Chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng mã (nghiên cứu trường hợp một số hộ gia đình ở thôn yên cốc, xã hồng phong, huyện chương mỹ, thành phố hà nội) (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
................................................................

NGUYỄN VĂN PHẢI

CHUỖI CUNG ỨNG VÀ TIÊU THỤ HÀNG MÃ
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP MỘT SỐ HỘ GIA ĐÌNH Ở
THÔN YÊN CỐC, XÃ HỒNG PHONG, HUYỆN CHƢƠNG
MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
................................................................

NGUYỄN VĂN PHẢI

CHUỖI CUNG ỨNG VÀ TIÊU THỤ HÀNG MÃ
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP MỘT SỐ HỘ GIA ĐÌNH Ở
THÔN YÊN CỐC, XÃ HỒNG PHONG, HUYỆN CHƢƠNG
MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Nhân học

Mã số: 60 31 03 02

tại địa bàn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, người thân đã
luôn động viên, ủng hộ và sát cánh bên tôi trong mọi khó khăn.
Cuối cùng, dù đã cố gắng theo đuổi hướng nghiên cứu và nỗ lực thực
hiện hết sức mình, song do kiến thức và thời gian có hạn nên luận văn chắc
chắn vẫn còn nhiều thiếu sót cần phải khắc phục. Rất mong nhận được sự
góp ý và nhận xét của các thầy cô, anh chi, bạn bè.
Xin trân trọng cảm ơn tất cả.
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2016
Học viên

Nguyễn Văn Phải


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 3
3. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ............................................... 5
6. Kết cấu của luận văn ................................................................................. 5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
THUYẾT, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ....................................................... 7
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ..................................................................... 7
1.2. Cở sở lý thuyết ..................................................................................... 10

Ki lô mét

M

Mét

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

PGS.TS

Phó giáo sư, tiến sĩ

Tr.

Trang

TS

Tiến sĩ


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Các loại nguyên liệu để tạo thành một con ngựa loại to (đại) .... 34
Bảng 2.2. Các loại nguyên liệu để tạo thành một con ngựa loại nhỏ (tiểu) ...... 36

dưới các hình thức như cúng, đốt/ hóa, rải cho thế giới bên kia.
Ở Việt Nam, tập tục này cho đến nay vẫn tồn tại trong văn hóa của người
Việt cũng như nhiều tộc người thiểu số anh em đang cùng sinh sống. Riêng
đối với người Việt, tập tục này dường như được thực hiện và biến đổi mạnh
mẽ hơn. Trong vài thập niên gần đây, nhất là sau những năm đổi mới, Việt
Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội
cũng như trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng, đặc biệt là sự hồi sinh của các
hình thức tín ngưỡng dân gian. Trong xu thế đó, tập tục sử dụng hàng mã
cũng có những thay đổi. Bên cạnh những yếu tố truyền thống, tập tục này đã
được khoác lên một diện mạo mới, biến tướng đi nhiều. Ngày nay, người ta
sử dụng hàng mã không chỉ ở trong các nghi lễ cầu cúng tại gia đình mà còn
trong các sinh hoạt tôn giáo ở đền, phủ, chùa, người người nhà nhà đều sử
dụng. Việc cung ứng, tiêu thụ hàng mã không chỉ ở trong nước mà đã xuất

1


khẩu ra nước ngoài. Số lượng, loại hình và mẫu mã hàng mã cũng đa dạng và
nhiều hơn. Đặc biệt là những ảnh hưởng, hệ lụy mà nó mang lại đối với kinh
tế xã hội, văn hóa, chính trị hiện nay. Ước tính, “số giấy làm vàng mã 50.000
tấn/năm tương đương 200 tỷ đồng. Việc đốt vàng mã tiêu tốn khoảng 1.000
tỉ/đồng năm” [52, tr.16]. Chính vì vậy, hàng mã không chỉ trở thành một vấn
đề nóng của xã hội được phản ánh nhiều trên các phương tiện thông tin đại
chúng, một vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý, chính sách pháp luật nhà
nước, mà còn là một chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Hiện nay có hai luồng quan điểm chính về vấn đề này. Luồng quan điểm thứ
nhất cho rằng, việc sử dụng hàng mã là lãng phí, một hủ tục cần phải loại bỏ.
Trong khi đó, luồng quan điểm thứ hai cho rằng, nó là một nét tín ngưỡng thể
hiện những giá trị nhân văn của người đang sống đối với người đã khuất, đối
với thần thánh nên hạn chế và đưa nó về bản chất ban đầu vốn có của nó, chứ

