PHỐI hợp HOẠT ĐỘNG vẽ và xếp dán TRANH NHẰM PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ HÌNH TƯỢNG CHO TRẺ mẫu GIÁO 5 – 6 TUỔI - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ VÂN ANH

PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG VẼ VÀ XẾP DÁN TRANH
NHẰM PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ HÌNH TƯỢNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LƯƠNG THỊ VÂN ANH

PHỐI HỢP HOẠT ĐỘNG VẼ VÀ XẾP DÁN TRANH
NHẰM PHÁT TRIỂN TRÍ NHỚ HÌNH TƯỢNG
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
Chuyên ngành : Giáo dục mầm non
Mã số
: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Thủy

HÀ NỘI - 2013

BẢNG VIẾT TẮT

4

ĐC

:

Đối chứng

HĐTH

:

Hoạt động tạo hình

MG

:

Mẫu giáo

MGB

:

Mẫu giáo be

MGL


:

Trung bình

TTN

:

Trước thực nghiệm

TN

:

Thực nghiệm

XDT

:

Xếp dán tranh


MỤC LỤC
PHỤ LỤC

5


MỞ ĐẦU

biệt là hoạt động vẽ và xếp dán tranh, trẻ có điều kiện và cơ hội để phát triển
tốt các thao tác tư duy: quan sát, so sánh, phân tich, tổng hợp… Các sự vật
hiện tượng tác động trực tiếp vào các giác quan của trẻ, để lại trong tri nhớ trẻ
những ấn tượng sâu sắc. Qua quá trình hoạt động tư duy tich cực trong hoạt
động tạo hình, các ấn tượng đó được tái hiện lại bằng những sản phẩm vật
chất của trẻ. Từ đó tri nhớ hình tượng của trẻ ngày càng phát triển hơn.
Lý luận và thực tiễn cũng cho thấy, sự phát triển tri nhớ hình tượng
thông qua phối hợp hoạt động vẽ và xếp dán tranh phụ thuộc rất nhiều vào
vốn kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của trẻ. Tri nhớ hình tượng của trẻ sẽ
được phát triển nếu hoạt động vẽ và xếp dán tranh của các em được tổ chức
một cách khoa học và sáng tạo.
Hoạt động tạo hình ở trường mầm non bao gồm các loại hình: vẽ, nặn,
xếp dán và chắp ghep. Trong đó, vẽ và xếp dán tranh là hai thể loại hoạt động
tạo hình trên mặt phẳng hai chiều. Chúng có mối quan hệ mật thiết, tác động
qua lại lẫn nhau. Việc phối hợp hoạt động vẽ và hoạt động xếp dán tranh sẽ
giúp trẻ ghi nhớ nhanh, tich lũy các biểu tượng thông qua việc tich cực quan
sát, định hướng không gian phối hợp phương thức thể hiện trên mặt phẳng hai
chiều. Bên cạnh đó trẻ còn thường xuyên được ôn tập, củng cố các biểu tượng
thông qua hệ thống các bài tập vẽ và xếp dán tranh được tổ chức đan xen,
phối hợp linh hoạt.
Thực tế công tác giáo dục mầm non hiện nay cho thấy, giáo viên đang
rất quan tâm đến hoạt động tạo hình của trẻ. Cùng với nhận thức và thực hiện
theo chương trình đổi mới, giáo viên đã quan tâm đến sự phát triển toàn diện
cho trẻ theo hướng tich hợp. Hoạt động tạo hình không chỉ là loại hình nghệ
thuật nhằm giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mà còn giúp trẻ phát triển tri tuệ, thể
chất, ngôn ngữ… Tuy nhiên, họ chưa nắm được bản chất của sự phối hợp
7


