MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Trang
I. Phần mở đầu
2
II. Phần nội dung
5
1. Cơ sở lý luận
5
2. Thực trạng
5
3. Giải pháp – Biện pháp
9
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn
20
đề nghiên cứu
5. Thiết kế một giáo án dạy kỹ năng trong chương trình Tiếng
20
Anh 6 thí điểm
III. Phần kết luận – Kiến nghị
31
hứng trong việc thực hành giao tiếp của các em. Sách giáo khoa thí điểm đã giải
quyết được vấn đề đó. Sách được biên tập rất lôgic, các phần kết nối với nhau
rất chặt chẽ và khoa học.
Tuy nhiên, qua thực tế ở các trường THCS trong huyện Krông Ana nói
chung và trường THCS Buôn Trấp nói riêng, khi bắt đầu dạy và học môn Tiếng
Anh theo sách thí điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, không chỉ có học sinh mà
phần lớn giáo viên đều gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với giáo trình mới
này. Bản thân học sinh mặc dù đã học chương trình mới này ở cấp Tiểu học
nhưng đa số lại không đáp ứng được về mặt kiến thức cũng như các kỹ năng
Nghe, Nói, Đọc, Viết chưa đạt được yêu cầu cơ bản, thậm chí có rất nhiều học
sinh còn không nói được những câu Tiếng Anh đơn giản nhất.
Bên cạnh đó, bản thân nhiều giáo viên sau khi nghiên cứu Sách giáo khoa
mới còn chưa hiểu được mục đích, ý đồ của người viết sách; đó là chưa kể đến
một số giáo viên không đủ năng lực để giảng dạy theo chương trình mới này.
Trước tình hình đó, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh theo
chương trình mới, bản thân tôi đã băn khoăn, trăn trở rất nhiều làm sao để tự
học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như tìm ra những
2
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
2
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
phương pháp dạy học phù hợp để học sinh có thể nắm vững được lượng kiến
thức khổng lồ mà vẫn tự tin, thoải mái trong giao tiếp bằng Tiếng Anh. Để tháo
gỡ những khó khăn trên, trong quá trình vừa dạy học, vừa nghiên cứu tài liệu và
tìm hiểu quan sát học sinh, tôi phát hiện ra rằng muốn để học sinh nắm vững
được bài học thì bản thân giáo viên cần thiết kế bài học sao cho thật phù hợp với
toàn bộ lượng kiến thức có trong một đơn vị bài học cho học sinh. Hạn chế được
khó khăn trong việc soạn giảng. Và bản thân các em học sinh có thể dễ dàng lĩnh
hội và vận dụng kiến thức mà giáo viên truyền tải, đồng thời phát huy một cách
3
3
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
tích cực, chủ động, sáng tạo trong các tiết học, không cảm thấy nặng nề, quá tải.
Tôi đã nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các công việc cụ thể đã được thực hiện
hiệu quả minh chứng trong mỗi tiết dạy của mình.
3. Đối tượng nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là một số phương pháp và thủ thuật dạy học đối
với từng kĩ năng trong giáo trình thí điểm. Phương pháp lồng ghép những trò
chơi vui nhộn vào từng tiết học, tạo môi trường thực hành sôi nổi và không nặng
nề cho học sinh. Ngoài ra có những thủ thuật dạy từ vựng, dạy kĩ năng Nghe,
Nói, Đọc, Viết, và phần ngữ pháp...
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu học sinh lớp 6A4, và 6A5- học
sinh lớp 6 theo chương trình thí điểm trường THCS Buôn Trấp mà tôi đang trực
tiếp giảng dạy trong năm học 2016 – 2017
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát: Người thực hiện đề tài tự tìm tòi nghiên cứu, tiến
hành dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp.
Phương pháp trao đổi, thảo luận: Sau khi dự giờ của đồng nghiệp, đồng
nghiệp dự giờ người thực hiện đề tài, đồng nghiệp và người thực hiện đề tài tiến
hành trao đổi, thảo luận để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho tiết dạy.
trình này có hiệu quả thì các em phải xác định rõ ràng mục tiêu học tập, chuyên
cần cũng như tích cực trong các hoạt động mà giáo viên đề ra trong mỗi tiết học.
