Tiểu luận quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo ở xã thái hòa,huyện bình giang,tỉnh hải dương - Pdf 42

I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn
đề phân biệt giầu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối
với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh
hiện đại. Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng
đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của
một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn
đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về
khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia
mình, dân tộc mình giầu có. Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng
phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng
đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung
đột.
Trong nền kinh tế thị trường, Quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn
quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng
lớp dân cư trong quốc gia. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với
người giầu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn
cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói,
nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới.
Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên
nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt
với một thực trạng nhức nhối nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở
nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển. Ở Việt Nam từ khi có


đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều
tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm
là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hoá giầu nghèo,
hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giầu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng
nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ

thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở địa phương nơi mình đang sinh sống để
từ đấy có cái nhìn tổng quát về quá trình thực hiện chính sách này ở cấp cao hơn và
các địa phương khác đặc biệt là những vùng đặc biệt khăn.Và từ thực tiễn công tác
thực hiện chính sách giảm nghèo đó cũng giúp chún ta có cái nhìn và hành động
tích cực nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác xóa đói giảm nghèo ở các địa phương
còn khó khăn.
Trên cơ sở phương pháp phân tích,đánh giá tình hình thực tiễn cùng với sự
chỉ đạo sát sao của Đảng về vấn đề này bài luận của em tập trung làm sáng tỏ
những vấn đề sau:
-Cơ sở lý luận cho việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo.
-Thực tiễn hành động vấn đề thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở địa
phương.


II.PHẦN NỘI DUNG
Trong phạm vi nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách ở địa phương,với
quy mô nhỏ nên bài luận của em gồm có 2 chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công và chính sách giảm nghèo ở
xã Thái Hòa.
Chương 2:Thực trạng về quy trình thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa phương.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG
VÀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO Ở XÃ THÁI HÒA
1.1. Một số vấn đề thực hiện chính sách công
1.1.1. Khái niệm thực hiện chính sách công
Thực hiện chính sách công là giai đoạn chính trong quy trình chính sách,giai
đoạn các chính sách đi vào cuộc sống.Các chính sách được hoạch định xuất phát từ
yêu cần của cuộc sống,từ nhu cầu của xã hội và của nhân dân.thực hiện chính sách
là quá trình giải quyết những nhu cầu đó,đem lại những biến đổi trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội,nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.Đó là chuỗi các hành động

quá trình triển khai chính sách sẽ giúp đánh giá lại các mặt của quyết định chính
sách và quyết định nó sau này.;3)sự vận động của chính sách từ khâu lý thuyết
sang triển khai sẽ giúp đánh giá lại và xây dựng lại chính sách.Trên thực tế,giai


đoạn thực hiện chính sách được coi là giai đoạn tổng hợp của quy trình chính
sách.Nó bao gồm cả công việc thuộc về hoạch định và đánh giá chính sách.
Tóm lại,thực hiện chính sách là việc tiếp nối và chịu sự ảnh hưởng của giai
đoạn hoạch định chính sách,song không hoàn toàn lệ thuộc vào kết quả công tác
vào kết quả của công tác hoạch định mà có vị trí riêng và có ý nghĩa quyết định tới
toàn bộ quy trình chính sách.
1.2. Một số vấn đề lý luận liên quan đến chính sách giảm nghèo ở xã
1.2.1. Lý luận về nghèo và chính sách giảm nghèo
Nghèo đói là yếu tố cốt lõi của chính sách giảm nghèo.vì thế để hiểu được
chính sách giảm nghèo là như thế nào thì trước hết chúng ta cần hiểu được định
nghĩa về đói nghèo nói chung.
Theo cách tiếp cận hẹp
Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm
dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư
khác.
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất
tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương
đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở
những quốc gia giầu nhất. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu
nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất,
nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tương đối. Nhưng
thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện
nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và
lo lắng về từng bữa ăn.


chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ,
như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện
tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có
các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế nhà nước được cải
thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch
cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình trạng đe
dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng.
Việt Nam đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói
nghèo khu vực Châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái
Lan tháng 9/1993: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán
của địa phương.
Do vậy, từ năm 1993 đến cuối năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã bốn lần
nâng mức chuẩn nghèo. Ngày 27/9/2001 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
143/2001/QĐ-TTg trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và
giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu
người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng
(960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng
những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng
(1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ
có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000
đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8
tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010


thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực
thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới

nghèo. Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực
phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả
mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất .
+ ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương
thực thục phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lương thực trong rổ
lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ gạo và 25% kcalo có được từ các
hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511000
đồng/người/năm.
- Quan điểm của tổng cục thống kê Việtnam
+ Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việtnam được xác định bằng
mức thu nhập tính theo thời gía vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực
phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người. Những người có
mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo.
-Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội


+Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là bộ
tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản
của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.
+Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu
thu thập về hộ gia đình như sau :
+ Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng quy ra gạo
được 13 kg.
+ Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng:Vùng nông thôn, miền núi
hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo; Vùng nông thôn đồng bằng trung
du dưới 20 kg gạo; Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.
Từ việc phân tích cá cơ sở của việc xác định nghèo ở trên chúng ta có thể
tổng hợp lại khái niệm về chính sách giảm nghèo như sau: Chính sách xoá đói
giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà

nghèo ở các cấp cơ sở như sau:
Xoá đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả
và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp
người nghèo đói.
Quan điểm này dựa trên lô-gic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu quả
người nghèo đói thì Nhà nước phải có đủ nguồn lực vật chất trong tay, bởi vì chính


bản thân nhà nước là chủ thể có đầy đủ các khả năng điều hoà thu nhập giữa các
nhóm dân cư. Hơn nữa, các nguồn lực vật chất để thực hiện sự điều hoà thu nhập
ấy lại chỉ có thể có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững.
Thực tế cho thấy, nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài chính để mở
rộng các dự án, các chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho hàng ngàn xã khó
khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, trên cơ sở đó những người nghèo ở
những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát nghèo đói. Nhìn chung,
ở đâu kinh tế phát triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế đa dạng, việc làm đầy đủ,
thì ở đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giầu tăng lên và bộ mặt xã hội của
cộng đồng thay đổi nhanh chóng.
Xoá đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã hội, mà
trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận động tự giác
của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo.
Xóa đói giảm nghèo phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo,
cộng đồng nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là
điều kiện cần cho sự thành công của mục tiêu chống đói nghèo ở các nước.
Nhà nước sẽ trợ giúp người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo
khi gặp rủi ro. Bên cạnh sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc tạo việc làm cho
người nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển
kinh tế theo điều kiện cụ thể của họ chính là điều kiện xoá đói giảm nghèo thành
công nhanh và bền vững.
Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo bằng các



Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 754/QĐ-TTg ngày
18/06/2007 về việc thành lập ban chỉ đạo của chính phủ thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 và chương trình phát triển kinh
tế xã hội ở các vùng đặc biệt khó khăn vùng đòng bào dân tộc và dân tộc thiểu
số.Thủ tướng ban hành chỉ thị số 04/2008/CT-TTg ngày 25/01/2008 về tiếp tục
thực hiện mục tiêu giảm nghèo (chỉ thị 04).
Dưới sự chỉ đạo của các ban ngành đoàn thể thì các chính sách được thể chế
hóa tại địa phương thông qua:
Liên bộ Tài chính,Bộ Lao động thương binh và xã hội đã ban hành thông tư
liên tịch số 102/2007/TTLT/BTC/BLDTBXH ngày 20/8/2007 hướng dẫn cơ chế
quản lý tài chính đói với một số dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm
nghèo.
Bộ lao động thuong binh và xã hội đã ban hành các quyết định số
1053/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 23/07/2007 về theo dõi,giám sát,đánh giá việc
thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010;Quyết
định số 23/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 05/10/2007 về hệ thống theo dõi chỉ tiêu
theo dõi,giám sát việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai
đoạn 2006-2010.
Ban hành thông tư số 27/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/11/2007 hướng dẫn
quy trình xác định đối tượng được vay vốn theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg
ngay 27/09/2007 của thủ tướng chính phủ về tín dụng đối với học sinh,sinh
viên;thông tư số 04/2007/TT-BLLĐTBXH ngày 28/02/2007 hướng dẫn quy trình
rà soát hộ nghèo hằng năm;thông tư số 25/2008/TT-BLĐTBXH ngày 21/10/2008
về việc hướng dẫn quy trình rà soát hộ cận nghèo;thông tư số 30/2008/TT-


BLĐTBXH ngày 09/12/2008 hướng dẫn quy trình kiểm tra,đánh giá định kì
Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo ở các cấp địa phương.