giữa hai hoạt động vẽ và xếp dán cũng như chưa nhận thức rõ vai trò của việc

nhớ hình tượng của trẻ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan tới hoạt động vẽ, hoạt
động xếp dán tranh của trẻ. Sự phát triển tri nhớ hình tượng của trẻ thông qua
phối hợp hoạt động vẽ và xếp dán tranh.
5.2. Tìm hiểu thực trạng một số biện pháp tổ chức hoạt động vẽ và xếp dán
tranh của trẻ ở các trường mẫu giáo nhằm xem xet ảnh hưởng của các biện
pháp này tới sự phát triển tri nhớ hình tượng cho trẻ.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp phối hợp hoạt động vẽ và hoạt
động xếp dán tranh nhằm phát triển tri nhớ hình tượng cho trẻ.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: tháng 12/ 2013 – tháng 6/2013.
- Về địa bàn nghiên cứu:
Điều tra thực trạng tại 4 trường mầm non thuộc thành phố Hải Phòng:
- Trường mầm non Nam Hưng – Tiên Lãng – Hải Phòng.
- Trương mầm non Đa Phúc – Dương Kinh – Hải phòng
- Trường mầm non Hoa Hồng – Kiến An – Hải phòng
- Trường mầm non Dư Hàng Kênh – Lê Chân – Hải phòng.
Thực nghiệm tại trường mầm non Nam Hưng – Tiên Lãng – Hải phòng.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Phương pháp quan sát tự nhiên
7.3. Phương pháp điều tra
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
7.6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
9


8. Cấu trúc luận văn

Tác giả L.X. Vưgôtxki khi phân tich các cấu trúc thao tác ki hiệu của
trẻ em, ông cho rằng: yếu tố cơ bản của thao tác ghi nhớ là sự tham gia của
các ký hiệu bên ngoài nào đó. Ở đây, chủ thể không giải quyết nhiệm vụ bằng
cách trực tiếp huy động các khả năng tự nhiên của mình mà dùng các thủ
thuật nào đó từ bên ngoài [70].
* Nghiên cứu về vai trò của hành động với sư phát triển trí nhớ trẻ em.
Tác giả A.A. Liublinxkaia khẳng định vai trò của hoạt động trong việc
hình thành và sử dụng những biểu tượng hình tượng. Bà cho rằng, biểu tượng ở
trẻ về sự vật không nảy sinh do ấn tượng thụ động ghi trong não bộ mà để hình
thành biểu tượng cũng như sự nhớ lại, đứa trẻ cần thực hiện những hành động
thực tế như hoạt động tạo hình và chắp ghep xây dựng [37].
Tác giả A.V. Daparôgiet cho rằng trong lứa tuổi mẫu giáo tài liệu trực
quan (sự vật và hình ảnh của nó) ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệu ngôn
ngữ. Và muốn trẻ nhớ kĩ một tài liệu nào đó, cần tổ chức cho trẻ hoạt động
11


với tài liệu ấy. Vi dụ trong hoạt động tạo hình, trẻ mẫu giáo khi tich cực hoạt
động với tranh ảnh, vẽ, xếp dán tranh …thì sẽ nhớ những hình ảnh ấy tốt hơn
những em nào chỉ quan sát những hình ảnh đó không thôi. [9]
* Nghiên cứu về phương pháp hình thành và phát triển trí nhớ của trẻ
Alexander Romanovich, nhà tâm lý học người Nga khi nghiên cứu về
cách rèn luyện tri tuệ cho trẻ em đã khẳng định, hoạt động tri óc bắt đầu khi
người ta chuyển cái đã nhận thấy thành cái được tái hiện. Ông đã chỉ ra thời
điểm, cách ghi nhớ để có một tri nhớ tốt: “Thao tác hoạt động tri óc của việc
nhớ có hiệu quả được thực hiện vào lúc trẻ quyết định phải lưu giữ thông tin
để sẵn sàng lấy ra sau này” [2]
Cũng về vấn đề này, tác giả Tony Buzan đã có những công trình nghiên
cứu của mình trong việc sử dụng tri nhớ hình tượng để ghi nhớ tài liệu. Ông
đưa ra cách ghi nhớ, giữ gìn tài liệu bằng sơ đồ tư duy, một phương tiện tận

