1
HọC VIệN CHíNH TRị - HàNH CHíNH QUốC GIA Hồ CHí MINH
-------------------------------
sỉ phon sỉ la vông
Luân chuyển cán bộ thuộc diện
ban thờng vụ tỉnh uỷ quản lý ở tỉnh xiêng khoảng
nớc cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
trong giai đoạn hiện nay
Chuyên ngành
: Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60 31 23
LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC CHíNH TRị
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Dơng trung ý
Hà Nội - 2009
2
LI CAM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong
Chơng 2: mục tiêu, phơng hớng và những giải pháp chủ
yếu thực hiện tốt luân chuyển cán bộ thuộc
diện ban thờng vụ tỉnh uỷ xiêng khoảng
quản lý trong giai đoạn hiện nay
2.1. Dự báo những nhân tố tác động và mục tiêu, phơng hớng luân
chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng
quản lý
2.2. Những giải pháp chủ yếu thực hiện tốt luân chuyển cán bộ thuộc
diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng quản lý trong giai
đoạn hiện nay
kiến nghị
kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
73
73
83
103
105
107
4
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
TW
:
Trung ơng
USD
:
Đô la Mỹ
5
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
luôn coi trọng công tác cán bộ, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng
vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong các giai đoạn cách
mạng của Đảng, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nớc, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, để thực hiện thắng lợi hai
nhiệm vụ chiến lợc quan trọng đó là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội dân
chủ nhân dân Lào. Trớc yêu cầu công cuộc đổi mới đất nớc do Đảng ta khởi
xớng và lãnh đạo từ Đại hội III của Đảng đến nay.
Đảng và nhân dân Lào đang tiến hành đổi mới đất nớc, chuyển từ nền
kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang đẩy mạnh từng bớc sản xuất hàng hoá
theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế với
các nớc trên thế giới. Công cuộc đổi mới đất nớc đợc tiến hành trong bối cảnh
tình hình quốc tế và trong nớc hết sức phức tạp, có cả thuận lợi và khó khăn,
thời cơ và thách thức, chứa đựng những yếu tố bất trắc khó lờng. Điều đó đặt
ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ, nhằm tạo điều kiện để rèn luyện, bồi dỡng, thử thách cán bộ, nhất là cán bộ trẻ có triển vọng phát triển, trong quy
hoạch, đợc rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, giúp cán bộ trởng thành nhanh
hơn và toàn diện, vững vàng hơn; từng bớc điều chỉnh việc bố trí cán bộ hợp lý
hơn; tăng cờng đợc cán bộ cho những nơi có nhu cầu cấp bách và tạo bớc đột
phá góp phần đổi mới sâu sắc công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ lãnh đạo,
quản lý.
Việc luân chuyển cán bộ ở tỉnh Xiêng Khoảng trong thời gian qua còn
nhiều mặt hạn chế: cha tạo đợc sự thống nhất cao về nhận thức và hành động ở
các cấp uỷ; còn lẫn lộn giữa luân chuyển và điều động; luân chuyển cán bộ
cha có quy hoạch đào tạo, bồi dỡng và sử dụng cán bộ. Luân chuyển cán bộ
7
thuộc diện Ban TVTU quản lý có thể đáp ứng đợc yêu cầu đề ra và giải quyết
dựa trên luận cứ khoa học gắn liền với tổng kết thực tiễn hiện nay.
Trong công cuộc đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nớc,
đội ngũ cán bộ, công chức đã vơn lên, năng động, sáng tạo, góp phần xứng
đáng vào thành tựu to lớn của đất nớc. Song, trong hoàn cảnh mới, sự tác động
của cơ chế thị trờng còn bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ cán
bộ, công chức. Trong đội ngũ cán bộ hiện đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại
cả về phẩm chất và năng lực. Một bộ phận không nhỏ cán bộ đã bị thoái hoá
về phẩm chất chính trị, đạo đức, lợi dụng chức quyền để tham ô, lãng phí,
quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội và thực dụng. Không ít cán bộ bị giảm
sút uy tín, không còn là công bộc của dân, thậm chí trù dập, ức hiệp dân. Văn
kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ VIII của Đảng
Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất
lợng, số lợng và cơ cấu có nhiều mặt cha ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vừa qua, tuy có nhiều cố gắng
trong công tác cán bộ, nhng không ít việc còn mang tính chất ứng phó, cha
đáp ứng tốt các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nớc. Hàng loạt vấn đề lý
mục đích của việc luân chuyển cán bộ và một số phơng châm tiến hành luân
chuyển cán bộ.