Bản thân người dạy cũng cần tìm nhiều cách để tổ chức các hoạt động phù hợp
và sinh động nhằm lôi cuốn các em tham gia tích cực vào những hoạt động do
mình đặt ra.
2. Thực trạng
Với giáo trình mới đang được các trường THCS thí điểm giảng dạy, hầu
hết giáo viên đều bỡ ngỡ và lúng túng trong việc giảng dạy, chưa tìm ra được
cách soạn giảng phù hợp giúp học sinh tiếp cận với bài học một cách hiệu quả
nhất. Học sinh thì khó khăn trong việc học giáo trình mới vì với lượng kiến thức
trong tiết học tương đối nhiều và yêu cầu đưa ra trong từng bài học là khá lớn,
do đó học sinh có biểu hiện lo sợ và chán nản với môn học. Chính vì vậy, đề tài
này đóng góp một số biện pháp để khắc phục những vấn đề đó.
2.1 Thành công – Hạn chế
a. Thành công:
* Về phía giáo viên:
5
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
5
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
Sau khi Lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức nhiều buổi tập
huấn, giáo viên cốt cán đã xây dựng được phân phối chương trình phù hợp với
giáo trình giảng dạy. Bản thân giáo viên phụ trách giảng dạy các lớp đề án là
những giáo viên giỏi có kinh nghiệm trong giảng dạy, đã biết sử dụng phương
pháp giảng dạy và kỹ năng dạy học từng dạng tiết học cho giáo viên.
Sau đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo còn thành lập tổ tư vấn có nhiệm vụ
Một số học sinh đã hình thành kỹ năng trong học tập đối với bộ môn này.
6
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
6
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
Phần lớn học sinh nói được những câu đơn giản, xác định được mục tiêu
học tập, tích cực và mạnh dạn tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ
chức.
* Về cơ sở vật chất:
Lãnh đạo Nhà trường đã quan tâm đến các lớp học đề án, nên 100% lớp
học theo chương trình thí điểm được trang bị những phương tiện dạy học hiện
đại như: Smart TV, loa, máy vi tính, máy chiếu... Nên giáo viên được hỗ trợ đắc
lực, sử dụng những phương tiện dạy học tốt nhất.
b. Hạn chế:
* Về phía giáo viên:
Lần đầu tiên được tiếp cận với giáo trình mới nên đa số giáo viên còn bỡ
ngỡ, gặp nhiều khó khăn khi thiết kế bài giảng, chưa tìm được phương pháp, thủ
thuật phù hợp giúp đối tượng học sinh của mình tiếp cận với bài học một cách
hiệu quả.
Mặc dù trên lý thuyết giáo viên đã đạt trình độ B2, đủ khả năng chuyên
môn để tiếp cận và giảng dạy chương trình thí điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo
nhưng thực tế nhiều giáo viên không đáp ứng được yêu cầu mà đề án đưa ra.
Vẫn còn một số giáo viên gặp một số khó khăn nhất định trong việc thực
hiện các thao tác, kỹ thuật dạy học, chưa lựa chọn được các thủ thuật và phương
pháp dạy học mới phù hợp với từng tiết dạy, từng giai đoạn của tiết dạy.
* Về phía học sinh:
điểm thì không đáp ứng được yêu cầu cơ bản cần phải có. Do đó, học sinh có
xuất phát điểm thấp lại phải học chương trình thí điểm mới, nên lượng kiến thức
mà các em phải tiếp nhận là tương đối nhiều và khó so với các em.
