kinh nghiệm và sự phân tích đánh giá của người viết đề tài.
Ngoài ra, đề tài cũng quan tâm tới kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có và bổ
sung và phát triển những luận cứ khoa học và thực tiễn mới cho phù hợp với mục
tiêu nghiên cứu của Luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1 Về mặt lý luận
Bước đầu luận văn làm sáng tá một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với các KCN; hệ thống các vấn đề lý luận về QLNN của cấp tỉnh đối với các KCN
ở Thái Bình.

Khái niệm về KCN được quy định tại Luật Đầu tư được Quốc hội khoá 12,
thông qua ngày 26/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 định nghĩa: “KCN là khu
vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp” [14].
* Phân loại KCN
Có nhiều cách tiếp cận về KCN, vì vậy tùy từng cách tiếp cận với những tiêu chí
khác nhau có các cách phân loại KCN khác nhau:
- Theo mục đích sản xuất: Người ta chia ra KCN và khu chế xuất. KCN bao gồm
các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khu chế xuất là
một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu.
- Theo mức độ mới – cũ: KCN chia làm 3 loại:
+ Các KCN cũ xây dựng trong thời kỳ bao cấp (từ trước khi có chủ trương xây
dựng khu chế xuất năm 1990) như KCN Thượng Đình - Hà Nội, KCN Việt Trì,
KCN Gang thép Thái Nguyên v.v...
+ Các KCN cải tạo, hình thành trên cơ sở có một số xí nghiệp đang hoạt động.
+ Các KCN xuất hiện trên địa bàn mới
- Theo tình trạng cho thuê: Có thể chia số KCN thành ba nhóm có diện tích
cho thuê được lấp kín dưới 50%, trên 50% và 100%.
- Theo quy mô: Hình thành 3 loại KCN: lớn, vừa và nhá. Các chỉ tiêu phân bổ
quan trọng nhất có thể chọn là diện tích tổng số doanh nghiệp, tổng số vốn đầu tư,
tổng số lao động và tổng giá trị gia tăng. Các KCN lớn được thành lập phải có quyết


8

định của Thủ tướng Chính phủ. Các KCN vừa và nhá thuộc quyền quyết định của Chủ
tịch UBND tỉnh, thành phố. Trong giai đoạn đầu hiện nay ta chú trọng xây dựng các
KCN vừa và nhá để sớm khai thác có hiệu quả.
- Theo trình độ kỹ thuật: Có thể phân biệt
+ Các KCN bình thường, sử dụng kỹ thuật hiện đại chưa nhiều.

pháp luật hiện hành mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất
nhiều ưu đãi. Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật KCN này được xây dựng phục vụ cho hoạt
động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục
vụ mục đích sống dân cư, kể cả người Việt Nam, người nước ngoài làm việc
trong KCN.
- Về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp
và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp trong KCN này là sản xuất
công nghiệp và dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Trong KCN, không có
các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho loại hình
sản xuất này.
- Về thành lập: KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được
thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt.
Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi,
bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách
toàn diện, đồng bộ. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các
KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng.
- Về đầu tư cho sản xuất: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong KCN,
có khu vực hoặc doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế
xuất, doanh nghiệp chế xuất).
Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án
đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN, trong phạm vi KCN có thể thành lập khu
vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh
nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất).


10

- Về điều kiện tự nhiên:

11

Thứ ba, các KCN góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và
nâng cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền. Tầm quan trọng của KCN chính là
đầu tầu tăng trưởng có tác động lan táa của nó đối với các vùng lân cận và cả nền
kinh tế chứ không chỉ ở năng suất lao động hay thu nhập của người lao động tăng lên.
Thứ tư, sự phát triển các KCN đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo sự phát
triển đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng xã
hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Các KCN đã khẳng định vai trò rất quan trọng
tác động và ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các khu đô thị. Chính
hạt nhân từ các KCN đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các công trình hạ tầng
xã hội đã đưa mạng lưới đô thị ngày cảng mở rộng và phát triển.
Thứ năm, các KCN góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước. Để thu
hút đầu tư vào KCN tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án các KCN
cần hoàn thiện kết cầu hạ tầng đi kèm. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng
rào KCN phải đồng bộ, hiện đại vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu
tư vào KCN mà còn kích thích sự phát triển của kinh tế địa phương nơi có KCN
hoạt động.
Thứ sáu, sự phát triển của các KCN thúc đẩy phát triển các loại hình dịch vụ
phục vụ sản xuất công nghiệp. Việc phát triển các KCN có tăng động lan táa đến
các hoạt động dịch vụ và ngược lại, các hoạt động dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu
của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất. Các dịch vụ như: Lĩnh vực
tính dụng – ngân hàng, lĩnh vực dịch vụ bưu chính viễn thông, điện lực, dịch vụ
logicstic…
1.1.1.2. Bản chất của QLNN đối với các KCN
QLNN đối với KCN là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan
hành chính Nhà nước, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật
điều chỉnh các hoạt động đầu tư và sản xuất - kinh doanh có liên quan tới KCN
nhằm khuyến khích và bảo đảm cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tiến
hành các hoạt động đầu tư tại các KCN trên cơ sở tuân thủ pháp luật và các quy