Từ những quan diểm chỉ đạo trên mà chương trình đã đề ra mục tiêu tổng
quát cho việc thực hiện chính sách giảm nghèo đó là: đẩy nhanh tốc độ giảm
nghèo,hạn chế tái nghèo;củng cố thành quả giảm nghèo,tạo cơ hội cho hộ đã thoát
nghèo vươn lên khá giả,cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất ở các xã
nghèo,đặc biệt khó khăn;nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm hộ nghèo,hạn
chế tốc độ gia tăng về khoảng cách giàu nghèo ,chênh lệch về thu nhập,mức sống
giữa thành thị và nông thôn,đồng bằng và miền núi,nhóm hộ giàu và hộ nghèo.
1.3. Tầm quan trọng của chính sách giảm nghèo trong sự phát triển và ổn
định xã hội ngày nay.
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm giải
quyết tình trạng nghèo nàn, lạc hậu cũng như sự chênh lệch mức sống giữa các
vùng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói giảm
nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân cũng như
trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một chủ trương chiến
lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội của Đảng.


Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng đặc
biệt của công tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải nhanh chóng đưa các hộ
nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm hòa nhập với sự phát triển chung
của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo trong 5 năm
1996 – 2000 cùng với 10 Chương trình kinh tế - xã hội khác.
Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu năm 1998, Chính phủ chính thức phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo (Chương trình 133)
cho giai đoạn 1998-2000. Tháng 7/1998, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung
Chương trình 135 -Chương trình hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã
miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Mục tiêu chính của Chương
trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đường giao
thông, trường học, trạm y tế....tại 1715 xã nghèo nói trên. Kết quả là đến năm 2000

nhất.Việc cấp đất cho họ sử dụng phải gắn cho họ quyền sử dụng đất để tránh
những trường hợp tranh chấp có thể xảy ra.Làm tốt được công tác ấy sẽ giúp
người dân yên tâm hưn trong lao động và sản xuất.Nó cũng tạo điều kiện cho cán
bộ thực hiện tốt cong tác kiểm tra,giám sát việc sử dụng đất của người dân đúng
mục đích,yêu cầu.


Bên cạnh nguồn lực đất đai thì yếu tố người lao đọng là yếu tố không thể
thiếu.Nguồn lao động hiện nay ở địa phương tương đối ổn định.Họ tích cực tham
gia vào lao động sản xuất và có những đóng góp không nhỏ vào quá trình phát
triển kinh tế xã hội của xã nói riêng và cả nước nói chung.
Nguồn lực vốn cũng có sự quyết định nhất định trong sự phát triển nói
chung.Có thể nói không có vốn sản xuất chúng ta khó có thể thực hiện được các
mục tiêu kinh tế -xã hội đề ra.Nó như một nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các
chủ trương đường lối,các chính sách mà nhà nước ban hành.Nếu như nguồn vốn
được đáp ứng đầy đủ và chi tiêu hợp lý thì sẽ tận dụng được tối đa các cơ hội phát
triển và ngược lại,nguồn vốn nghèo nàn và chi tiêu bất hợp lý thì sẽ dẫn tới những
hậu quả lớn,kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn lực vốn còn biểu hiện ở các phương tiện sản xuất chứ không đơn
thuần chỉ là các khoản đầu tư,hỗ trợ.Với xu thế ngày càng hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn thì các phương tiện được cung cấp cũng khá là hiện đại.Phương
tiện lao đọng hiện đại đã góp phần vào việc cải thiện tình hình sản xuất,nâng cao
được năng suất lao động,giải phóng sức lao động cho con người.Phương tiện lao
đọng hiện đại cũng đòi hỏi họ phải có những kỹ năng lao động nhất định.Tư duy
lao đọng cũng phải thay đổi theo hướng chuyên môn hóa,chuyên nghiệp hóa.
Bên cạnh nguồn lực trong nước thì chúng ta cũng cần tranh thủ sự đầu
tư,ủng hộ của các nguồn lực bên ngoài như sự đầu tư của nước ngoài vào địa bàn
xã mà điển hình là vốn đầu tư của các công ty nước ngoài vào việc thành lập các
xưởng sản xuất,các công ty nhỏ tại địa phương.Trong số đó tiêu biểu là công ty của
Đài Loan về sản xuất giày,rồi các công ty may vốn đầu tư của Nhật Bản và Hàn