Lớp học có số học sinh quá đông so với một lớp học ngôn ngữ tiêu chuẩn
nên việc theo sát và giúp đỡ từng em còn rất hạn chế. Hơn nữa, trình độ của học
sinh trong lớp (do không được thi tuyển) nên có sự chênh lệch khá lớn, gây khó
khăn cho giáo viên trong việc giảng dạy
* Về cơ sở vật chất:
Mặc dù đã được lắp đặt TV thông minh ở từng lớp học, nhưng vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu của giáo viên và học sinh, chưa có phòng chức năng cho
môn học
2.2 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng đã đề ra
a. Lý do khách quan:
Bộ môn Tiếng Anh chưa phát triển và có phần tụt hậu so với nhiều quốc gia
trên thế giới, trong đó tỉnh Đăk Lăk nói chung, huyện Krông Ana nói riêng lại có
kết quả thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Theo tôi lý do đầu tiên và
quan trọng nhất là do học sinh không có môi trường sử dụng ngôn ngữ mà các
em đã được học. Nhìn tổng quan các nước trên thế giới như Ấn Độ hay
Singapore, Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai chính thức được sử dụng trong đời
sống hằng ngày. Còn những nước như Trung Quốc, Thái Lan, hay Malaysia thì
ngành du lịch là một trong những thế mạnh của họ. Khi du lịch phát triển, ngôn
ngữ quốc tế cũng phát triển theo, do nhu cầu cần có để đáp ứng lại ngành nghề
đó; đồng thời môi trường giao tiếp cũng phong phú và cơ hội thực hành cũng
thường xuyên hơn. Không so sánh với những tỉnh hay thành phố lớn như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng..., trong cùng một khu vực nhưng học
sinh Lâm Đồng lại có thể giao tiếp bằng Tiếng Anh tốt hơn nhiều so với học sinh
Đăk Lăk nhờ lợi thế về du lịch và không bị ảnh hưởng nhiều về mặt chính trị
như ở Đăk Lăk
Lớp học môn Tiếng Anh chưa được tách riêng biệt phù hợp với đặc thù của
môn học, vẫn còn học đại trà chung với các môn học khác theo quy định chung
Việc hình thành thói quen học tập, thực hành, làm bài tập cũng như luyện
tập ở nhà cho các em là điều khó khăn lớn thứ hai. Vì ở bậc Tiểu học việc kiểm
tra đánh giá tương đối nhẹ nhàng, do đó thói quen tự học của các em hầu như
không có, chính vì vậy mà khi lên học ở bậc THCS thì trước nhiều yêu cầu của
giáo viên, học sinh thường bị hoang mang, đôi lúc có biểu hiện sợ môn học.
Tính tự giác khi tham gia các hoạt động của học sinh chưa cao, các em còn
ỷ lại vào thầy cô, chưa tích cực, chủ động hoạt động trong tiết học. Với lượng
kiến thức và bài tập có trong một tiết học là tương đối nhiều, các em thường có
tâm lý chán nản, mất tập trung.
3. Giải pháp – Biện pháp:
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Mục đích của việc dạy ngoại ngữ không những là cung cấp cho học sinh
kiến thức của ngôn ngữ đó mà mục đích cuối cùng của việc dạy ngoại ngữ nói
chung, và bộ môn Tiếng Anh nói riêng là giúp học sinh xây dựng nền tảng để
phát huy khả năng giao tiếp bằng Tiếng Anh. Khả năng giao tiếp của học sinh
thể hiện qua các kỹ năng: Nghe, Nói, Đọc, Viết. Kỹ năng nói Tiếng Anh của học
sinh được hình thành qua một quá trình học tập rèn luyện. Ngoài việc học tập ở
trường lớp, học sinh phải tự học tập rèn luyện nghe thông qua các hình thức và
9
9
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
các phương thức khác nhau. Nếu học sinh không nắm vững được những kiến
thức cơ bản cần thiết thì học sinh không thể nào vận dụng vào trong thực tiễn
được.
Với mục tiêu là nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn Tiếng Anh 6 theo
trường với nhau. Từ đó, để các em nhận thức được, giao tiếp là chìa khóa của
mọi thành công. Chỉ có giao tiếp tốt các em mới có cơ hội thể hiện bản thân với
bạn bè, với xã hội. Sau mỗi hoạt động như vậy, giáo viên cần đưa ra những nhận
10
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
10
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
xét chi tiết cụ thể, tuyên dương những bạn có tiến bộ cũng như phân tích cho các
em hiểu vì sao các em chưa thành công trong buổi sinh hoạt đó. Từ đó, các em
nhận ra được những tồn tại của mình để nỗ lực khắc phục. Nội dung hình thức
các hoạt động phải có sự thay đổi hoặc làm mới liên tục để ngày càng được
phong phú hơn như:
Đóng kịch
Nói chuyện theo chủ đề
Thảo luận
Trò chơi lớn: “Jingle The Golden Bell”, “Who is a millionaire?”,
“Vietnam’s got talence”...