góp phần vào việc phát triển tri nhớ hình tượng của trẻ [7].
Nghiên cứu về “Ảnh hưởng của trò chơi đóng vai lên tri nhớ có chủ
định của trẻ mẫu giáo” tác giả Lê Thị Minh Hà đã chỉ ra vai trò của trò chơi
đóng vai đối với kết quả nhớ có chủ định của trẻ mẫu giáo [14].
Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều nhà giáo
dục học, tâm lý học, sinh lý học… nghiên cứu vấn đề tri nhớ hình tượng và
phát triển tri nhớ hình tượng cho trẻ em. Tuy nhiên chưa có nhiều công trình
nghiên cứu về sự phối hợp hoạt động vẽ và xếp dán tranh như là một phương
tiện, công cụ để phát triển tri nhớ hình tượng cho trẻ. Trong khi đó, việc phát
triển tri nhớ hình tượng cho trẻ ở độ tuổi này là rất cần thiết. Vì vậy, chúng tôi
mạnh dạn nghiên cứu một số biện pháp phối hợp hoạt động vẽ và xếp dán
tranh để phát triển tri nhớ hình tượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi với hy vọng
làm phong phú thêm cơ sở lý luận, nâng cao hiệu quả giáo dục tri tuệ cho trẻ.

13


1.2. Khái quát chung về trí nhớ và sự phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo 56 tuổi
1.2.1. Khái quát chung về trí nhớ
1.2.1.1. Định nghĩa trí nhớ
Để hiểu một cách đầy đủ về tri nhớ hình tượng của trẻ em, cần xem xet
trước hết một số định nghĩa về tri nhớ. Những năm gần đây tri nhớ được
nghiên cứu trên nhiều bình diện như tâm lý học, sinh lý học thần kinh cấp
cao, dưới góc độ văn học nghệ thuật… Mỗi bình diện, các nhà nghiên cứu
nhìn nhận tri nhớ từ một góc độ khác nhau. Cụ thể:
Nhìn nhận từ góc độ tri nhớ là một quá trình có định nghĩa của một số
tác giả sau:
Tác giả Vũ Dũng cho rằng, tri nhớ là quá trình sắp xếp, lưu giữ kinh
nghiệm quá khứ để có thể sử dụng nó trong hoạt động hoặc đưa nó vào phạm
vi ý thức. [12]

động hay suy nghĩ trước đây.
1.2.1.2. Cơ sở sinh lí của trí nhớ
Theo tài liệu của TS.BS Bùi Đức Luận [39], cơ sở sinh li của tri nhớ
bao gồm: Nơron thần kinh, Hypocampus và các kho lưu giữ nhớ.
* Nơron thần kinh:
Bộ não có 100 tỷ nơron thần kinh, và giữa chúng có 100.000 mạch liên
lạc. Khi nhận được thông tin, nơron này truyền sang nơron kế cận và cứ thế
tiếp diễn cho đến khi nào trung tâm não bộ nhận được đủ thông tin và đưa ra
phương án giải quyết. Lúc mới ra đời, trẻ đã có đủ số lượng nơron cao nhất
của đời mình. Sau đó, đứa trẻ lớn lên học tập, tiếp thu thông tin và lưu vào
kho nhớ các loại tin hiệu của đời sống mà không cần tạo ra nơron mới. Nơron
nào hưng phấn thì xinap tồn tại, số lượng còn lại không dùng đến thì thái hóa.
* Hypocampus (thùy hải mã):