- Đẩy mạnh cơ cấu đầu tư: Với việc phát triển mạnh các KCN hướng tới mục
tiêu thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia vào KCN tuy nhiên các nhà đầu tư đa dạng
về mức độ đầu tư, loại hình đầu tư, lĩnh vực đầu tư… vì vậy quản lý nhà nước phải
định hướng và cân đối cơ cầu đầu tư tại địa phương. Vì thế, QLNN đối với KCN
phải được hoạch định và có tầm nhìn rộng về cơ cấu, lĩnh vực đầu tư.


14

- Bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững: KCN là nguồn phát sinh các
ô nhiễm môi trường với mật độ cao, là nơi tập trung khối lượng chất thải công
nghiệp lớn và phức tạp về thành phần chất gây ô nhiễm, dễ gây ra những sự cố môi
trường không những trong KCN mà ra cả vùng lân cận bên ngoài hàng rào. Do vậy
công tác quản lý môi trường phải đặt lên hàng đầu. Phát triển KCN là mục tiêu quan
trọng nhưng song song với đó cần quan tâm bảo vệ môi trường sống trong và vùng
lân cận bên ngoài hàng rào KCN nhằm hướng tới phát triển bền vững.
- Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động: Khi các KCN phát triển
thu hút được các nhà đầu tư để đầu tư, vấn đề lao động cũng là một vấn đề rất quan
trọng, các vấn đề xoay quanh tuyển dụng, đào tạo lao động cho phù hợp với yêu cầu
các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các quyền căn bản của người lao động cũng vẫn được
bảo vệ nhất là về lương, bảo hộ lao động và giải quyết tranh chấp.
1.2.1.2 Phân cấp QLNN đối với các KCN
Kể từ khi KCN đầu tiên ra đời, mô hình QLNN KCN đã trải qua nhiều lần
thay đổi, cụ thể:
Quy chế KCN ban hành kèm theo Nghị định 192/CP/1994 giúp Chính phủ
quản lý KCN đã hình thành bộ máy tổ chức bao gồm các bộ ngành Trung ương,
UBND cấp tỉnh và BQL các KCN cấp tỉnh. Trong đó BQL các KCN cấp tỉnh là cơ
quan trực tiếp quản lý các KCN, trực tiếp giải quyết các vấn đề phát sinh thuộc
thẩm quyền, là đầu mối phối hợp với các cơ quan QLNN khác giải quyết các vấn đề
vượt thẩm quyền. Các Bộ ngành trung ương tủy theo chức năng mà ủy quyền cho

giảm quy mô diện tích, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã được phê duyệt trong
KCN, các khu chức năng trong KKT; chỉ đạo xử lý và giải quyết những vấn đề
vướng mắc vượt thẩm quyền.
- Các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và
hành chính lãnh thổ đối với KCN, KCX, KKT; hướng dẫn hoặc ủy quyền cho Ban
Quản lý thực hiện một số nhiệm vụ QLNN thuộc thẩm quyền theo quy định của
pháp luật.
- Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối
với KCN, KKT; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành
chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất


16

kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN, KKT. Ban Quản lý KCN, KKT có thẩm
quyền trực tiếp trong quản lý về đầu tư và quản lý KCN, KKT trên một số lĩnh vực
theo hướng dẫn, ủy quyền của các Bộ và cơ quan có thẩm quyền: thương mại, xây
dựng, lao động, môi trường. Ngoài ra, Ban Quản lý KKT được giao thêm một số
thẩm quyền như quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C sử dụng vốn ngân sách
theo ủy quyền của UBND cấp tỉnh; giao đất theo quy định của pháp luật về đất
đai...
1.2.2. Những nội dung cơ bản của QLNN đối với các KCN tại địa phương
cấp tỉnh
1.2.2.1 Nội dung cơ bản của QLNN đối với các KCN tại địa phương cấp tỉnh
a, Hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chiến lược phát
triển vùng, chiến lược phát triển công nghiệp, địa phương xây dựng chiến lược phát
triển các KCN phù hợp với khả năng của địa phương. Bởi vậy, khi xây dựng chiến
lược, quy hoạch phát triển KCN, phải nghiên cứu tổng thể các điều kiện tự nhiên và

