A. MỞ ĐẦU
Công tác phát triển đảng viên có vị trí vai trò rất quan trọng nhằm tăng
cường sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực đời
sống xã hội, góp phần trẻ hoá đội ngũ đảng viên và tạo nguồn cán bộ cho Đảng.
Đảng muốn mạnh phải không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ, lập
trưởng chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật cho đảng viên, tăng sự đoàn kết nhất trí
trong nội bộ Đảng, liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân, ngoài ra Đảng còn
phải luôn được bổ sung những phần tử tích cực, tiên tiến trong giai cấp công
nhân, nông dân và trí thức vào Đảng. Phát triển là nhằm tăng thêm nguôn sinh
lực mới cho Đảng, trẻ hoá đội ngũ đảng viên, đảm bảo sự kế thừa và phát triển về
lực lượng cũng như đường lối chính trị trong cuộc đấu tranh cách mạng. Chính vì
vậy, trong hơn 58 năm qua, Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào luôn chú
trọng đến công tác phát triển đảng viên, coi đây là một việc làm có tính quy luật
và có ý nghĩa chiến lược.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ mục tiêu của
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đòi hỏi Đảng NDCM Lào phải không
ngừng đổi mới và tự hoàn thiện về mọi mặt để Đảng ngày càng vững mạnh đáp
ứng yêu cầu của thời đại. Đảng viên là nhân tố tạo thành Đảng, chất lượng đảng
viên quyết định sự tồn tại của Đảng, Đảng chỉ mạnh khi có một đội ngũ đảng
viên đông đảo về số và đảm bảo về chất lượng. Trong một tổ chức đảng nếu có
một đội ngũ đảng viên có phẩm chất đạo đức trong sáng, có trí tuệ, có năng lực
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị thì các tổ chức đó mạnh.
Trong thời kỳ phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới,
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công tác phts triển
đảng viên có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất lượng đổi ngũ đảg viên
của Đảng. Đảng phải đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong tất cả các ngành,
các cấp, các linh vực, ở các thành phần kinh tế, các dân tộc, các giới, các miền
1
Năm 1845, trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác - Ăngghen đã nêu
quan niệm chung nhất về người đảng viên Đảng cộng sản, đó phải là những con
người trung thành nhất, có khả năng thu hút, lãnh đạo được quần chúng theo
mình và đảm bảo giải quyết được những nhiẹm vụ của lịch sử đặt ra cho Đảng là
lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản, thủ tiêu chế độ tư
hữu để tiến tới xây dựng một xã hội không còn giai cấp và không còn tư hữu.
Những tư tưởng, quan điểm đó của Mác - Ăngghen luôn là cơ sở lý luận
nhất quán cho việc xây dựng tiêu chuẩn cho người đảng viên Đảng cộng sản.
Lênin là người trực tiếp kế thừa sự nghiệp của Mác - Ăngghen và đa hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ đó.
Quan điểm về người đảng viên cộng sản, thì Lênin người đảng viên cộng
sản là người có giác ngộ chính trị, gắn liền với một tổ chức đảng và có ý thức tổ
chức kỷ luật cao. Người chỉ rõ: “Đảng viên của Đảng là người cộng sản là người
thừa nhận cương lĩnh chính trị của Đảng, ủng hộ Đảng bằng những phương tiện
vật chất và tự mình tham gia một trong những tổ chức của Đảng”. Như vậy,
Lênin đề cao nguyên tắc đảng viên không được rời bỏ nguyên tắc tập trung.
3
Đưa ra tiêu chuẩn về người đảng viên, Lênin đã bảo vệ tính tiên phong
của Đảng, nâng cao danh diệu đảng viên, phòng ngừa phần tử cơ hội vào Đảng,
từ đó bảo vệ vai trò tiên phong của Đảng.
Gần một thế kỷ trôi qua với bao biến động, nhưng những quan điểm của
Lêninvẫn còn luôn có giá trị mà tất cả các Đảng cộng sản muốn vững mạnh thì
phải tuân theo.