15


Hypocampus hay thùy hải mã là bộ phận chủ chốt, đóng vai trò quan
trọng đến tri nhớ trong não bộ. Nếu vì lý do nào đó thùy hải mã bị tổn thương,
ta chỉ có thể nhớ được những gì xảy ra trong quá khứ, chứ không thể nhớ
những gì xảy ra ở hiện tại. Người ta cho rằng, thùy hải mã đóng vai trò quyết
định trong việc lưu giữ các sự việc để biến chúng thành ký ức.
Thùy hải mã là một tập hợp các tế bào đặc biệt nằm ngay ở bên trong
cuống não, trải dài qua tiểu não, bên dưới vỏ não, có hình dáng giống con cá
ngựa nên có tên gọi là thùy hải mã (hypocampus). Thùy hải mã là một bộ phận
của não bộ, có chức năng giải quyết các loại bộ nhớ cho não. Có ba loại bộ nhớ
bên trong não đó là: bộ nhớ thường xuyên, bộ nhớ gần và bộ nhớ xa.
* Các kho lưu giữ nhớ:
Việc nghiên cứu các kho lưu giữ nhớ vẫn còn đang tiếp tục. Song các
nhà nghiên cứu đã phát hiện có it nhất 6 bộ phận sau đây lưu giữ tri nhớ. Đó

tâm li khác. Lý thuyết liên tưởng cho rằng các sự vật hiện tượng có liên quan
chặt chẽ với nhau trong không gian – thời gian, sự nhớ lại một sự vật hiện
tượng nào đó thường dẫn đến nhớ lại các sự vật, hiện tượng khác. Theo quan
điểm này sự xuất hiện của một hình ảnh tâm li trong vỏ não bao giờ cũng diễn
ra đồng thời (hoặc kế tiếp nhau sau một thời gian ngắn) với một hiện tượng
tâm li khác theo quy luật liên tưởng.
Như vậy những nhà liên tưởng mới chỉ dừng lại ở sự mô tả những điều
kiện bên ngoài của sự xuất hiện những ấn tượng đồng thời, sự đa dạng của
những điều kiện đấy được họ chia thành bốn phạm trù: sự liên tưởng gần nhau
không gian – thời gian; sự liên tưởng tương tự; sự liên tưởng đối lập và sự
liên tưởng lôgic. Trong tâm li học, sự mô tả này là hoàn toàn cần thiết. Song
các nhà liên tưởng luận đã phạm sai lầm khi giải thich đó là những mối liên
hệ nhân quả. Không phải bao giờ cái gì xảy ra trước cũng là nguyên nhân của
cái xẩy ra sau, còn cái xẩy ra sau là kết quả của cái xẩy ra trước như người ta
17


vẫn tưởng lầm. Tóm lại, thuyết liên tưởng chưa vạch ra được các cơ chế, giai
đoạn hình thành liên tưởng. Thuyết liên tưởng cũng chưa đánh giá đúng mức
vai trò của chủ thể trong sự hình thành liên tưởng.
- Tâm lý học cấu trúc với các đại diện tiêu biểu là M.Vecthaimơ,
V.Côlơ, C.Cốpca. Theo lý thuyết này, mỗi sự vật hiện tượng đều có một cấu
trúc thống nhất, chỉnh thể, khu biệt. Nhờ chúng mà ta nhận biết chinh xác sự
vật này hay hiện tượng khác. Khi ta tri giác, các cấu trúc trọn vẹn, các chỉnh
thể này để lại các hình ảnh, biểu tượng (các dấu vết) đầy đủ của các sự vật
hiện tượng. Vi dụ, khi trẻ quan sát mẹ, cô giáo, bạn bè… trẻ hình dung đầy đủ
các bộ phận như đầu tóc, chân tay, thân mình… Có thể hình vẽ của trẻ không
đầy đủ nhưng nhờ các chi tiết đã có mà trẻ hình dung (gợi nhớ) được những
chi tiết khác.
Như vậy, thuyết liên tưởng đi từ bộ phận đến toàn thể, còn lý thuyết