2.2. Nhiệm vụ
Luận văn tập trung làm rõ 2 vấn đề: (1) mô tả quy trình chuỗi cung ứng
và tiêu thụ hàng mã (2) và lý giải bối cảnh xã hội đã tác động đến quy trình
chuỗi cung ứng và tiêu thụ của người làm hàng mã cũng như nhu cầu của
hàng mã trong xã hội hiện nay, đặc biệt là những ẩn ý thực tiễn đằng sau hiện
tượng này.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Một số câu hỏi quan trọng được luận văn đặt ra là:
1. Quy trình chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng mã tại thôn Yên Cốc, xã
Hồng Phong, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội nói riêng, một số làng
quê ở đồng bằng sông Hồng nói chung hiện nay đang diễn ra như thế nào?
2. Quy trình chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng mã đang diễn ra trong bối
cảnh nào? Từ góc độ chủ thể văn hóa, những đánh giá về vai trò, nhu cầu và
thái độ đối với hàng mã trong xã hội hiện nay như thế nào?

3


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy trình chuỗi cung ứng và tiêu
thụ hàng mã ở một làng. Trong đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu những đối
tượng liên quan trực tiếp đến hàng mã: người sản xuất, người trung gian
(người bán lẻ, người bán buôn, thầy cúng, ông/bà đồng), người tiêu dùng và
chính bản thân hàng mã.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Vì đề tài nghiên cứu theo quy trình chuỗi cung ứng
và tiêu thụ nên phạm vi nghiên cứu khá rộng. Trong đó, chúng tôi nghiên cứu
tập trung vào 2 địa điểm.
Thứ nhất là tại 2 gia đình (cô Hồng và chú Hoàng1) làm hàng mã ở thôn

cứu các tài liệu thành văn có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Phương pháp điền dã dân tộc học: Tại địa bàn nghiên cứu, tác giả không
chỉ quan sát tham gia, mà còn trực tiếp cùng đối tượng nghiên cứu đi nhập
nguyên liệu, cùng làm hàng mã, cùng đi đổ buôn và cùng bán hàng. Thông
qua đó, tôi phỏng vấn các đối tượng trong chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng
mã, từ người cung ứng nguyên liệu, người sản xuất, đối tượng trung gian
(thầy cúng, cô đồng, người buôn...), đến người tiêu dùng cuối cùng. Bên cạnh
đó, các tài liệu thành văn như các báo cáo tổng kết kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội... tại địa bàn nghiên cứu cũng được tôi chú trọng thu thập.
Phương pháp điều tra xã hội học: Tôi sử dụng một bảng hỏi thiết kế sẵn,
với 50 câu hỏi. Nội dung bảng hỏi tập trung thu thập các thông tin như: niềm
tin vào đối tượng thờ cúng, các loại hàng mã sử dụng, tình hình sử dụng hàng
mã... tại địa bàn nghiên cứu. Mỗi bảng hỏi được tôi trực tiếp phỏng vấn bán
cấu trúc hoặc phỏng vấn sâu với đối tượng nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:

5


Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, địa bàn
nghiên cứu.
Chương 2: Quy trình chuỗi cung ứng và tiêu thụ hàng mã
Chương 3: Hàng mã trong đời sống tâm linh của người Việt hiện nay.