1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Người đã tiếp thu
chủ nghĩa Mác – Lênin vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng và trưởng
thành của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong mỗi bước đi của cách mạng, mỗi bước phát triển của phong trào,
triên triển đảng viên. Theo Lênin: “Đảng chung tá ra đời những lực lượng trẻ của
chúng ta đang tăng lên gấp đôi (bội) họ có khả năng thay thế và hồi sinh cho
những nhóm tác giả cũ cũng đã mất lòng tin của Đảng”. Như vậy, Người yêu cầu
phải tuyển mộ những chiến sĩ trẻ tuổi một cách mạnh dạn hơn, rộng rãi hơn và
nhanh chóng hơn và hàng ngũ tổ chức của chúng ta. Phải quan tâm phát triển ở
tất cả các ngành, các lĩnh vực, phát triển ở các thành phần kinh tế, các dân tộc,
các tôn giáo, Có vậy thì trí tuệ của Đảng thì mới hùng hậu, mọi tổ chức xã hội
đều có sự lãnh đạo của Đảng.
Trong công tác phát triển, phải coi trọng chất lượng, chống khuynh
hướng chảy theo số lượng, phát triển gượng ép để cơ sở nào đó khỏi bị
“trắng”,như vậy hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên, làm loãng chất lượng đảng viên.
Lênin nói: “Những đảng viên vô hữu danh vô thức cho không chúng ta cũng
không cần, Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng
cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ bọn “luôn lọt vào Đảng ra khỏi hàng
ngũ của mình chứ không phải làm tăng thêm số lượng đảng viên, đó chính là
Đảng của chúng ta, Đảng của giai cấp công nhân cách mạng”. Phát triển rồi phải
tiếp tục giáo dục, rèn luyện thử thách đảng viên trong thời kỳ dự bị để người đó
5
xứng đáng là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân, phấn đấu suet đời cho
chủ nghĩa cộng sản.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác phát triển đảng viên mới.
Kế thừa những di sản quý báu của chủ nghĩa Mác – Lênin, sinh thời chủ
tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến công tác xây dung Đảng và công
tác phát triển đảng. Theo Người “Cần phải củng cố và phát triển đảng…cần chủ ý
kết nạp thêm đảng viên các dân tộc và nữ đảng viên để mở rộng đảng”, “cần chú
ý kết nạp ngững phần tử ưu tú, gương mẫu, trước hết trong xã viên hợp tác xã,
trong đoàn thanh niên lao động vào Đảng”. Trong công tác phát triển đảng Hồ
Đảng Cộng sản Việt Nam là một cơ thể chính trị xã hội sống, có phát
triển. Công tác phát triển đảng nhằm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hoá Đảng.
Để chất lượng đảng viên đảm bảo ngay từ khi kết nạp mới thì trước hết cần nắm
vững phương hướng phát triển đảng, đó là bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng những
người ưu tú là đoàn viên thanh viên cộng sản Hồ Chí Minh, trong công nhân,
nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang, phụ nữ, dân tộc ít người.
Khi kết nạp đảng viên mới phải nắm vững những điều kiện và tiêu chuẩn
của người được kết nạp vào Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam tại điểm 2
điều 1 quy định: “Công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện
thực hiện cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm đảng viên, hoạt
động trong một tổ chức Đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân
dân tín nhiệm đều có thể xét kết nạp”.
1.4. Quan điểm của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về công tác phát
triển đảng viên.
Đảng Nhân dân cách mạng Lào là một cơ thể sống còn của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và giai cấp tri thức tiến tiến của nước Cộng hoà Dân chủ
Nhân dân Lào.
Công tác phát triển đảng viên là một trong những nhiệm vụ thường xuyên
không thể thiếu được, nhằm tăng cường sức chiến đấu và bảo đảm kế thừa, phát
triển liên tục của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
7
Phải có ý thức đầy đủ về công tác phát triển đảng viên là nhân tố quan
trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Để khắc
phục cách làm chạy theo số lượng, Đảng cần phải nắm vững phương hướng phát
triển đảng. Muốn vậy, các tổ chức cơ sở đảng phải đấu tranh loại bỏ tư tưởng dễ
dãi, ban ơn, định kiến, toàn cầu trong công tác phát triển đảng viên.