tri nhớ đã được các nhà nghiên cứu khẳng định: nó cần thiết cho sự tồn tại và
phát triển của mỗi cá nhân cũng như nhân loại.
* Trí nhớ cần thiết cho sư phát triển của mỗi cá nhân:
Tri nhớ là quá trình tâm lý có liên quan chặt chẽ với toàn bộ đời sống
tâm lý con người. Có thể nói, tri nhớ là điều kiện cho việc tiếp thu và tich lũy
kinh nghiệm của cá nhân trong mọi lĩnh vực của cuộc sống như giao tiếp, học
tập, lao động.
Nhờ có tri nhớ, con người nhận biết được mình là ai, nhận biết được
người thân và mọi người xung quanh. Đồng thời, tri nhớ giúp con người tiếp
thu được các kinh nghiệm, văn hóa ứng xử trong giao tiếp giữa con người với
con người trong gia đình, xã hội.
Trong lĩnh vực nhận thức, tri nhớ giúp cá nhân tiếp thu và lưu giữ
những tri thức khoa học trong nhà trường, ngoài xã hội. Bởi nhờ có tri nhớ,

19


các kết quả của quá trình nhận thức được lưu giữ lại. Do đó con người có thể
học tập và phát triển tri tuệ của mình.
Bên cạnh đó, tri nhớ cũng rất cần thiết cho hoạt động lao động của mỗi
cá nhân. Con người, dù lao động bằng tri óc, chân tay đều cần đến tri nhớ.
Nhờ có tri nhớ, các họa sĩ mới vẽ lên được những bức tranh về phong cảnh
đẹp đẽ của Tổ quốc, các ca sĩ mới có thể ca hát ca ngợi tình yêu và tuổi xuân,
người công nhân mới có thể sử dụng máy móc khai thác mỏ quặng, người
nông dân mới có thể trồng cấy đúng mùa vụ, học sinh nhớ được chữ, tiếp
nhận kiến thức, các nhà khoa học mới có thể phát minh, cải tiến, sáng tạo nên
những kì tich…
* Trí nhớ cần thiết cho sư tồn tại và phát triển của nhân loại:
Đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại, tri nhớ đóng vai trò đặc
biệt quan trọng.

gìn (củng cố vết), quá trình tái hiện (từ những dấu vết làm sống lại những
hình ảnh…), và quá trình quên (không tái hiện được). Mỗi quá trình này có
một chức năng xác định, nhưng chúng không đối lập với nhau, mà chúng phụ
thuộc vào nhau (ghi nhớ, giữ gìn tốt thì mới tái hiện tốt), thâm nhập vào nhau,
chuyển hóa cho nhau (khi tái hiện đồng thời có tác dụng củng cố). Không chỉ
có nhớ (tái hiện được trong tình huống cụ thể) mà ngay cả quên cũng tham gia
vào hoạt động của cá nhân. Bởi vì, muốn tiến hành một hành động nào đó thì
cá nhân phải có khả năng quên đi những cái không có liên quan tới hành động
lúc này. Hơn nữa quên không có nghĩa là “mất sạch” một cách tuyệt đối.
Trong tâm lý học quên một cái gì đó chỉ có nghĩa là trong thời điểm hiện tại
nó không được xuất hiện lại trong ý thức. Quên có liên quan đến mỗi quá
trình tâm lý, do đó nó liên quan với tất cả các quá trình tri nhớ.
1.2.3. Sự phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
1.2.3.1. Các loại trí nhớ ở tuổi mầm non
21


Đối với trẻ em các nhà tâm lý cũng đưa ra nhiều cách phân loại tri nhớ.
Tác giả A.A. Liublinxkaia và tác giả A.V.Daparogiet phân loại tri nhớ của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi bao gồm: tri nhớ vận động, tri nhớ hình tượng, tri nhớ từ
ngữ - lôgic. Tuy nhiên để hiểu rõ về tri nhớ hình tượng ở độ tuổi này, chúng
tôi sắp xếp phân tich tri nhớ hình tượng của trẻ sau cùng. Sau đây là một vài
net về sự phát triển của từng loại tri nhớ trong từng độ tuổi.
* Trí nhớ vận động
Tri nhớ vận động phản ánh những cử động của cơ thể. Đứa trẻ nhớ lại
những vận động mà mình đã thực hiện trước đây. Trẻ có thể không hành động
nhưng vẫn có biểu tượng về hành động, vận động đó.
Tri nhớ vận động đóng vai trò lớn trong sự phát triển của trẻ mẫu giáo.
Những kĩ xảo được hình thành trên cơ sở của tri nhớ này.
Tri nhớ vận động xuất hiện sớm nhất trong cuộc sống của đứa trẻ. Các