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:
a. Các yếu tố cơ bản trực tiếp tác động đến hiệu quả dạy và học của một
tiết học theo chương trình thí điểm:
* Giáo viên:
phù hợp với một hình thức bài dạy cụ thể ( tiết Getting Started, tiết A closer look
1 ....)
Bên cạnh đó, giáo viên cần linh động hơn nữa, sử dụng các thủ thuật và
học hỏi thêm các phương pháp mới, nhằm rút ngắn lượng thời gian dạy của từng
phần cũng như nâng cao hiệu quả dạy của từng tiết học.
* Các phương tiện thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết học:
Việc sử dụng thiết bị tranh ảnh hỗ trợ cho dạy học đối với môn ngoại ngữ
nói chung và Tiếng Anh nói riêng được coi là một phương tiện không thể thiếu.
Hơn nữa, trong tất cả đơn vị bài học chương trình thí điểm thì như vậy chưa đủ.
Muốn thực hiện tốt các tiết học này, thiết bị dạy học còn là phương tiện tích cực
trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thúc đẩy động cơ và tạo hứng thú học
tập. Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng giúp giáo viên
giảng dạy, nhờ đó mang lại hiệu quả đích thực trong từng tiết học. Hơn thế nữa,
nếu không có sự hỗ trợ đó thì thậm chí giáo viên còn không thể hoàn thành bài
giảng của mình theo đúng tiến độ theo khung phân phối chương trình của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng. Do đó, để việc giảng dạy theo chương trình
đề án thành công thì các thiết bị, phương tiện dạy học không thể thiếu trong mỗi
tiết học là:
Tranh ảnh minh hoạ liên quan đến nội dung bài học trong sách Tiếng Anh thí
điểm
Các tranh ảnh đồ dùng giáo viên tự tạo....
Máy tính xách tay có kết nối Internet (để giáo viên dễ dàng truy cập mạng sử
dụng sách mềm), loa đài, máy chiếu....
* Học sinh:
Trong mối tương quan giữa cách dạy và cách học: Giáo viên là người tổ
chức, điều khiển học sinh tự chiếm lĩnh tri thức bằng chính những thao tác,
những hành động trí tuệ của riêng mình dưới vai trò tổ chức điều khiển của giáo
viên.
Để tiết dạy được tốt thì học sinh chính là nhân tố quyết định, nếu các em
giữ thái độ không hợp tác, hoặc các em nhút nhát không dám thể hiện ngôn ngữ
Ví dụ: Unit 3: My Friends – Lesson 2: A closer look 1 ở phần từ vựng có
từ “tail (n): cái đuôi”, tôi thường lấy tay mình làm đuôi và lúc lắc thật ngộ
nghĩnh và dùng giọng hài hước phát âm từ đó. Học sinh rất thích thú và bắt
chước theo, sau đó học sinh dễ dàng ghi nhớ từ vựng đó.
Trong phần học từ, nếu có thể dùng hành động minh họa thì sẽ tác động
mạnh vào khả năng ghi nhớ linh hoạt cho các em một cách nhẹ nhàng, không
gượng ép.
13
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
13
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
Ví dụ: Unit 2: My home – Lesson 1: Getting started ở phần ôn tập các
giới từ chỉ nơi chốn giáo viên có thể dùng hành động củng cố từ vựng cho học
sinh, giúp học sinh ghi nhớ tốt từ vựng hơn.
on
under
in
next to between behind in front of
Ngoài ra, giáo viên có thể cho học sinh xem những bài hát vui nhộn liên
quan đến những từ vựng hoặc cấu trúc mà các em sẽ học, từ kênh nghe nhìn này,
học sinh dễ dàng hơn trong việc ghi nhớ từ và sử dụng linh hoạt cấu trúc đó.