Nếu công tác hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN
mang tính định hướng thì công tác tổ chức thực hiện các chính sách, quy hoạch, kế
hoạch phát triển KCN mang tính cụ thể hóa. Đây là nội dung quan trọng trong công
tác QLNN các KCN tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của KCN.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách, quy hoạch, kế hoạch
phát triển KCN cần bám sát các nội dung đề ra, thường xuyên giám sát đánh giá kết
quả, tính hiệu quả của chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN để từ đó
điều chỉnh, bổ sung kịp thời về chính sách cũng như quy hoạch sao cho phù hợp với
thực tiễn nâng cao hiệu quả của chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN.
Muốn làm tốt nội dung trên phải thường xuyên quan tâm đến công tác tuyên truyền
phổ biến chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển KCN thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng để từ đó giúp cán bộ và nhân dân nắm rõ chính sách và quy
hoạch phát triển KCN tạo sự đồng thuận cao trong quá trình thực hiện phát triển
KCN.


18

d, Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các hoạt động của
KCN
Các nhà đầu tư vào KCN cần có sự tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh tuy nhiên cũng đòi hỏi cần có sự kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện
theo đúng quy định của giấy phép và của pháp luật. Doanh nghiệp tự chủ trong kinh
doanh nên QLNN đối với doanh nghiệp trong KCN là quá trình giám sát, kiểm tra
sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của giấy phép và của pháp luật nhằm định
hướng hoạt động của các KCN theo quy định của pháp luật và giải quyết các vấn đề
phát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN, kiểm soát và
xử lý các vi phạm của doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định của pháp luật
của nhà nước và quy chế hoạt động KCN, nhưng công tác kiểm tra, thanh tra, giám
sát không được can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh

chất lượng, ổn định trong thời gian dài, việc điều chỉnh không làm thay đổi mục tiêu
và định hướng chiến lược.
- Thứ ba, công cụ bộ máy hành chính quản lý: Bộ máy hành chính quản lý là
chủ thể thực hiện công tác QLNN đối với các KCN mà ở đây là UBND cấp tỉnh,
các Sở ban ngành trực thuộc UBND cấp tỉnh có liên quan, BQL các KCN của tỉnh.
Bộ máy hành chính quản lý có nhiệm vụ quản lý điều hành và phát triển các KCN.
Thứ tư, công cụ kinh tế: Công cụ kinh tế như công cụ thuế, lệ phí, lãi suất
ngân hàng, các khoản hỗ trợ… Công cụ kinh tế giúp cơ quan QLNN thông qua nó
để tác động đến các đối tượng quản lý mà ở đây chính là các thực thể trong KCN.
Đây cũng là công cụ quan trọng cho phép thực hiện quyền bình đẳng giữa các nhà
đầu tư vào KCN và kết hợp hài hòa giữa các lợi ích.
- Thứ năm, công cụ chính sách: UBND cấp tỉnh có thể ban hành hoặc thực thi
các chính sách của Nhà nước để quản lý hoạt động các KCN. Các chính sách góp
phần thúc đầy phát triển các KCN.
1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH
1.3.1 Nhóm yếu tố thuộc về các quy định pháp luật, thể chế và chính sách
của Nhà nước
Quy định pháp luật, thể chế, chính sách của Nhà nước ảnh hưởng đến quản lý
nhà nước đối với KCN trên các mặt:


20

- Chính sách phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, vùng, ngành, địa phương,
vùng, lãnh thổ, loại hình doanh nghiệp… đều tác động đến mục tiêu, nội dung và
phương thức quản lý của Nhà nước đối với KCN. Chế độ, chính sách chung của
Nhà nước rõ ràng, minh bạch có độ nhất quán và ổn định cao thì tạo cơ sở pháp lý
cho quản lý hiệu quả của Nhà nước đối với KCN. Ngược lại, chế độ, chính sách
chung của Nhà nước thiếu minh bạch, không rõ ràng, thiếu tính nhất quán có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status