TÁC ĐỘNG của rào cản PHI THUẾ QUAN TRONG ASEAN + 3 đến THƯƠNG mại HÀNG dệt MAY VIỆT NAM - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

TRẦN THỊ THU HƯỜNG

TÁC ĐỘNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN
TRONG ASEAN + 3 ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG
DỆT MAY VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội - 2015
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

TRẦN THỊ THU HƯỜNG

TÁC ĐỘNG CỦA RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN
TRONG ASEAN + 3 ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG
DỆT MAY VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN ANH THU


Trần Thị Thu Hường

4


MỤC LỤC

5


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số Chữ
thứ tắt
tự

viết
Tên đầy đủ

Nghĩa tiếng Việt

ASEAN
Economic Cộng đồng kinh tế
Community
ASEAN
ASEAN-China Free Trade Khu vực Mậu dịch tự do
Area
ASEAN – Trung Quốc
ASEAN-Korea Free Trade Khu vực Mậu dịch tự do
Area

AEC

2

ACFTA

3

AKFTA

4

AJCEP

5

ASEAN

6

BRICS

7

FDI

8

JIS


PECC

Pacific
Economic Hội đồng hợp tác kinh tế
Cooperation Conference
Thái Bình Dương

13

SPS

Sanitary and Phytosanitary Biện pháp kiểm dịch động
Measure
thực vật

14

TBT

Technical Barriers to Trade

Rào cản kỹ thuật đối với
thương mại

15

USD

United States Dollars


Hình

1

Hình 1.1

Các rào cản phi thuế quan đối với hàng dệt may

18

2

Hình 2.1

Sơ đồ khung phân tích

21

3

Hình 3.1

Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

33

4

Hình 3.2


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số
thứ
tự

Bảng

1

Bảng 3.1

Định mức hóa chất cho phép đối với hàng dệt may tại
Nhật Bản

30

2

Bảng 4.1

Các mục tiêu cụ thể của ngành dệt may Việt Nam

57

Nội dung

9

Trang


10


về an toàn, sức khỏe, chất lượng sản phẩm và các vấn đề môi trường và xã
hội; quy định về giấy phép, thủ tục hải quan, hàng rào kỹ thuật trong thương
mại, vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ, hay các quy định chuyên ngành về điệu
kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông, phân phối các sản phẩm...
Việc tham gia hợp tác khu vực ASEAN +3 mang lại nhiều triển vọng cho kinh
tế Việt Nam, trong đó hàng dệt may được đánh giá là được mở ra một cơ hội
rất lớn. Cùng với việc cắt giảm thuế trong khu vực, những yêu cầu khắt khe
hơn về nguyên liệu, sản phẩm cũng khiến các doanh nghiệp sản xuất dệt may
của Việt Nam phải quan tâm. Do đó, cần có một cái nhìn tổng thể về các rào
cản phi thuế quan trong hội nhập ASEAN +3 nói chung, và đối với hàng dệt
may nói riêng, để thấy được tác động của những rào cản này đến xuất nhập
khẩu dệt may ở Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tác động
của rào cản phi thuế quan trong hợp tác ASEAN + 3 đến thương mại
hàng dệt may Việt Nam” được cho là cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Nội dung luận văn nhằm phân tích những rào cản phi thuế quan trong
ASEAN + 3 nói chung và đối với hàng dệt may nói riêng. Đồng thời đánh giá
tác động của những rào cản phi thuế quan này đến thương mại hàng dệt may
Việt Nam.
Bài luận văn có nhiệm vụ làm rõ những tác động của các rào cản phi thuế
quan trong ASEAN + 3 đến thương mại hàng dệt may Việt Nam. Từ đó đưa
định hướng cho ngành dệt may và một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trong khu vực, cũng như trong
hợp tác quốc tế.
3. Câu hỏi nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài luận văn sẽ tập trung trả lời cho những câu hỏi sau:
11

12

12


Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
1.1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu và rộng như
hiện nay, không chỉ riêng Việt Nam mà tất cả các quốc gia trong khu vực, trên
thế giới đều quan tâm đến vấn đề này. Trong thời gian gần đây, hội nhập kinh
tế ASEAN là vấn đề đang được các nước trong khu vưc hết sức quan tâm, thể
hiện bằng việc các quốc gia ASEAN tích cực triển khai các hoạt động chuẩn
bị thành lập AEC vào cuối năm 2015 (Hà Văn Hội, 2013). Rất nhiều rào cản
thuế quan được loại bỏ, khiến những rào cản phi thuế quan sẽ trở thành những
rào cản chính đối với thương mại.
Rào cản phi thuế quan rất phức tạp và nhiều loại nên rất khó để đưa ra một
định nghĩa rõ ràng và chặt chẽ. Về mặt lý thuyết, rào cản phi thuế quan là các
rào cản ngoài thuế làm ảnh hưởng đến lưu chuyển hàng hóa quốc tế, nhằm
hạn chế nhập khẩu thông qua việc phân biệt hàng nước ngoài và hàng nội địa
(Đào Thị Thu Giang, 2008). Cũng theo tác giả, “rào cản phi thuế quan là rào
cản không dùng thuế quan mà dử dụng các quy định pháp lý (thông qua các
biện pháp hành chính) và các quy định kỹ thuật (dưới hình thức các tiêu
chuẩn kỹ thuật đối với sản phầm và quy trình sản xuất, vận chuyển) để phân
biệt đối xử chống lại sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ hàng hóa
và người tiêu dùng trong nước”. Nghiên cứu của hội đồng hợp tác kinh tế
Thái Bình Dương (PECC) chỉ ra rằng các rào cản phi thuế quan là mọi công
cụ phi thuế quan can thiệp vào thương mại, bằng cách này làm biến dạng sản