Ví dụ 1: Unit 3: My friends – Lesson 2: A closer look 1 ở phần Grammar
Giáo viên cần linh động thiết kế bài giảng phù hợp với kỹ năng nói, liên
hệ thực tế, lấy ví dụ và tạo dựng tình huống gần gũi với các em để các em dễ
dàng hơn trong việc giao tiếp
Ví dụ 1: Unit 4: My Neighbourhood – Lesson 3: A closer look 2, thay vì
bám sát yêu cầu của Sách giáo khoa, giáo viên giảng dạy có thể thay thế yêu cầu
của bài này. Các em có thể nói và viết về sự khác biệt giữa hai vùng Buôn Ma
Thuột và Buôn Trấp thay vì nói về hai địa danh xa lạ là Yen Binh và Long Son.
4. Look at the pictures of Yen Binh 4. Look at the pictures of Buon Ma
neighbourhood
and
Long
Son Thuot neighbourhood and Buon
15
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
15
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
neighbourhood. Now write about the Trap neighbourhood. Now write
differences.
about the differences.
Buon Ma Thuot
Buon Trap
Ví dụ 2: Unit 4: My Neighbourhood – Lesson 5: Skills 1, thay vì chỉ bám
sát yêu cầu của Sách giáo khoa, giáo viên giảng dạy còn nên thiết kế thêm để
hoặc nối âm nhiều.
Ví dụ: Unit 4: My Neighbourhood – Lesson 6: Skills 2 học sinh sẽ nghe
những âm lạ như từ Lê Duẩn, học sinh sẽ khó phát hiện ra. Do đó, giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh cách đoán ra từ đó dựa vào bản đồ trong sách giáo khoa.
17
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
17
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
* Một số trò chơi có thể lồng ghép vào bài dạy
Tất cả những trò chơi này các giáo viên dạy tiếng nước ngoài đều đã được
học ở trường sư phạm. Hoặc nếu không thì có thể tham khảo trong cuốn:
“Những trò chơi trong giờ học Tiếng Anh” của M. F STRONIN do Nguyễn
Văn Tâm dịch. (NXB Thanh niên - 1994). Ví dụ về cách tiến hành một số trò
chơi thông thường:
Trò chơi thứ nhất: Truyền tin
Lớp có 6 dãy bàn, giáo viên làm 6 phiếu trên mỗi phiếu ghi một câu. Sau
đó trao phiếu cho 1 học sinh đầu dãy. Học sinh này có nhiệm vụ nói thầm rồi nói
vào tai người kế bên điều mình đọc được. Cứ thế, người này nối tiếp người kia
nói vào tai nhau cho đến người cuối dãy. Người cuối dãy có nhiệm vụ nói lớn
câu hay đoạn mình nghe được, và học sinh đầu dãy sẽ xác định đúng hay không.
Trò chơi thứ hai: Tìm bạn giao tiếp
Giáo viên chuẩn bị một số câu hỏi và câu trả lời trên giấy, ghép câu trả lời
với câu hỏi bằng cách cho chúng những con số: thí dụ câu hỏi 1 tương ứng với
câu trả lời. Học sinh tự tìm câu trả lời bằng cách tìm ra bạn của mình tương ứng
với câu trả phù hợp, cặp nào nhận ra nhau đầu tiên sẽ thắng.
không thể thiếu được đó chính là trình độ của giáo viên trực tiếp đứng lớp, chỉ
có những giáo viên có kiến thức vững vàng và đạt tiêu chuẩn mới có thể tự tin
truyền đạt lượng kiến thức khổng lồ theo chương trình thí điểm.
Điều kiện thứ hai không thể không nhắc đến đó chính là phương tiện dạy
học hỗ trợ cho giáo viên trong mỗi tiết học, không có máy tính kết nối Internet
và máy chiếu thì giáo viên khó có thể hoàn thành được nội dung của bài học chứ
chưa nói đến hiệu quả của tiết dạy đó.
Điều kiện thứ ba là, lớp học cần có số lượng học sinh vừa phải để giáo
viên có thể quản lý, theo sát được hoạt động của từng học sinh để kịp thời uốn
nắn
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Bởi vì trong một tiết học môn Tiếng Anh, dù có dạy bất kỳ kỹ năng gì thì
các kỹ năng cũng không bao giờ tách biệt hoàn toàn, vì kỹ năng này ảnh hưởng
trực tiếp đến kỹ năng khác. Chính vì vậy mà giáo viên cần sử dụng linh hoạt các
kỹ thuật trong tiết dạy, phối hợp nhuần nhuyễn và mượt mà các phương pháp
với nhau sao cho tiết học thành công nhất.