- Bài viết Vài suy nghĩ về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý
của tác giả Trần Bạch Đằng, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1/2005. Tác giả
chỉ ra một số nguyên tắc sử dụng quan chức thời phong kiến, thực dân ở n ớc
Việt Nam, nêu lên những hạn chế trong việc chuẩn bị đầu vào của việc luân
chuyển cán bộ và hạn chế trong việc phân biệt giữa luân chuyển và điều
động cán bộ; trong đó tác giả cũng nêu lên một số giải pháp để luân chuyển
cán bộ có hiệu quả.
- Luận văn thạc sĩ: Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện
Tỉnh uỷ quản lý ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn hiện nay của tác giả Phạm Tất
Thắng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005. Tác giả đã đa ra
các quan niệm luân chuyển, điều động, thuyên chuyển, vị trí, tầm quan trọng
10
của công tác luân chuyển cán bộ và tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng
công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý ở
tỉnh Ninh Bình.
- Luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Bắc Giang quản lý giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Năng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006. Tác đã đề cập đến quan niệm và
tác dụng của luân chuyển cán bộ, trong đó tác giả đã nêu thực trạng luân
chuyển cán bộ tuộc diện Ban Thờng vụ tỉnh uỷ Bắc Giang quản lý và tác giả
đã đa ra một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả luân chuyển cán bộ trong
giai đoạn hiện nay.
ở Lào:
- Các nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ơng lần thứ 7, khoá V
(1993) về Phát triển tài nguyên con ngời ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Lào, lần thứ 6 khoá VII (2003), và các nghị quyết Hội nghị toàn quốc về
TVTU Xiêng Khoảng quản lý.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác luân chuyển cán bộ
thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý từ khi có Nghị quyết của Bộ
Chính trị số 02-NQ/BCT ngày 14/07/2003 về bố nhiệm, luân chuyển cán bộ.
- Đề xuất phơng hớng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt
công tác luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý
giai đoạn hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luân văn là công tác LCCB trong hệ thống chính
trị ở tỉnh Xiêng Khoảng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Công tác luân chuyển cán bộ thuộc diện Ban TVTU
Xiêng Khoảng quản lý.
- Về thời gian: Đi sâu nghiên cứu, khảo sát công tác luân chuyển cán
bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý từ khi có Nghị quyết số
12
02/BCT của Bộ chính trị ngày 14/07/2003 về bố trí, luân chuyển cán bộ, bên
cạnh đó có tham khảo công tác này trong thời gian qua của nớc Công hoà dân
chủ nhân dân Lào và một số lý luận và thực tiễn của Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn đợc thể hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và quan điểm
của Đảng nhân dân cách mạng Lào về công tác cán bộ nói chung và công tác
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng.
- Luận văn sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cơ bản là: phơng pháp
khảo sát thực tế, thống kê, phân tích tổng hợp; phơng pháp lôgic và lịch sử,
phơng pháp phân tích hệ thống, phơng pháp tổng kết thực tiễn.
1.1. Khái quát về tỉnh, Ban Thờng vụ tỉnh uỷ và cán bộ
thuộc diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ Xiêng Khoảng quản lý
1.1.1. Khái quát về tỉnh Xiêng Khoảng
1.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Xiêng Khoảng là một tỉnh miền núi và cao nguyên, nằm ở vùng
Đông Bắc của đất nớc Lào, phía Bắc giáp tỉnh Hoá Phăn, phía Đông Bắc giáp
tỉnh Nghệ An, (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Tỉnh có chiều dài đờng
biên giới là 164 km, có một cửa khẩu quốc gia Nằm Cắn (thuộc huyện Nóng
Hét, phía Tây giáp tỉnh Luống Phạ Bang, phía Nam giáp với tỉnh Viêng Chăn
và tỉnh Bo Ly Khăm Xay. Tỉnh Xiêng Khoảng có 8 huyện, toàn tỉnh có 564
bản, có 39.771 hộ dân, dân số 249.287 ngời, trong đó 123.478 nữ, dân số tăng
2,94% so với năm 2007-2008. Dân trong tỉnh thuộc các bộ tộc lớn: dân tộc
Lào Lùm 44,5%, dân tộc Lào Thơng 8,1%, dân tộc Lào Xúng 38,4%, dân tộc
Tay 5%, dân tộc Phóng 2,4%, và dân tộc khác 1,6%.
Tỉnh có Diện tích 15.880 Km3, trong đó, diện tích rừng 551.252 ha,
diện tích đất nông nghiệp 37.324 ha (trong đó, đất làm ruộng 37.249 ha).