Điều lệ Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tại điều1 quy định về điều kiện
và mục tiêu kết nạp đảng viên mới như sau:
9
chất quý nằm dưới đất mọi vùng như: mỏ thạch cao, ngọc thạch, đất môn, đất
đen, vàng, bạc, đồng, muối… mà hiện nay một số mỏ khai thác xuất khẩu và một
số mỏ (vàng, thạch cao, …) đang bắt đầu khai thác.
Trong 5 năm, kinh tế của tỉnh ĂT TẠ PƯ liên tục phát triển, trung bình
tăng 5,76%/năm. Tổng số lượng sản phẩm đạt 177.996,845 tỉ kíp, bằng 26,36%
của GDP. Thu nhập bình quân 120 USD/đầu người/năm 1996, đến năm 2005 tăng
lên 241 USD/ đầu người/năm.
Trong cơ cấu tăng trưởng kinh tế trên, thì nông nghiệp tăng 5,6%,
chiếm 58,75% của GDP; công nghiệp tăng 5,76%, chiếm 20,37% GDP và dịch
vụ tăng 6,33%, chiếm 20,88% GDP.
Toàn tỉnh có diện tích trồng lúa là 19.174 ha, so với 1996 tăng lên 1,8 lần.
Diện tích nương 415 ha, sản xuất thóc đạt 363.683 tấn, bình quân
360kg/người/năm; so với năm 1996 tăng 1,3 lần. Hiện nay, toàn tỉnh đã có 13
công trình thủy lợi. Trong đó, có kênh mương 3 nơi, có máy bơm nước bằng điện
8 nơi, có khả năng đáp ứng nhu cầu trong diện tích mùa thu và mùa mưa đủ khả
năng tưới cho 1687 ha lúa và hoa màu. Vì vậy đã tạo điều kiện cho nhân dân tỉnh
có khả năng sản xuất gạo và nhiều vật nuôi, cây trồng đáp ứng cho được nhu cầu
tiêu thụ trong phạm vi toàn tỉnh (riêng gạo ngoài tiêu dùng trong tỉnh, còn thừa
bán ra cho các tỉnh khác và nước ngoài ) (Xem bảng 1). Riêng cây công nghiệp từ
năm 2001 đến nay trồng được 2.265 ha.
Khu vực nông thôn của tỉnh ẮT TẠ PƯ thích hợp với trồng lúa nước,
một số huyện có thể sản xuất lúa nước được hai mùa trong năm; ngoài trồng lúa
thì nhân dân trồng thêm các loại rau, hoa quả, mía, ngô v.v... Trước đây, người
dân trồng trọt, chăn nuôi dựa vào thói quen, thiên nhiên là chính, nhưng cho đến
nay họ biết quan tâm áp dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nên đã ngày
càng tăng năng suất cây trồng và nhiều sản phẩm nông nghiệp thành hàng hóa.
2.1.2. Đặc điểm chính trị - xã hội
hội. Trên địa bàn tỉnh có bệnh viện lớn của Trung ương và tỉnh. Dựa trên đường
11
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta có thể
tiến hành khám và chữa bệnh cho người dân 184 làng, chiếm 88% tổng số làng.
Toàn tỉnh có 5 bệnh viện, trong đó có 1 bệnh viện cấp tỉnh, 4 bệnh viện cấp
huyện, có 22 trạm y tế, có 242 cán bộ y tế. Hiện nay đời sống nhân dân đã từng
bước cải thiện, như đã được sử dụng giống mới, phun nước lên 69,6%; sử dụng
nhà vệ sinh 35,7%, tỷ lệ người chết 3/1000, tỷ lệ sinh 7/1000, tỷ lệ chết của trẻ
em dưới 1 tuổi là 82/1000 người, tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi là 101/1000 người,
tỷ lệ mẹ tử vong là 468/100.000 người và tuổi thọ bình quân 58 tuổi.
2.2 Thực trạng công tác phát triển Đảng.
2.2.1. Thành tựu.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khoá VIII của Ban chấp hành Trung
ương Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng khoá VII của Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ
về công tác phát triển đảng viên, làm cho đội ngũ của ngày càng đông về số
lượng, mạnh về chất lượng.
Công tác phát triển đảng viên mới là một trong những nhiệm vụ thường
xuyên của cấp uỷ Đảng, nhằm tăng cường sức chiến đấu và bảo đảm tính kế thừa,
phát triển liên tục của đảng viên, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Nhận
thức rõ tâm quan trọng của công tác này, trong thời gian qua, Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ chỉ đạo các ban chi uỷ, chi bộ trực thuộc triển khai
thường xuyên công tác phát triển đảng viên mới, nhằm tăng cường củng cố và
xây dung các chi bộ trực thuộc, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở dảng trong đoàn Đảng bộ.
Năm 2001 Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ có 3.239 đảng viên, đến năm 2007
tỷ lệ đảng viên so với dân số toàn tỉnh đạt 2,83 % (bình quân 37,5 người dân có
một đảng viên). Số thôn, làng chưa có đảng viên chiếm 39,42% và có 43,82% số
thôn, làng chưa có tổ chức đảng, ít đảng viên. Nhiều lĩnh vực, địa bàn trọng điểm
đối tượng Đảng. Có nơi, có lúc nhận xét đối tượng một cách dập khuôn máy mọc.
13
Do vậy, khi xem xét đối tượng để kết nạp vào Đảng còn heph hòi, thiếu thực tế.
Trong 5 năm từ năm 2001 – 2005 số quần chúng được kết nạp vào Đảng bằng
33,7% so với tổng đối tượng đã được học bồi dưỡng. Điều đó chứng tỏ bồi
dưỡng, giáo dục, rèn luyện và giúp đỡ quần chúng đã học đối tượng Đảng ở các
chi bộ còn nhiều hạn chế, chất lượng cử chọn quần chúng đi học bồi dưỡng ở một
chi bộ chưa cao.
Công tác phát triển đảng viên nhìn chung còn chậm và chưa đều, một số
cấp uỷ không duy trì đươc chế được xét duyệt đối tượng hàng quý, hàng tháng,
hàng năm. Có Đảng uỷ mỗi năm chỉ xét được một đến hai đợt, thiếu kiểm tra,
đôn đóc việc bồi dưỡng ở các chi bộ trực thuộc. Một số chi bộ trong quá trình
xem xét đối tượng để kết nạp vào Đảng thiếu ý thức ren luyện, tu dưỡng dẫn đến
vi phạm bị xử ký đưa ra khỏi Đảng.
Những yếu kém và tồn tại trên đây đòi hỏi các cấp uỷ Đảng cần phải rút
kinh nghiệm kịp thời và có biện pháp chỉ đạo cụ thể để khắc phục những thiếu sót
và nhược điểm, làm cho từng đảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình đối với
nhiệm vụ phát triển đảng viên trong những năm tới.
2.2.3. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
* Nguyên nhân ưu điểm.
Những năm qua đã đạt được kết quả trên đây, trước hết là nhờ sự quan
tâm chỉ đạo kịp thời của các cấp uỷ Đảng, các chi bộ Đảng, làm cho cán bộ, quần
chúng ngày càng nhận thức đúng đắn vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm của
người đảng viên, tin tưởng vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng.
Các tổ chức quần chúng, nhất là tổ chức cơ sở đoàn đã có nhiều cố gắng
trong việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thu hút đông đảo quần
chúng vào các tổ chức, đã tao ra nhiều phong tào phù hợp, đáp ứng được nhu cầu
thiết thực của quần chúng. Từ phong trào cách mạng đó đã xuất hiện những nhân
15
Bốn là, tổ chức đảng các cấp, quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho nhân dân.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN Ở TỈNH ẮT TẠ PƯ NƯỚC
CHDCNH LÀO HIỆN NAY.