chung, của trẻ mầm non nói riêng.
Giai đoạn đầu của tri nhớ từ ngữ - có ý nghĩa, là trí nhớ từ (tri nhớ về
một đơn vị nhỏ nhất để đặt câu, có thể trẻ nhớ từ nhưng chưa hiểu nghĩa của
từ) được phát triển khi trẻ được 6 tháng. Trẻ nhớ một vài âm thanh phối hợp,
sau đó là từ ngữ có liên quan với sự vật, người và hành động nhất định. Khi
bước vào năm thứ hai trẻ hiểu được những câu lệnh yêu cầu trẻ thực hiện
những công việc đơn giản như “sai mang thìa” hay “hãy đặt búp bê xuống”.
Trẻ đã sử dụng tri nhớ ngôn ngữ, mặc dù không hiểu ý nghĩa của mỗi từ riêng
lẻ chứa đựng trong câu lệnh ngắn đó. Việc sử dụng ngôn ngữ nói đã đưa đến
sự thay đổi quan trọng trong quá trình nhận thức đặc biệt khi có từ khái quát.
Và việc dùng ngôn ngữ nói dẫn đến phát triển nhanh tri nhớ có ý nghĩa, nhớ
cả cụm từ, nhớ câu. Lúc đầu trẻ trả lời rập khuôn những câu hỏi, mệnh lệnh
23


mà người lớn thường lặp lại vi dụ như “cháu tên gì?”, “Thanh Tú là con bố
nào nhỉ?”… Do đó, không ngạc nhiên khi ở tuổi này trẻ dễ dàng ghi nhớ
những câu đùa, lời nói tế nhị, tinh tế, các bài hát ngắn, bài thơ đơn giản.
Cuối độ tuổi mẫu giáo (trẻ 5-6 tuổi), trẻ đã nắm được các từ khái niệm,
từ mang tinh khái quát bằng việc tich lũy các biểu tượng chung về một nhóm
các sự vật giống nhau. Vi dụ, khi hỏi trẻ: con có nhớ là con mèo như thế nào
không? Trẻ trả lời: mèo có đôi mắt tròn, bộ lông mượt và có cái đuôi dài. Nó
bắt chuột, sống trong nhà, thich ăn cá… Có thể thấy, dựa vào biểu tượng đã
có được, hình thành ở trẻ hình ảnh một con mèo nói chung. Như vậy, bên
cạnh tri nhớ hình tượng đang phát triển mạnh, tri nhớ từ ngữ - ý nghĩa đã bắt
đầu hình thành.
Sự phát triển tri nhớ ý nghĩa – từ ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay
đổi quá trình tưởng tượng của trẻ mẫu giáo lớn.
* Trí nhớ hình tượng
Để làm rõ khái nhiệm tri nhớ hình tượng của trẻ em, trước tiên chúng ta

trước đây tạo nên nội dung chủ yếu của tri nhớ ở trẻ mẫu giáo. Đó là những
biểu tượng đầu tiên về những người xung quanh và hành động của họ, về sự
vật và tập quán, về hoa quả, cây cối, thú dữ và chim muông, về không gian và
thời gian. [37]
Tác giả A.V.Daparogiet, tri nhớ hình tượng của trẻ em là những biểu tượng
cụ thể, trực quan về những sự vật và hiện tượng đã tri giác trước đây. [9]
Từ các định nghĩa và cách hiểu về tri nhớ, tri nhớ hình tượng và tri nhớ
hình tượng của trẻ em, có thể hiểu trí nhớ hình tượng của trẻ mẫu giáo là sư
ghi nhớ, giữ gìn và tái hiện những biểu tượng hay những hình ảnh của những
sư vật mà trẻ đã lĩnh hội trước đây.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status