sách giảm nghèo ở địa phương.Với hình thức này chúng ta có thể tổ chức những
buổi tiếp chuyện công dân,hoặc dưới dạng các hoạt động văn nghệ,văn hóa,giao
lưu để người dân hiểu và nắm rõ hơn quan điểm của đảng và nhà nước về vấn đề
này cũng như giúp người dân nhận thức rõ hơn quyền lợi của mình được hưởng từ
chính sách,đồng thời là nghĩa vụ,trách nhiệm của mình trong sự thành công và hiệu
quả của công tác.
Khi người dân đã nhận thức được vấn đề cần giải quyết thì ban chỉ đạo thực
hiện chương trình cần tổ chức thực hiện,kiểm tra,giám sát quá trình thực hiện và từ
đó ó những đánh giá về mặt ưu điểm,hạn chế của công tác thực hiện cũng như
những sai lầm yếu kém cần được khắc phục.
Trên cơ sở những hình thức được tiến hành thực hiện chính sách thì
phương tiện thực hiện cũng được chú ý hết sức.Các công cụ được sử dụng có thể
bao gồm các nhóm sau:
-

Nhóm công cụ kinh tế là các ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bẩy và
khuyến khích kinh tế như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm,
tỷ giá hối đoái...

-

Nhóm các công cụ hành chính tổ chức bao gồm các công cụ mô hình
các tổ chức, bộ máy và đọi ngũ cán bộ, công chức, các công cụ hành chính là các
kế hoạch của nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.

-

Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng,
hệ thống thông tin chuyên ngành, hệ thống giáo dục và đào tạo, hệ thống các tổ
chức tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể.

Với những thành tựu trên của thì bộ mặt của xã đã được thay đổi.Có được
những thay đổi lớn lao ấy là có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của cấp trên cùng với


sự cố gắng,nỗ lực của nhân dân xã nhà.Cần phát huy hơn nữa những ưu điểm này
trong tiến trình thực hiện các mục tiêu kinh tế tiếp theo.
2.4. Đánh giá thực trạng việc thực hiện
2.4.1. Những thành tựu đạt được của chính sách
Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bao gồm rất nhiều nội dung
được tiến hành đồng bộ.Nó bao gồm những chính sách như chính sách tín dụng ưu
đãi người nghèo,chính sách hỗ trợ đất cho người nghèo sản xuất,dự án khuyến
nông-lâm-ngư nghiệp và hỗ trợ phát triển sản xuất,phát triển ngành nghề,dự án
phát riển cơ sở hạ tầng,dự án dạy nghề cho người nghèo,dự án nhân rộng mô hình
giảm nghèo,chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo,chính sách hỗ trợ về giáo
dục cho người nghèo,chính sách hỗ trợ nhà ở và đất sinh hoạt,hỗ trợ về pháp lý cho
người nghèo,dự án nâng cao năng lực giảm nghèo…
Cụ thể các chương trình đó đã đượctriển khai ở xã Thái Hòa như sau:
Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, thuỷ lợi, giao thông
Thập kỷ cuối của thế kỷ XX, việc phát triển giao thông nông thôn được phát triển
trong toàn quốc, với phương châm nhà nước và nhân dân cừng làm đã huy động
được nhiều nguồn nhân lực, vật lực, tiền của, phát triển được trên 150.000 Km
đường bộ và 35.700 Km đường thuỷ.Chương trình đã được triển khai về các địa
phương tiến hành cụ thể.Hưởng ứng phong trào của cả nước,cùng với nguồn kinh
phí của cấp trên với sự đóng góp sức người,sức của của nhân dân địa phương thì hệ
thốn mương máng phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được bê tông hóa trên phạm vi
toàn xã.Hệ thống giao thông trong xã đã được đổ bê tông làm thay đổi đáng kể bộ
mặt của nông thôn và giúp người dân thuận lợi hơn trong quá trình sản xuất.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status