6


CHƢƠNG 1

Nguyễn Kim Hiền (2008) có bài vàng mã cho người sống, chuyển hóa
tâm linh trong một xã hội mở. Trên cơ sở phân tích thực trạng việc đi vay tiền
mã (tiền âm) tại đền bà chúa Kho (Bắc Ninh) trong bối cảnh nền kinh tế mở
cửa, tác giả nhận định, sự hình thành tín ngưỡng này cho thấy sự phát triển
của bộ phận kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những bộ phận
kinh tế quốc doanh, vốn của Nhà nước nhiều nơi tỏ ra kém hiệu quả, thua lỗ,
cũng như khu vực kinh doanh nhỏ bấp bênh, chưa có sự bảo hộ bằng pháp
luật rõ ràng từ phía Nhà nước. Do vậy, họ có những chiến lược phát triển kinh
tế riêng, kết hợp với những chuyến đi lễ xin lộc, vay tiền một cách tượng
trưng ở đền bà chúa Kho [23, tr. 26].
Sền Thị Hiền (2009) chọn đề tài Hàng mã cho những linh hồn: quá trình
suy tàn của nghề làm tranh và sự hồi sinh của nghề làm hàng mã ở làng Đông
Hồ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học. Trong công trình này, tác giả tiếp
cận hàng mã như một nghề thủ công, trong đó tập trung phân tích quá trình
suy tàn của nghề làm tranh và sự hồi sinh của nghề làm hàng mã trong bối
cảnh tác động của nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, tác giả cũng giới thiệu
quá trình thu mua, quá trình phân phối, quá trình sử dụng và quan niệm của
người sản xuất và người tiêu dùng hàng mã.
Bên cạnh những hướng tiếp cận trên, vấn đề hàng mã cũng được phản
ánh trên các tạp chí, các bài báo. Tạp chí Đuốc Tuệ - cơ quan ngôn luận của
Hội Phật giáo Bắc Kỳ là một trong những tạp chí có nhiều bài viết liên quan
đến hàng mã, nhất là trong giai đoạn 1934-1954. Samôn Trí Hải (1937 và
1938) có bài “Bàn về sự đốt mã”, Vũ Tự Tiệp (1938) có bài “Bàn thêm về sự
đốt mã”, Phạm Văn Phụng (1938) có bài “Câu chuyện vàng mã”, Mẫn Trai
(1938) có bài “Một việc cải cách lớn đã thực hành ở chi hội Phật giáo Hải
Dương – Việc bỏ vàng mã ngày rầm thàng bảy”, Nhàn Vân Đình (Trần Duy
Vôn) (1939) có bài “Đồ Mã”,... Gần đây, trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo

8



Phần tổng quan nêu trên cho thấy, vấn đề hàng mã đã được quan tâm
nghiên cứu ở những mức độ và những góc độ khác nhau. Những nghiên cứu
này rất có ích cho luận văn của tôi. Tuy nhiên, tiếp cận chuỗi cung ứng và tiêu
thụ hàng mã, cũng như lý giải về vai trò, nhu cầu và sự tồn tại của hàng mã từ
góc nhìn chủ thể văn hóa trong xã hội Việt Nam từ sau đổi mới đến nay còn
chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều. Chính vì vậy, công trình này sẽ cố
gắng giải quyết các vấn đề đó, để có cái nhìn sâu sắc hơn và toàn diện hơn về
hàng mã trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay.
1.2. Cở sở lý thuyết
1.2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản được dùng trong luận văn
+ Hàng mã
- Khái niệm hàng mã (vàng mã)
Trong nghiên cứu này, khái niệm “hàng mã” được hiểu là những đồ vật
(quần áo, tiền bạc, gia súc, đồ dùng trong đời sống thường ngày của con người)
làm bằng giấy và các vật liệu dễ cháy khác để đốt (còn gọi là hóa) sau khi cúng
cho người chết để sử dụng dưới Âm phủ [27, tr.839].
- Phân loại hàng mã
Hiện nay, có quan điểm cho rằng, tồn tại hai quan niệm: đồ mã và đồ vàng
mã. Trong đó, đồ mã là khái niệm chỉ chung những đồ làm bằng giấy và có thể
đốt đi được. Liên quan đến quan niệm, muốn người âm nhận được thì đồ lễ phải
được đốt (hóa) sau khi dâng cúng, vì thế, đồ mã không thể làm bằng vật liệu khác.
Còn vàng mã là những thỏi vàng bạc hay tiền Địa phủ (in giống như tiền thật).
Theo Sền Thị Hiền, người sản xuất hàng mã ở làng Đông Hồ (tỉnh Bắc
Ninh) quan niệm có 4 loại hàng mã: đồ gõ (mũ, mặt lai, ấm chén...), đồ gò
(quần áo, hình nhân, xe máy, tàu bay, nhà lầu...), đồ đan phất (ngựa, voi...), đồ
in (tiền giấy, nhãn mác, trạnh dán trên mã của lễ lên đồng,...) [25, tr.60].