Tỉnh Xiêng Khoảng có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, cho phát triển nền
kinh tế, có núi, rừng, sông, đồng cỏ tự nhiên, có diện tích trồng trọt và chăn nuôi
khá lớn có khá năng nuôi trâu, bò, dê, lợn và trồng cây nông nghiệp.
Tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú nh: mở sắt, than đá, vàng ở Phu
Bia, đông ở Phu Thén, Phu Sắn, nhng các tài nguyên đó các công ty nớc ngoài
nh Trung Quốc và úc đang kiểm điểm.
Tỉnh có đờng quốc lộ số 7 qua tỉnh từ Tây Nam sang Đông, từ tỉnh
Luông Phạ Bang qua các huyện và thị xã Phôn Xạ Văn, kéo dài đến cửa khẩu
15
Nằm Cắn vào tỉnh Nghệ An (Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Với chiều
dài 269 km, quốc lộ 7 rất thuận lợi cho giao thông vận tải và thơng mại trong
chuyển đổi đa dạng, tăng tích luỹ nội bộ ngành; trồng trọt phát triển các
vùng chuyên canh theo hớng sản xuất hàng hoá gắn với thị trờng; chăn nuôi
đã có bớc phát triển theo hớng công nghiệp, quy mô lớn, tập trung; sản xuất
lâm nghiệp đợc chuyển dần theo hớng xã hội hoá.
Các ngành dịch vụ, hoạt động thơng mại tiếp tục phát triển theo hớng
thị trờng hàng hoá phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng đợc mở rộng, đáp ứng
đợc nhu cầu mua và bán của nhân; các loại hình giao dịch thơng mại văn
minh, hiện đại. Ngoài nhân dân buôn bán giao lu hàng hoá trong tỉnh, còn có
hàng xuất khẩu trong nớc trị giá 6.911 triệu USD, phần lớn là xuất khẩu
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Trung Quốc, hàng hoá chủ yếu là
ngô, gạo, trâu, bò và cây nông nghiệp. Nhập khẩu trong nớc trị giá 13.738
triêu USD, chủ yếu là hàng hoá công nghiệp, máy móc phục vụ nông nghiệp,
vật liệu xây dựng và phụ tùng phơng tiện.
Đặc điểm về chính trị, văn hoá- xã hội
Thực trạng về chính trị, đến nay có sự ổn định, cán bộ, đảng viên có yên
tâm công tác và đời sống của nhân dân tơng đổi ổn định, cán bộ, đảng viên và
nhân dân có sự tin tởng với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc. Lãnh đạo của
tỉnh đã hết sức mình chỉ đạo và quản lý nhân dân toàn tỉnh; hệ thống chính trị
tiếp tục đợc củng cố; vai trò và hiệu lực lãnh đạo, quản lý của các cấp uỷ
đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân tiếp tục đợc tăng cờng; quyền làm chủ
của nhân dân ở cơ sở ngày càng đợc phát huy; công tác xây dựng Đảng đợc
chỉ đạo thực hiện trên cả ba mặt: chính trị, t tởng và tổ chức, thờng xuyên đợc
chăm lo xây dựng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
và đội ngũ đảng viên đợc nâng cao từng bớc; tỉnh uỷ đã xây dựng và chỉ đạo tổ
chức thực hiện có kết quả một số chỉ thị, nghị quyết, chuyên đề, chơng trình
và nhiều đề án lớn về công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng và công tác
17
cán bộ có chiến biến tích cực, cán bộ đợc đi đào tạo, bồi dỡng ngày càng tăng
+ Về an ninh quốc phòng, tỉnh Xiêng Khoảng là một địa bàn chiến lợc
của Vàng Pao, lc lợng đặc biệt của đế quốc Mỹ, trớc giải phóng, cho nên tỉnh
Xiêng Khoảng là trọng điểm về an ninh quốc phòng. Từ khi giải phóng đến
nay tỉnh thờng xuyên và trực tiếp bị tác động của tình hình khá phức tạp do
hoạt động của bọn phỉ trong tỉnh, bọn phán động quốc tế và phản động Lào lu
vong ở ngoài nớc chống phá cách mạng. Trong những năm qua tình hình bên
trong, tuy có bớc phát triển có lợi nhng cha vững chắc, còn nhiều yếu tố có thể
gây mất ổn định về chính trị.