Bản thân tôi đã nghiên cứu tài liệu, nên tôi nhận thấy rằng mỗi tiết học
trong sách Tiếng Anh 6 theo chương trình thí điểm có những yêu cầu khác nhau
mà giáo viên và học sinh cần đạt được. Tuy nhiên, tất cả các bài học đều chú
19
19
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
trọng việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh đặc biệt là kỹ năng nói. Tuy
nhiên việc giảng dạy một tiết học với lượng kiến thức lớn thì việc cho học sinh
thực hành là điều không tưởng. Do đó, việc luyện tập chỉ hời hợt, quá trình tái
cũng nên dần dần đưa những câu mệnh lệnh dễ hiểu vào trong bài học để các em
làm quen.
Cần nghiên cứu các hạn chế trong việc giảng dạy: thời gian, sĩ số lớp, đồ
dùng dạy học.... Vận dụng những phương tiện giảng dạy hiện đại như máy tính,
máy chiếu,... là những phương tiện dạy học không thể thiếu khi giảng dạy bộ
20
20
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
môn Tiếng Anh 6 theo chương trình thí điểm. Những phương tiện dạy học này
giúp giáo viên tốn ít thời gian và tăng tính sinh động của bài học giúp học sinh
hiểu được bài học dễ dàng hơn.
Sử dụng những phương pháp mới, phù hợp với từng bài học. Giáo viên
cần khuyến khích, động viên các em luyện tập thêm nhiều kĩ năng nói để các em
ngày càng mạnh dạn và tự tin khi giao tiếp bằng cách cộng điểm, tuyên dương
trước lớp...
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bước vào đầu năm học để nắm rõ tình hình, sức học, kĩ năng nói của học
sinh. Tôi làm một bước khảo sát đầu năm với các tình huống giao tiếp gợi ý như
sau:
* Giới thiệu, làm quen bạn mới.
* Hỏi về nơi bạn sống
* Giới thiệu những người trong gia đình.
* Hỏi về trường lớp, thầy cô, bạn bè.
* Hỏi về sở thích, thời gian, công việc hàng ngày.
* Hỏi về thời tiết, các mùa,....
Khá
SL
%
11.1 6
3
5
TB
SL %
16.7 7
15.2 5
Yếu
SL %
19.4 11
15.2 14
Kém
SL %
30.1 8
42.4 8
22.2
24.2
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
6A4
6A5
36
33
4
2
11.1 7
6.1 6
19.4 13
18.1 10
36.1 8
30.3 10
22.2 4
30.3 5
11.1
15.2
Trong quá trình giảng dạy tôi luôn tạo cơ hội để giúp các em thực hành kỹ
năng giao tiếp càng nhiều càng tốt và khuyến khích các em học Tiếng Anh từ
cuộc sống hằng ngày như xem các chương trình TV mà các em yêu thích bằng
answers
T: after Ss give their answers, T can
lead to the new lesson.
22
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
22
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
The new lesson:
T: introduce the new lesson
Ss: listen and write down into their
notebooks.
Activity 1:
T: guide Ss to understand the
Grammar Box in the textbook. Firstly,
T help Ss to know what “syllable”
means. Then,T guide Ss to distinguish
words including one, two, three or
more syllables by clapping once for
each syllable
Ss: practice excitedly
T: show the diferences between short
and long adjectives as well as special
adjectives.
As for each case, T give one example
Ss: listen and mark into the textbook.
Activity 5:
T: show two pictures and give some
adjectives to help disable Ss to
practice.
Ss: work in pairs and then perform
before the class.
T: ask Ss to write in papers
Ss: write
T: collect some Ss’writing to others
check up
Ss: give comments
T: ask Ss to write about 5 sentences in
their notebooks at home.
Ss: write down
24
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
24
Giáo viên: Phạm Thị Thúy
Activity 6:
T: give an example and ask Ss to do it.
Ss: answer
T: ask Ss how to make questions
depending on the example as well as
SKKN 2016-2017 THCS Buôn Trấp
Ngọc
25
Giáo viên: Phạm Thị Thúy