Xuân Thiên, 2011) được chia thành 2 loại: các rào cản phi thuế quan có định
lượng và các hàng rào phi thuế quan không định lượng. Cụ thể, các rào cản
phi thuế quan có định lượng bao gồm hạn chế định lượng, trợ cấp xuất khẩu,
hạn chế xuất khẩu tự nguyện, và cacten quốc tế. Các rào cản phi thuế quan
không định lượng bao gồm các điều khoản thu mua của chính phủ, các biện
pháp quản lý giá, các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp, hàng rào kỹ
thuật đối với thương mại, các thủ tục đánh giá sự phù hợp, kiểm dịch động vật

14

14


và thực vật, các thủ tục hành chính và các chính sách nội địa bổ sung ảnh
hưởng đến thương mại.
Trong cuốn Cạnh tranh trong thương mại quốc tế của nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, hệ thống hàng rào phi thuế quan được chia thành 5 nhóm: Nhóm 1
gồm những việc chính phủ thường tham gia để hạn chế thương mai, nhóm 2
gồm các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải quan
thực hiện, nhóm 3 gồm hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thương mại,
nhóm 4 gồm những hạn chế đặc thù (hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu, quy chế
về giá trong nước), nhóm 5 gồm lệ phí nhập khẩu, thuế điều tiết nhập khẩu,
hạn chế cho vay có tính chất phân việt đối xử.
Trong luận văn thạc sĩ “Pháp luật của tổ chưc thương mại thế giới (WTO) về
hàng rào thương mại phi thuế quan” (Lương Thị Thu Nga, 2008), tác giả đưa
ra nhiều khía cạnh khác nhau để phân loại các rào cản phi thuế quan. Thứ
nhất, nêu phân loại theo WTO – vòng đàm phán về các vấn đề nông nghiệp
(NAMA), rào cản phi thuế quan được chia thành các loại sau: sự tham gia của
chính phủ vào hoạt động thương mại; thủ tục nhập khẩu hành chính và thủ tục
hải quan; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; các biện pháp kiểm dịch và

đến chi phí, tác động đến mức giá của sản phẩm trên thị trường nhập khẩu, và
tác động tới lượng sản phẩm tiêu thụ và lượng hàng nhập khẩu tại thị trường.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng đây chỉ là những ảnh hưởng diễn ra trong ngắn
hạn. Trong dài hạn, tác động của các rào cản phi thuế quan khó dự đoán hơn,
các doanh nghiệp xuất khẩu có thể áp dụng cải tiến kỹ thuật, giảm chi phí và
giá thành, khi đó giá bán sẽ giảm xuống và lượng hàng tiêu thụ có thể tăng.
Trong một bối cảnh khác, những can thiệp của chính phủ các nước xuất khẩu
có thể làm cho hàng rào kỹ thuật bị dỡ bỏ hay giảm xuống.
Ở châu Á, rào cản xuất khẩu của yếu được áp dụng với hàng may mặc, dệt
may. Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng đặc trưng của các rào cản này là quy
định về kỹ thuật và dán nhãn mác (Chaturvedi & Nagpal, 2003). Theo bài
nghiên cứu của OECD (2005), những yêu cầu về dán nhãn mác, tiêu chuẩn kỹ
thuật, các biện pháp chống bán phá giá và luật lao động dành cho trẻ em là
những rào cản chủ yếu đối với xuất khẩu hàng dệt may từ Ấn Độ. Tương tự
16