Về mặt tâm lý và tin ngỡng, qua khảo sát thực tế c dân của tỉnh Xiêng
Khoảng và các huyện trong tỉnh có thể chia c dân làm hai bộ phận, c nhân tại
chỗ và c dân mới đến:
C dân tại chỗ bao gồm c dân các bộ tộc đã c trú ở vùng sâu, vùng xa,
hằng trăm năm, thuộc ba thành phần lớn: Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Súng.
Các bộ tộc có hàng chục nhóm địa phơng khác nhau. Đặc điểm cơ bản của
nhóm c dân này là dựa trên nền tảng của công xã nông thôn mang nhiều tính
chất cổ truyền, sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp, công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc
hậu, phân công lao động cha phát triển.
C dân mới đến bao gồm c dân thành thị và c dân của tỉnh khác di c đến
làm ăn sinh sống sau giải phóng do cán bộ của Đảng và nhà nớc đa lên với ý
định làm một trong những lực lợng trụ cột để xây dựng vùng kinh tế mới.
Tỉnh có đầu t trong việc bảo tồn tôn tạo các khu di tích văn hoá nổi tiếng
của tỉnh, của địa phơng, kết hợp việc phát triển kinh tế, khoa học công nghệ với
việc bảo đảm giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và an ninh - quốc phòng.
Tuy nhiên, đến nay Tỉnh Xiêng Khoảng vẫn là một trong tỉnh chậm
phát triển: kinh tế phát triển cha vững chắc, mức tăng trởng còn thấp so với
khu vực và cha tơng xứng với tiềm năng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn
yếu, doanh nghiệp còn nhỏ bé, khả năng hội nhập kinh tế quốc tế còn thấp; cơ
sở vật chất, kết cấu hạ tầng cha theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Một số vấn đề về y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội, môi trờng còn bất cấp. Công
20
Tỉnh uỷ là ngời lãnh đạo trực tiếp để tiến hành đờng lối, chính sách của Đảng,
Nghị quyết, quyết định của cấp trên và Nghị quyết Đại hội Đảng cấp mình trở
thành kế hoạch để thực hiện và chỉ đạo tổ chực thực hiện; chỉ đạo các tổ chức
Đảng và công tác Đảng. Chủ tịch Tỉnh là đảm bảo tổ chức thực hiện hiến
pháp, pháp luật, quy định và trật tự của nhà nớc; thực hiện nhiệm vụ quản lý
nhà nớc, quản lý kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng; quy định và tổ
chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và kế hoạch ngân sách
hàng năm của tỉnh; chỉ đạo công tác nhà nớc. Trong đó Ban TVTU đã phân
chia lĩnh vực phụ trách nh công tác kinh tế xã hội; công tác xây dựng Đảng
và cán bộ; văn hoá, tôn giáo; công tác đoàn thể quần chúng và an ninh- quốc
phòng.
- Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Ban TVTU
+ Vị trí, vai trò: Ban TVTU là những ngời đợc Tỉnh uỷ viên bầu cử
hoặc Ban Chấp hành Trung ơng cử để lãnh đạo quản lý mọi công việc, là
ngời đứng đầu trong tổ chức Đảng và chính quyền cấp tỉnh và thay mặt cho tổ
chức Đảng và Chính quyền cấp Trung ơng tại địa phơng. Ban TVTU là ngời đa đờng lối đổi mới cuả Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nớc đến nhân dân
trong tỉnh và chỉ đạo tổ chức thực hiện.
+ Chức năng, nhiệm vụ, Trong điều lệ Đảng nhân dân cách mạng Lào,
điều 21 đã quyết định chức năng, nhiệm vụ của Ban TVTU nh sau:
- Phụ trách trực tiếp với Ban Chấp hành Trung ơng về kết quả
và thiệt hại trong tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên,
đờng lối, chính sách, điều lệ, pháp luật của Đảng và Nhà nớc.
- Lãnh đạo hoạt động toàn đảng uỷ giữa hai Đại hội trong tổ
chức thực hiện Nghị quyết của Đại hội cấp mình, tăng cờng củng cổ
đoàn kết thống nhất và kiển cách làm việc giữa Đảng uỷ với cơ quan
chính quyền cơ sở và đoàn thể.
- Tuyên truyền, giáo dục t tởng chính trị và lãnh đạo các tổ chức
mọi lĩnh vực; đi sâu phụ trách chỉ đạo công tác t tởng, công tác xây dựng
Đảng và cán bộ, an ninh - quốc phòng; chỉ đạo huyện Pách.