10




từ đâu và khi nào nguyên liệu được mua và cung cấp cho việc sản xuất; (2)
Sản xuất: chuyển đổi các nguyên liệu này thành sản phẩm cuối; (3) Phân phối
và tiêu thụ: đảm bảo các sản phẩm cuối được đến tay khách hàng cuối cùng
thông qua mạng lưới phân phối.
1.2.2. Cơ sở lý thuyết
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng lý thuyết chức năng của Bronislaw
Malinowski (1884 -1942). Lý thuyết này nhấn mạnh đến chức năng tâm sinh lý
của lễ nghi và những phong tục khác. Trong một thí dụ nổi tiếng về đời sống
người Trobriand trên một hòn đảo ở Thái Bình Dương, Malinowski nhận thấy,
khi đánh cá ở trong đầm không gặp nguy hiểm, người Trobriand không tiến hành
lễ nghi phù phép. Họ chỉ dựa vào kiến thức và tay nghề của chính họ. Tuy nhiên,
khi ra biển đánh cá, độ rủi ro tăng cao và kết quả cũng bấp bênh hơn những ngư
phủ Trobriand thường làm lễ nghi phù phép để trấn an chính mình về mặt tâm lí,
mong được an toàn và đánh bắt được mẻ cá to. Do đó, Malinowski đã đưa ra
một giả thuyết rằng: môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì con
người lại càng cần đến lễ nghi phù phép [26, tr.238].
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu bối cảnh của Việt Nam hiện nay,
bên cạnh những lợi ích rõ rệt đem lại thì nền kinh tế thị trường cũng tạo ra một
môi trường đầy những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống của rất nhiều người.
Trong bối cảnh đó, một trong những cách vượt qua những khó khăn, nhiều
người đã và đang tìm đến sự giúp đỡ nhiều hơn của những thế lực siêu nhiên ở
thế giới bên kia như tổ tiên, thần thánh. Mà một trong những cách để con người
có thể “tiếp xúc” và cầu mong sự giúp đỡ từ phía thế lực siêu nhiên ở thế giới
bên kia, đó là thông qua hàng mã. Nói cách khác, hàng mã là một vật trung gian
giữa thế giới trần gian và thế giới bên kia. Hàng mã là một chỉ báo giúp chúng ta
hiểu hơn diễn biến đời sống tôn giáo, cũng như đời sống xã hội Việt Nam từ sau
đổi mới đến nay.



13


thành tỉnh Hà Sơn Bình). Năm 1991 thuộc xã Hồng Phong, huyện Chương Mỹ, tỉnh
Hà Tây (sau khi tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành tỉnh Hà Tây và tỉnh Hòa Bình). Năm
2008, thuộc xã Hồng Phong, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (theo Nghị quyết
15/2008/QH12 của Quốc hội về điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội
và các tỉnh) [49, tr.1-2].
Kinh tế của xã Hồng Phong được thể hiện chủ yếu trên các lĩnh vực nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ trọng giữa
các lĩnh vực kinh tế của thôn Yên Cốc không đồng đều, nông nghiệp chiếm tỷ
lệ lớn, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ có tăng nhưng ở quy mô
chưa lớn. Thu nhập bình quân đầu người đạt 26 triệu đồng/ năm (2014).
Thôn Yên Cốc hiện có diện tích đất canh tác nông nghiệp lớn nhất xã
Hồng Phong, với tổng diện tích là 52.958 m2. Trong một năm, người dân ở
đây gieo trồng hai vụ lúa chính là vụ xuân và vụ mùa. Ngoài ra, còn có thêm
vụ đông, chủ yếu là gieo trồng cây đậu tương. Bên cạnh đó, người dân trong
vùng còn tích cực phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hợp tác xã nông
nghiệp được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động, mạnh rạn đưa cơ giới hóa vào
sản xuất, hoạt động kinh doanh dịch vụ trong khu vực nông nghiệp.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp hiện có ở thôn Yên Cốc chủ yếu là thêu
ren, mây tre đan, mộc, móc sợi, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải công nông, chế
biến nông sản thực phẩm [9].
Theo trưởng thôn Yên Cốc, hiện nay, thôn Yên Cốc có 316 hộ, với 1418 nhân
khẩu, chia thành 7 xóm: xóm Cả, xóm Quán, xóm Cổng, xóm Kếp, xóm Trại, xóm
Sông, xóm Mới. Trong thôn có 7 dòng họ: Đào, Phạm, Nguyễn dương, Nguyễn bình,
Nguyễn lã, Nguyễn bá, Trần, trong đó, họ Phạm là dòng họ lớn nhất trong thôn. Các
dòng họ ở thôn Yên Cốc đều có nhà thờ họ, đặc biệt, các dòng họ đều có Quỹ khuyến
học, Quỹ khuyến tài (Nguyễn Văn Bình, 60 tuổi, trưởng thôn Yên Cốc, phỏng vấn

đình có truyền thống làm hàng mã, vừa là mục đích kinh tế. Cô Hồng chia sẻ “Cô đến
với hàng mã từ thuở nhỏ. Ông nội của cô làm nghề thầy cúng, nhưng không làm mã.

15


Bố cô tiếp nối nghề thầy cúng và làm mã. Mẹ cô đi chợ bán hàng mã. Thời đó, đa số
các mặt hàng đều làm thủ công, vàng thì trẻ nan, cắt giấy quấn, các loại hoa thì được
đột từ một cái hoa sắt làm mẫu, các xương thì tự đan...Trong gia đình ai cũng làm,
còn thuê cả người làm. Cô là con gái út nên được chiều (chuộng) nhưng sau khi đi
học về vẫn bị bắt phải làm hàng mã. Cô ghét lắm, chán lắm, chẳng buồn làm nhưng
vẫn phải làm hàng mã. Đến năm 17 tuổi (năm 1992), cô lấy chồng ở cùng làng. Số
cô vất vả lắm, làm đủ nghề, khi mới về nhà chồng thỉnh thoảng cũng làm thuê (hàng
mã) cho nhà ông. Sau đó, cô chuyển sang đi thêu tay, sau lại thêu máy, làm nghề mây
tre đan, làm bánh ở La Phù, đi thu mua đồng nát. Về sau, ông bà (bố mẹ đẻ của cô)
bảo quay về làm hàng mã, cô lại lên làm thuê ở đó. Sau đó, (năm 2004) thấy nhiều
người mua hàng mã, cô quyết định thuê một mảnh đất ở làng, vừa làm thuê cho bên
ông, vừa bán ở làng, vừa đi chợ. Được khoảng một năm (năm 2005) thì được một
đưa em con nhà ông cậu lấy chồng ở trên đây (xã Hữu Văn) bảo ở trên này người ta
“sùng” lắm. Cô lên bán thử (hàng mã) ở chợ Chiều, xã Hữu Văn được vài ngày
nhưng cũng không có mấy người mua, vì chưa quen khách và bán ở vỉa hè, nghĩ
cũng thấy chán. Nhưng cô cố gắng bám trụ bán thêm được hai, ba tháng thì lại thấy
bán được. Từ cuối 2005 đến nay, cô quen được nhiều khách nên bán cũng được
nhiều hơn” (Trần Thị Hồng, 41 tuổi, thôn Yên Cốc, xã Hồng Phong, phỏng vấn ngày
2/3/2016).
Thái độ của các thành viên trong gia đình cô Hồng và chính quyền xã Hồng
Phong về vấn đề sản xuất và buôn bán hàng mã cũng có phần thuận lợi.“Bên chồng
cô cũng thoáng lắm. Cô cứ làm gì thì làm. Chú đi làm ở công ty công cụ và cơ khí
Nhà nước ở Hà Nội, lương cũng ít. Khi Nhà nước chuyển công ty lên Bắc Giang thì
chú nghỉ hẳn. Cô bảo chú ở nhà cùng làm hàng mã. Ban đầu, chú và mẹ chồng cô

khá cao là những yếu tố chính để các gia đình thôn Yên Cốc đầu tư mở rộng sản xuất
và kinh doanh hàng mã. Trong đó, mỗi gia đình lựa chọn cho mình những chiến lược
sản xuất và kinh doanh khác nhau.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status