16


như vậy, ở Trung Quốc, việc các nước lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản áp
dụng rào cản kỹ thuật đối với hàng dệt may đã làm ảnh hưởng đáng kể đến
xuất khẩu hàng dệt may nước này (Ningchang Jiang, 2008). Tác giả phân biệt
rõ 5 loại rào cản kỹ thuật, đồng thời nêu lên những yêu cầu kỹ thuật cụ thể
của từng nước đối với hàng dệt may của Trung Quốc, từ đó phân tích tác động
của các rào cản này đến xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc. Xét về dài
hạn, những rào cản kỹ thuật có tác động tích cực đến ngành dệt may của
Trung Quốc, nó giúp cải tiến công nghệ, điều chỉnh cấu trúc sản xuất của
ngành, giúp hoàn thiện sản xuất trong nước do có sự cạnh tranh giữa các nhà
sản xuất được cấp giấy phép tiêu chuẩn hoạt động. Tuy nhiên, dễ dàng nhận
thấy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc bị giảm 7,4 tỷ USD,

hiệu MID (mã số của nhà sản xuất). Tác giả đưa ra một số giải pháp và kiến
nghị nhằm giúp Việt Nam vượt qua các rào cản trong xuất khẩu hàng dệt may
Việt Nam vào Hoa Kỳ. Không chỉ chính phủ Mỹ mà hầu hết các nước nhập
khẩu sản phẩm dệt may đều đưa ra những rào cản kỹ thuật đối với ngành dệt
may Việt Nam (Hà Văn Hội, 2012). Ví dụ, Nhật Bản quy định các sản phẩm
phải có chứng chỉ sạch và thân thiện với môi trường. Những yêu cầu về tiếp
cận thị trường liên quan tới xã hội, môi trường và chất lượng đang ngày càng
quan trọng trong thương mại quốc tế và thường được các nhà nhập khẩu EU
quy định dưới dạng nhãn hiệu, quy tắc hành xử và hệ thống quản lý.
1.2.

Cơ sở lý luận

1.2.1. Một số lý luận cơ bản về hàng rào phi thuế quan

1.2.1.1. Khái niệm chung về hàng rào phi thuế quan
Để hội nhập vào kinh tế thế giới và giao thương giữa các nước, giữa các khối
thương mại tự do, hay giữa các khu vực, các doanh nghiệp phải vượt qua
nhiều rào cản lớn, được chia thành 2 loại là hàng rào thuế quan và hàng rào
phi thuế quan. Hiện nay, các rào cản thuế quan ngày càng giảm đi do mức độ
tự do hóa thương mại ngày càng cao. Các quốc gia đều duy trì hàng rào phi
thế quan nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
18

18


Hàng rào thương mại phi thuế quan (NTB) được nhiều nhà khoa học và hoạch
định chính sách thương mại khai thác và nghiên cứu ở các góc độ khác nhau.
Vì các loại rào cản này rất đa dạng, lại thay đổi tùy theo mức độ hội nhập


1.2.1.2. Phân loại các hàng rào phi thuế quan
Như đã trình bày ở trên, có rất nhiều các phân loại hàng rào phi thuế quan, vì
chúng rất đa dạng và phức tạp. Bài luận văn tập trung phân tích theo cách
phân loại theo Giáo trình Thương mại quốc tế, nhà xuất bản Đại học Quốc gia
hà nội (Nguyễn Xuân Thiên, 2011).
Theo tác giả, hàng rào phi thuế quan được chia thành 2 loại chính, các hàng
rào phi thuế quan có định lượng và các hàng rào phi thuế quan không có định
lượng. Cụ thể như sau:
a. Hàng rào phi thuế quan có định lượng
Có 4 loại hàng rào phi thuế quan có định lượng, bao gồm: Hạn chế định
lượng, trợ xấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện, và cacten quốc tế.
• Hạn chế định lượng: “Hạn chế định lượng chính là các hạn chế hoặc
hạn ngạch về định lượng cho một sản phẩm hoặc một hàng hóa cụ thể
có thể nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một giai đoạn nào đó thường là
một năm. Chúng được tính bằng khối lượng, nhưng đôi khi bằng giá
trị”. Để thực hiện các rào cản này, các quốc gia áp dụng các biện pháp
cụ thể như: cấm xuất khẩu, nhập khẩu, đưa ra hạn ngạch xuất khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, hoặc hạn ngạch thuế quan.
Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế
lớn nhất đối với thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế có
nhiều trường hợp cấm nhập khẩu như cấm hoàn toàn, cấm tạm thời,
cấm theo mùa, cấm sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập
khẩu… Các quốc gia thi hành những biện pháp này nhằm bảo vệ an
ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ con người, động vật và
thực vật, bảo vệ các tài nguyên thiện nhiên khan hiếm, hay áp dụng tạm
thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lượng thực, thực phẩm hay
các sản phẩm thiết yếu khác (Trịnh Minh Anh, 2007).
Hạn ngạch xuất khẩu là các hạn chế và giới hạn trần do nước xuất khẩu
áp đặt cho tổng giá trị hoặc tổng khối lượng của một số sản phẩm nhất

tăng sẽ đẩy mức giá thị trường thế giới xuống, làm giảm tỷ lệ mậu dịch
của nước đó (giá xuất khẩu so với giá nhập khẩu). Ngược lại, tỷ lệ mậu
dịch của các nước nhập khẩu sẽ cải thiện. Nhìn chung, phúc lợi sẽ giảm
do trợ cấp bóp méo việc phân bổ tối ưu các nguồn lực mặc dù các luôn
thương mại gia tăng. Trợ cấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới phúc lợi của
21

21


nước xuất khẩu do khoản mất không và tổn thất phân bổ của tỷ lệ mậu
dịch. Tỷ lệ mậu dịch có thể coi là một lợi ích cho nước nhập khẩu dưới
hình thức là lợi ích thu được của tỷ lệ mậu dịch, và khoản mất không là
khoảng mất mát ròng của 2 bên. Hậu quả của trợ cấp xuất khẩu là sự
phân phối không đồng đều cho cả quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu.
Đối với nước nhập khẩu, người tiêu dùng hoặc người mua sản phẩm
nhập khẩu nói chung sẽ được hưởng lợi nhờ giá thành thấp hơn nhờ có
trợ cấp, nhưng nhà sản xuất hàng nhập khẩu cạnh tranh bị mất mát. Với
các nước xuất khẩu, nhà sản xuất rõ ràng là hưởng lợi từ trợ cấp, trong
khi người tiêu dùng trong nước bị tổn hại vì họ sẽ phải trả giá cao hơn


cho các sản phẩm được trợ cấp.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện: là một hiệp định tự nguyện giữa các nhà
cung ứng nước ngoài với chính phủ nước chủ nhà để hạn chế số lượng
xuất khẩu một mặt hàng nào đó vào nước này. Đây là một loại hình hạn
ngạch nhập khẩu tự nguyện, mặc dù là không có giấy phép nên chính
phủ không có nguồn thu. Chính các công ty xuất khẩu có lợi nhờ giá
cao hơn. Việc thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện xuất phát từ sự
xem xét xu hướng chính trị. Một quốc gia nhập khẩu, đã từng ủng hộ

các nước láng giềng thì có thể coi nước đó đang áp dụng các biện pháp
hạn chế nhập khẩu. Các công ty nước ngoài có thể nhận ra việc sản
xuất một sản phẩm phục vụ cho một thị trường là rất tốn kém.Hiệp định
về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO phân biệt 3 loại

-

biện pháp kỹ thuật sau:
Quy chuẩn kỹ thuật: là những yêu cầu kỹ thuật có giá trị áp dụng bắt

-

buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ
Tiêu chuẩn kỹ thuật là các yêu cầu kỹ thuật được một tổ chức công

-

nhận nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc.
Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hóa với các quy định/



tiêu chuẩn kỹ thuật.
Kiểm dịch động vật và thực vật (SPS) là hiệp định về các biện pháp vệ
sinh dịch tễ của WTO bao gồm các biện pháp nhằm bảo vệ cuộc sống,
sức khỏe của con người và động vật. Hiệp định nhằm phòng tránh
những rủi ro về vệ sinh của hàng hóa có thể phát sinh từ các chất phụ
gia, các chất gây độc tố, và chất có hại đối với cơ thể con người có
trong các loại lương thực, thực phẩm và đồ uống. Ngoài ra còn có các
quy định khác liên quan đến sản phẩm như thủ tục về đóng gói sản

năng cạnh tranh cao. Mặc dù quy định về gia bán tối đa trong nước
thiếu tính ràng buộc nhưng vấn đề này thường được các thành viên đặt



ra với các nước đang gia nhập.
Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhà nước có
thể gây trở ngại lớn đối với thương mại quốc tế, vì được nhà nước ban
cho những đặc quyền nhất định. Các thành viên phải cam kết các hoạt
động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp thương mại nhà nước phải phù
hợp với các nguyên tắc chung về đối xử không phân biệt với các doanh
nghiệp tư nhân và phải tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa chỉ
dựa trên tiêu chí thương mại, chẳng hạn như giá cả, chất lượng, tiếp thị,
vận tải…; đồng thời phải dành cho các doanh nghiệp của các thành
24

24


viên khác có những cơ hội thích hợp tham gia cạnh tranh trong việc
mua bán hàng hóa phù hợp với thông lệ kinh doanh chung.
Quyền thương mại/ quyền kinh doanh là quyền dành cho một số công
ty nhất định được tiến hành hành động xuất nhập khẩu ở các nước, đặc
biệt là các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoặc các nước
đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Quyền thương mại có thể
chỉ giới hạn ở việc xuất khẩu một mặt hàng nhất định hoặc kinh doanh
các loại mặt hàng nào đó. Các công ty không nhất thiết phải là công ty
nhà nước mới được hưởng quyền thương mại. Nếu các công ty có
quyền kinh doanh là công ty nhà nước thì vấn đề này lại trở thành vấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status