Công tác phát triển đảnng viên ở nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào
nói chung và ở tỉnh ẮT TẠ PƯ nói riêng, trong thời gian tới cần được thực hiện
một số giải pháp như sau:
3.1. Thống nhất nhận thức trong toàn Đảng bộ về tầm quan trọng của
công tác phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức Đảng bộ tỉnh ắT Tạ PƯ
hiện nay.
Phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên trong công tác xây dựng
Đảng. Do vậy, thống nhất nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhất là cấp uỷ Đảng
các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp thuộc Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ về tầm quan
trọng của công tác phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức để tạo ra những
chuyển biến ngay trong năm tới là giải pháp rất cần thiết. Để đưa giải pháp này đi
vào thực tiễn, cần thực hiện đồng bộ một số vấn đề sau:
Một là, đẩy mạnh việc mở rộng lớp bồi dưỡng nâng cao đào tạo cho cán
bộ, đảng viên, nhất là cấp uỷ cơ sở.
Hai là, phát huy vai trò của đảng viên thông qua nhiều hình thức, đặc biệt
là nêu gương.
Ba là, từng tổ chức đảng xây dung chương trình, kế hoạch phát triển
đảng viên để đạt được các mục tiêu về số lượng, chất lượng và trẻ hoá đội ngũ.
16
thành đảng viên.
Một là, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức phát huy
tính tự giác và kỷ năng của bản thân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Hai là, đội ngũ trí thức trẻ cần phải tự tin, biết phát huy thế mạnh để
vươn lên trong mọi hoạt động.
Ba là, phát huy tinh thần hăng hái, dám nghĩ, dám làm. dám chịu trách
nhiệm của đội ngũ trí thức trong Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ.
3.6. Nắm vững phương châm, thực hiện đúng các nguyên tắc, thủ tục
kếp nạp đảng viên.
Thực tiễn cho thấy, chỉ có thể làm tốt công tác giáo dục về Đảng cho
thanh niên giúp họ phấn đấu trở thành đảng viên khi tổ chức đảng ở các cơ sở là
tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh là đội ngũ đảng viên thật sự phát huy vai trò
tiên phong, gương mẫu của mình; những đảng viên mới kết nạp tham gia sinh
hoạt, hoạt động trong một tổ chức vững mạnh, họ sẽ mau chóng trở thành.
3.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ đối
với các tổ chức cơ sở đảng về công tác phát triển đảng viên trong đội ngũ trí
thức.
Một là, Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ cần đề ra các chương trình, kế hoạch
hàng năm về công tác phát triển đảng viên trong đội ngũ trí thức.
Hai là, bên cạnh việc đưa ra các chương trình, kế hoạch hàng năm, Đảng
bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ cần rà soát lại đối tượng, công tác tạo nguồn, mở lớp bồi
dưỡng để giúp cấp uỷ cấp dưới trong công tác phát triển đảng viên.
Ba là, Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ cần có sự quan tâm, lãnh đạo kịp thời
đối với những tổ chức cơ sở đảng còn tồn tại tình trạng có quần chúng nhưng
không làm được công tác phát triển đảng viên.
18
Bốn là, Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ cần có chính sách hợp lý về vật chất và
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tổng kết của Đảng bộ tỉnh ẮT TẠ PƯ, năm 2001 – 2005.
2. Báo cáo tổng kết của Ban tổ chức tỉnh ẮT TẠ PƯ ban về công tác xây dựng
Đảng, năm 2005 – 2006.
3. Điều lệ Đảng Nhân dân cách mạng Lào, năm 2006.
4. Mấy vấn đề về xây dựng Đảng vững mạnh đáp ứng nhiệm vụ mới, Nxb
CTQG, H. 1999.
5. PTS. Ngô Kim Ngân về nâng cao chất lượng đảng viên trong sự nghiệp đổi
mới, Nxb CTQG, H.1999.
6. Những tạp chí xây dựng Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam).
7. Những tạp chí xây dựng Đảng (Đảng Nhân dân cách mạng Lào)
8. Những tạp chí cộng sản.
9. Tạp chí nghiên cứu lý luận.
21