22
2. Ban TVTU, Phó Bí th Tỉnh uỷ, Chủ tịch Tỉnh. Phụ trách chỉ đạo mọi
công việc hành chính của tỉnh; đi sâu chỉ đạo công tác xây dựng và tổ chức
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, xây dựng kế hoạch ngân sách
hằng năm, hằng kỳ đạt đợc mục đích, yêu cầu; chỉ đạo công tác quản lý nhà nớc quản lý xã hội theo pháp luật; chỉ đạo huyện Phu Cút.
3. Ban TVTU, Phó Bí th Tỉnh uỷ, phó Chủ tịch Tỉnh. Ban Thờng trực
nhà nớc Tỉnh. Chỉ đạo văn phòng tỉnh uỷ và các cơ quan thuộc văn phòng tỉnh;
Chỉ đạo huyện Mọc.
4. Ban TVTU, phó chủ tịch Tỉnh. Phụ trách chỉ đạo kinh tế, văn hoá - xã
hội và công tác Biên giới.
5. Ban TVTU; Trởng Ban tổ chức tỉnh. Uỷ viên Ban thờng trực Tỉnh uỷ.
Chỉ đạo công tác xây dựng Đảng công tác cán bộ, công tác văn hoá - xã
hội; chỉ đạo huyện Nóng Hét.
6. Ban TVTU, Chủ tịch mặt trận tổ quốc tỉnh. Chỉ đạo công tác đoàn thể
và tôn giáo; chỉ đạo huyện Khun.
7. Ban TVTU, Trởng Ban chỉ huy quân đội tỉnh. Giúp Bí th Tỉnh uỷ chỉ đạo
công tác an ninh quốc phòng. Ban thờng trực về an ninh quôc phòng.
1.1.3. Đội ngũ cán bộ thuộc diện Ban Thờng vụ tỉnh uỷ Xiêng
Khoảng quản lý - quan niệm, vai trò và đặc điểm
1.1.3.1. Quan niệm cán bộ thuộc diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ Xiêng
Khoảng quản lý
Cán bộ là một lớp ngời là những chiến sĩ cách mạng, lớp ngời mới sắn
sàng chịu dựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp
cao cả giành độc lập tự do cho dân tộc. Tên gọi cán bộ đã từng để lại dấu ẩn
đẹp trong lịch sử của Việt Nam cũng nh Lào.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
Trong bộ phận cán bộ lãnh đạo, có một nhóm đợc gọi là cán bộ lãnh
đạo chủ chốt. Đó là những ngời đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao
24
nhất trong một tập thể, có quyền ra những quyết định về chủ trơng, có trách
nhiệm và quyền điều chính một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện
những nhiệm vụ của tập thể hoăc tổ chức ấy, thâm chí có thể chi phối, dẫn dắt
toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Trong mỗi tổ chức đều có ngời lãnh đạo. Nhiều tổ chức có tập thể lãnh
đạo, trong tập thể lãnh đạo có ngời đứng đầu. Ngời đó là cán bộ chủ chốt. Vậy
cán bộ lãnh đạo chủ chốt là ngời đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi
phối chính toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Đây là một bộ phận cán bộ rất quan trọng ảnh hởng đến toàn bộ hoạt
động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị.
Cán bộ thuộc diện Ban TVTU Xiêng Khoảng quản lý, tôi đã nói ở đây
chính là chính là cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện Ban TVTU Xiêng
Khoảng quản lý. Hiện nay ở Lào cũng nh ở Việt Nam, khái niệm cán bộ lãnh
đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý; cán bộ quản lý cũng là ngời
đứng đầu của một tổ chức, nhng nhấn mạnh việc điều hành của một tổ chức,
việc sử dụng công cụ, phơng tiện để điều khiển một loại hoạt động nào đó.
Nh vậy, nội hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có những
điểm giống nhau: cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết
định, điều khiển hoạt động của một tổ chức; ngời cán bộ lãnh đạo cũng phải
thực hiện chức năng quản lý và ngời cán bộ quản lý cũng phải thực hiện chức
năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt rạch ròi đau là ngời lãnh đạo, đâu là
ngời quản lý.
Tuy nhiên, khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý không hoàn
toàn đồng nhất với nhau. Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định
hớng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đờng lối, chủ trơng, chính
vấn đề phân cấp quản lý cán bộ. Theo đó, Bộ Chính trị quy định và xác định
những chức danh cán bộ mà Ban TVTU quản lý và quyền hạn, nhiệm vụ quản
lý. Cụ thể hoá Quyết định số 02 NQ/BCT của Bộ Chính trị ngày 17/10/2006
về phân cấp quản lý cán bộ. Các chức danh thuộc diện Ban TVTU Xiêng
khoảng quản lý gồm: