Phân tích tình hình nhập khẩu nguyên liệu của công ty cổ phần SADICO cần thơ từ năm 2011 đến sáu tháng đầu năm 2014 - Pdf 43

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một nước đang phát triển nên nhu cầu nhập khẩu để phục vụ
cho tiêu dùng trong nước rất lớn, chính vì vậy, việc hoàn thiện hoạt động nhập
khẩu đối với các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết. Hàng hóa ngày càng
nhiều, chủng loại ngày càng phong phú đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải
thay đổi sản phẩm về mẫu mã cũng như chất lượng một cách liên tục. Điều này đã
làm cho nhu cầu về nguyên liệu sản xuất bao bì cũng tăng theo nhu cầu sản xuất
của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc tìm kiếm nguồn cung ứng nguyên vật
liệu sản xuất bao bì luôn là vấn đề quan trọng đối với các công ty sản xuất bao bì
nói chung và công ty cổ phần SADICO Cần Thơ nói riêng. Công ty cổ phần
SADICO Cần Thơ chuyên sản xuất và phân phối vỏ bao xi măng lớn nhất Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Công ty nhập những nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
bao bì như hạt nhựa, hạt phụ gia…với chất lượng rất cao, đáp ứng một cách tương
đối đầy đủ cho nhu cầu kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, theo Thông tư số
107/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính, thuế nhập khẩu nguyên liệu nhựa
Polypropylen (PP) được điều chỉnh tăng lên 1% vào năm 2014, lên mức 2% vào
năm 2015 và 3% từ năm 2016 trở đi. Việc thực hiện mức thuế suất này làm ảnh
hưởng đến các doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng nhựa, trong đó có SADICO
Cần Thơ. Để giải quyết vấn đề này công ty nên chủ động tìm nguồn mua trong
nước hoặc nhập khẩu từ các nước có ký hiệp định tự do hóa thương mại với Việt
Nam. Theo Hiệp hội Nhựa Viêt Nam (VPA), ở Việt Nam hiện nay chỉ có nhà máy
lọc dầu Dung Quất sản xuất hạt nhựa PP với công suất 150.000 tấn/năm, trong khi
đó nhu cầu hàng năm của Việt Nam là 750.000 tấn. Ngoài hạn chế về số lượng,
nguồn cung ctrong nước còn hạn chế về chủng loai. Hiện tại, Dung Quất chỉ sản
xuất bốn loại hạt PP, trong khi loại nguyên liệu công ty cần không thuộc bốn loại
này. Do đó, giải pháp tìm nhà cung ứng trong nước là vô cùng khó khăn để thực
hiện. Hạt nhựa PP là nguyên liệu quan trọng trong việc sản xuất bao bì. Trong khi

1.3.1. Không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại công ty cổ phần SADICO Cần Thơ (SDC) tại quận
Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
1.3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên thông tin số liệu thu thập từ năm 2011 đến 6
tháng đầu năm 2014 của công ty cổ phần SADICO Cần Thơ (SDC) để so sánh,
tổng hợp đưa ra các nhận định, đánh giá, nhận xét.
1.3.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động nhập khẩu của công ty cổ phần
SADICO Cần Thơ (SDC).

2


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp luận
2.1.1. Khái quát về hoạt động nhập khẩu
2.1.1.1. Định nghĩa nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá
trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá
lấy tiền tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ
thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên
ngoài. (Nguyễn Cảnh Hiệp, 2013).
2.1.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Theo Nguyễn Cảnh Hiệp (2013), Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của
hoạt động ngoại thương. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định
đến sản xuất và đời sống trong nước; nhập khẩu để bổ sung hàng hóa trong nước
không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu; nhập khẩu còn để
thay thế, nghĩa là nhập khẩu những hàng hóa mà nếu sản xuất trong nước sẽ

hợp lý, đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của
quốc gia cũng như quốc tế, doanh nghiệp tiến hành hoạt động nhập khẩu trực tiếp
với đối tác nước ngoài. (Nguyễn Cảnh Hiệp, 2013).
Đặc điểm của nhập khẩu trực tiếp: trong hoạt động nhập khẩu này, doanh
nghiệp nhập khẩu phải tự chịu trách nhiệm tất cả mọi rủi ro, cho nên cần phải có
sự xem xét kỹ lưỡng từ bước thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, rồi ký kết
hợp đồng…Vì nhập khẩu tự doanh nghĩa là doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để kinh
doanh, phải chịu mọi chi phí giao dịch, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí giao
nhận hàng hóa, chi phí lưu kho, chi phí tiêu thụ hàng hóa, thuế, …Do đó, doanh
nghiệp phải tính toán rất cẩn thận ngay từ việc chọn mặt hàng, nghiên cứu thị
trường, marleting,…
Thông thường doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với bên
nước ngoài, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ lập sau hoặc không
cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức bán lẻ, trao tay.
2.1.2.2. Nhập khẩu ủy thác
Theo quyết định số 1172/TM/XNK ngày 22/9/1994 của Bộ trưởng Bộ
Thương Mại về việc ban hành” Quy chế XNK uỷ thác giữa các pháp nhân trong
nước” định nghĩa như sau:
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức làm dịch
vụ nhập khẩu. Hoạt động này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng uỷ thác nhâp
khẩu giữa các doanh nghiệp, phù hợp với những quy định của Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế.
4


Như vậy, hoạt động nhập khẩu ủy thác là hoạt động nhập khẩu hình thành
giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số
mặt hàng nhập khẩu nhưng không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp, đã ủy thác
cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập
khẩu hàng hóa theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác phải tiến hành đàm phán


2.1.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu
của buôn bán tối lưu. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh
toán trong hợp đồng này không phải bằng tiền mà chính bằng hàng hóa. Ở đây
mục đích chính của hoạt động nhập khẩu hàng hóa không phải chỉ thu lãi từ hoạt
động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất.
(Nguyễn Cảnh Hiệp, 2013)
Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng: hoạt động này có lợi vì cùng một hợp
đồng có thể tiến hành cả hoạt động xuất và hoạt động nhập, do đó có thể thu lãi từ
hai hoạt động. Hoạt động xuất phải tương đương về giá trị; bạn hàng bán cũng
chính là bạn hàng mua; doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim
ngạch nhập và xuất, doanh số tiêu thụ tính trên số hàng nhập và xuất.
2.1.2.5. Nhập khẩu tái xuất
Theo Quan Minh Nhựt, Lê Trần Thiên Ý và Trần Thị Bạch Yến (2013, trang
59), nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hóa vào trong nước nhưng
không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu
lợi nhuận, tuy nhiên những hàng nhập khẩu này không được chế biến tại nước tái
xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu,
nước nhập khẩu và nước tái xuất.
Đặc điểm của nhập khẩu tái xuất: doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toàn
bộ chi phí tổ chức, gặp gỡ, bàn bạc mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, đảm bảo
sao cho số tiền thu được lớn hơn chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động. Doanh
nghiệp nước tái xuất phải tiến hành hai hợp đồng: hợp đồng xuất khẩu và hợp
đồng nhập khẩu nhưng không phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh
doanh. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch cả xuất, cả
nhập, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu do đó vẫn phải chịu thuế doanh
thu. Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp
lừng; hàng hóa không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất, mà chuyển thẳng
sang nước thứ ba nhưng tiền thanh toán phải do người tái xuất thu từ người nhập

bản thân doanh nghiệp mình cũng như bên đối tác. Từ đó, doanh nghiệp có thể
tránh khỏi những sai phạm không đáng có như: buôn bán hàng cấm mà luật pháp
quốc gia không cho phép,…
2.1.3.2. Môi trường bên trong
Một nhân tố nữa cũng không kém phần quan trọng đó chính là năng lực (hay
tiềm lực) của chính bản thân doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động kinh tế
quốc tế. Năng lực của doanh nghiệp nói chung chính là vốn, tài sản, công nghệ,
nhân sự,… của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp có quy mô lớn, có lượng vốn
lớn, có lực lượng nhân sự tốt cũng như những công nghệ hiện đại thì chắc chắn
rằng doanh nghiệp đó sẽ rất phát triển, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ
khác trên thế giới. Điều này không có nghĩa là những doanh nghiệp nhỏ không
7


thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh hiện nay. Những doanh nghiệp nhỏ
cũng phải tìm cho mình những thế mạnh riêng, hoặc có thể tự tạo cho mình
những thế mạnh đó để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác. Điều
này có thể hiểu được vì số lượng công ty lớn trên thế giới là không nhiều mà đa
phần là những công ty vừa và nhỏ, những công ty này đều có những lợi thế nhất
định về một lĩnh vực, họ tự tìm cho mình những lối đi riêng để tạo ra sự khác biệt
với các công ty khác để từ đó có thể kiếm được lợi nhuận kinh doanh một cách
hợp pháp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt lấy những cơ hội kinh
doanh ở mọi nơi, mọi lúc do các yếu tố chủ quan hay khách quan mang lại.
Mỗi doanh nghiệp cần phải hiểu rõ năng lực của chính mình để có thể lượng
sức mình trên thương trường, có kế hoạch đầu tư, xây dựng chiến lược kinh
doanh dài hạn để ngày càng nâng cao tiềm lực bản than, từ đó mới có thể mở rộng
tầm hoạt động, kiếm được những lợi nhuận lớn do kinh doanh quy mô lớn mang
lại.
2.1.4. Ma trận SWOT
Mô hình SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết

trường kinh tế, môi trường chính trị và pháp luật.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu là số liệu thứ cấp và được thu
thập từ những nguồn sau:
Báo cáo kết quả hoạt động nhập khẩu các năm 2011, 2012, 2013 và sáu tháng
đầu năm 2014 của công ty cổ phần SADICO Cần Thơ (SDC).
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu thứ cấp được sàng lọc, lựa chọn và sử dụng một cách phù hợp theo
mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu 1: Hoạt động kinh doanh nhập khẩu nguyên liệu của công ty cổ
phần SADICO Cần Thơ (SDC) từ năm 2011 đến sáu tháng đầu năm 2014 được áp
dụng phương pháp phân tích số tương đối và tuyệt đối, so sánh số liệu tuyêt đối
và tương đối để đánh giá hoạt động nhập khẩu của công ty.
Mục tiêu 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu
nguyên liệu của công ty cổ phần SADICO Cần Thơ (SDC) được đánh giá mức độ
ảnh hưởng bằng sự kết hợp của lý thuyết, phương pháp thay thế và phương pháp
suy luận để xem xét tầm ảnh hưởng của chúng đến hoạt động nhập khẩu nguyên
liệu của công ty.
Mục tiêu 3: Ma trận SWOT được sử dụng để làm rõ những điểm mạnh,
điểm yếu cũng như những cơ hội và thách thức của công ty. Từ đó, một số giải
pháp được đề xuất nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh cho công ty cổ phần

9


SADICO Cần Thơ (SDC) theo hướng phát triển bền vững trong những năm tới
bằng phương pháp suy luận.
Phương pháp so sánh
Theo Mai Văn Nam (2008, trang 39-43), đây là phương pháp xem xét một


Số tương đối động thái (lần, %) là kết quả so sánh giữa hai mức độ của cùng
một chỉ tiêu ở hai thời kỳ, thời điểm khác nhau để thấy được sự thay đổi của đối
tượng nghiên cứu.
Số tương đối kết cấu (%) dùng để xác định tỷ trọng của từng bộ phận cấu
thành của một tổng thể.
Công thức tính số tương đối: %Y = (Y1 – Y0)/Y0
Trong đó:
%Y: Mức độ biến động tương đối của chỉ tiêu kinh tế
Y1: Số liệu năm phân tích
Y0: Số liệu năm gốc

11


CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SADICO CẦN THƠ (SDC)
3.1. Giới thiệu chung về công ty
- Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN SADICO CẦN THƠ.
- Tên giao dịch quốc tế: SADICO CANTHO JOINT STOCK CORPORATION.
- Tên viết tắt: SADICO CẦN THƠ.
- Logo công ty:

- Trụ sở chính: Số 366E, Cách mạng tháng tám, Phường Bùi Hữu Nghĩa, Quận
Bình Thủy, TP.Cần Thơ.
- Điện thoại: 0710.3821885 - 3815108 – 3884919
- Fax: 0710.3821141.
- Email: [email protected].
- Website: www.sadico.com.vn www.sadico.vn
- Vốn điều lệ: 64.999.970.000 đồng.

Đầu năm 2007, được Cty Mua Bán Nợ & Tài Sản Tồn Đọng của doanh
nghiệp thực hiện tái cấu trúc vốn.
Ngày 1/7/2007 Công Ty chính thức hoạt động theo hình thức Công Ty cổ phần.
Ngày 22/12/2009 lên sàn giao dịch Hà nội với Mã chứng khoán SDG ,vốn
điều lệ 50 tỷ đồng.
Ngày 28/ 9/2010 SADICO Cần Thơ nâng vốn điều lệ lên 65 tỷ đồng.
3.1.2. Tầm nhìn, giá trị cốt lỏi và mục tiêu của công ty
3.1.2.1. Tầm nhìn
Trở thành Nhà sản xuất và phân phối bao bì xi măng hàng đầu Việt Nam .
3.1.2.2. Giá trị cốt lỏi
Khách hàng: Thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu về chất lượng,số lượng,dịch vụ
và thời gian .SADICO Cam kết sản phẩm không ngừng cải tiến
Người lao động: chăm lo đời sống vật chất và tinh thần bằng chính sách đải
ngộ công bằng và phúc lợi ,ngày càng cao cho người lao động
Cổ đông: Tôn trọng nhà đầu tư, tạo lập giá trị bền vững cho nhà đầu tư qua cổ
tức và thị giá ngày càng gia tăng
Cộng đồng:
a/ Quan tâm phát triển văn hóa công ty:xây dựng môi trường làm việc
xanh,sạch, đẹp và an tòan thông qua các hệ thống quản lý

13


b/ Tuân thủ trên nền tảng pháp luật quốc gia,quan tâm và đóng góp đến xã hội
trên tinh thần ‘tương thân tương ái”qua các chương trình phúc lợi xã hội hàng
năm.
Với phương châm “Chất lượng tạo sự thịnh vượng “, chúng tôi cố gắng thỏa
mãn yêu cầu của khách hàng ở mức cao nhất và luôn luôn là người bạn đồng hành
tin cậy cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước.
3.1.2.3. Mục tiêu

chức
hành
chính

Phòng
Tài
chínhkế toán

Phòng
Kế
hoạch
đầu tư

Phòng
Kinh
doanh

Phòng
Vật tư

Phòng
Kỹ
thuậtKCS

Phân
xưởng
sản xuất

Phân
xưởng

đã định.
Quản lý tốt hồ sơ cán bộ, bổ sung kịp thời những thay đổi của cán bộ vào hồ
sơ gốc.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch lao động tiền lương hàng năm, quí, tháng,
gửi kế hoạch này để phòng kế hoạch tổng hợp thành kế hoạch chung của công ty
và phòng Tài chính kế toán phối hợp thực hiện.
*Phòng kế hoạch đầu tư
Chức năng:
Phòng kế hoạch đầu tư có chức năng xây dựng và tổng hợp các loại kế hoạch
hàng năm và nhiều năm, về sản xuất kinh doanh, liên daonh liên kết, xuất nhập
khẩu, nghiên cứu kế hoạch, tài chính, lao động tiền lương, giúp Giám đốc theo
dõi, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các loại kế hoạch này.
Nhiệm vụ
Phổ biến kịp thời kế hoạch được giao, nêu các yêu cầu xây dựng kế hoạch
cho các chi nhánh, các phòng trên cơ sở kế hoạch của các phòng, các chi nhánh
xây dựng kế hoạch cho từng lĩnh vực hoạt động của công ty, báo cáo các cơ quan
quản lý về các kế hoạch này theo quy định. Theo dõi việc tổng hợp, việc báo cáo
kết quả thực hiện các kế hoạch này hàng tháng, quí, sáu tháng và cả năm.
*Phòng kinh doanh
16


Chức năng
Thực hiện việc mua bán, liên daonh liên kết sản xuất các loại vật tư nguyên
liệu, thiết bị, sản phẩm bao bì và hàng hóa khác với khách hàng trong nước.
Nhiệm vụ
Giao dịch, ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư, liên
doanh liên kết, các hợp đồng vận chuyển hàng hóa phát sinh.
Làm đầy đủ các thủ tục nhập khẩu vật tư hàng hóa trong phạm vi trách nhiệm
của phòng.

sản xuất, theo dõi, và hiệu chỉnh kế hoạch.
* Phòng kỹ thuật KCS: Chịu trách nhiệm kiểm tra bán thành phẩm trên dây
chuyền sản xuất và thành phẩm cuối cùng. Kiểm tra nguyên liệu và bán thành
phẩm đầu vào. Thống kê bán thành phẩm hư hỏng trên dây chuyền sản xuất để
thông báo kịp thời cho Ban lãnh đạo và các phòng ban có liên quan.
* Phân xưởng sản xuất: chịu trách nhiệm tạo ra thành phẩm.
* Phân xưởng cơ điện: Phân xưởng này đảm nhận lắp đặt, vận hành, quản lý
các loại máy móc thiết bị cũng như chủ động nguồn điện cho toàn bộ hoạt động
của công ty.
3.2. Một số sản phẩm của công ty
VỎ BAO XI MĂNG:
Với nhiều dây chuyền sản xuất bao ximăng loại thiết bị chuyên dụng, có tính
năng kỹ thuật chính xác, hiện đại nhất ở Việt Nam và một đội ngũ kỹ thuật viên
chuyên nghiệp, tích lũy nhiều năm kinh nghiệm về công nghệ ximăng và công
nghệ sản xuất bao ximăng. Do vậy, sản phẩm bao ximăng SADICO Cần Thơ có
một đặc điểm kỹ thuật ưu việt: thỏa mãn tối đa những yêu cầu kỹ thuật riêng của
tất cả các nhà máy ximăng trên cả nước.
* Bao KPK: Cấu tạo sản phẩm gồm: Bên ngoài giấy Kraft được tráng ghép manh
dệt PP, bên trong lồng 1 lớp giấy kraft. Hai đầu bao may nẹp giấy, chỉ may cotton.
Bao được xôm lỗ thoát khí tốt, bao chứa 50 kg ximăng + 1.
* Bao PK: Cấu tạo sản phẩm gồm: Bên ngoài manh dệt PP được tráng màng PP
phức hợp, bên trong lồng 1 lớp giấy Kraft. Hai đầu bao may nẹp giấy, chỉ may
cotton. Bao được xôm lỗ thoát khí tốt, bao chứa 50 kg ximăng +1.

18


* Bao PP 1 lớp: Bao một lớp gồm: Manh PP có tráng màng, có tạo hông, may chỉ
cotton gấp mép có giấy nẹp. hệ thống đục lỗ siêu nhỏ cho thoát hơi, sử dụng
đựng xi măng.

3.Nạp nguyên liệu

12.Nạp nguyên liệu

4.Vận hành máy sợi

13.Lòn manh

KTS: Kiểm tra sợi

14.Vận hành máy tráng

5.Quấn cuộn sợi

KTM2: Kiểm tra manh tráng

6.Nhận sợi

15.Quấn cuộn manh

7.Xỏ chỉ

16.Nhận cuộn tráng, mực, dung
moi, ban in, trục in

KTD: Kiểm tra dệt

8.Vận hành dệt

17.Pha, nạp mực

phẩm

24.Vận hành máy may giấy 2 đầu

KTTP: Kiểm tra bao thành phẩm

25.Nhận bao thành phẩm

26.Đóng gói

KTĐG: Kiểm tra đóng gói

27.Nhập kho

Hình 3.2. Quy trình sản xuất bao bì

21


3.4.2. Quy trình nhập khẩu của công ty
NGHIÊN CỨU
THỊ TRƯỜNG

GỬI THƯ
ĐẶT HÀNG

KÝ KẾT
HỢP ĐỒNG

THỰC HIỆN


điều khoản của hợp đồng. Đơn vị hợp đồng dựa vào cơ sở đó, làm đơn xin mở
L/C theo mẫu của ngân hàng.
Thuê tàu chở hàng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, việc ai thuê tàu, thuê
theo hình thức nào được tiến hành dựa theo căn cứ: điều khoản hợp đồng, đặc
điểm của hàng hóa và điều kiện vận tải. Nếu điều kiện cơ sở giao hàng là FOB thì
bên nhập khẩu phải thuê tàu chở hàng. Công ty thường chọn điều kiện CIF nên
nghĩa vụ thuê tàu thuộc về người bán.
Mua bảo hiểm: Việc mua bảo hiểm là rất cần thiết cho hợp đồng ngoại
thương vì quá trình vận chuyển hàng hóa khá phức tạp, dễ gặp trắc trở và tốn
nhiều thời gian. Chứng từ bảo hiểm là chứng từ do người bảo hiểm cấp cho người
được bảo hiểm, nhằm hợp thức hóa hợp đồng bảo hiểm và được dùng để điều tiết
quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm.
Làm thủ tục hải quan: Hàng hóa đi ngang qua biên giới quốc gia để nhập
khẩu đều phải làm thủ tục hải quan. Quy trình thủ tục hải quan đầy đủ gồm 5
bước cơ bản. Đối với từng lô hàng cụ thể tùy theo hình thức, mức độ kiểm tra do
Lãnh đạo chi cục quyết định mà có thể trải qua đủ cả 5 bước hoặc chỉ trải qua một
số bước.
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra sơ bộ, đăng ký tờ khai, quyết định hình
thức mức độ kiểm tra.
Bước 2: Kiểm tra chi tiết hồ sơ, thuế, giá.
Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa.
Bước 4: Thu lệ phí hải quan, đóng dấu “Đã làm thủ tục hải quan” và trả tờ
khai cho người khai hải quan.
Bước 5: Phúc tập hồ sơ.
Nhận hàng: Hàng hóa nhập khẩu về qua cửa khẩu phải được kiểm tra. Mỗi cơ
quan tiến hành kiểm tra theo chức năng, quyền hạn của mình. Đơn vị nhập khẩu
với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn cũng phải kiểm tra hàng háo và lập
thư dự kháng nếu thấy nghi ngờ hoặc thật sự hàng hóa có tổn thất. Nếu hàng hóa
không có vấn đề và đúng như hợp đồng thì sẽ được chuyển về kho của doanh


304.520

320.336

312.852

150.346

138.667

Chi phí

273.163

287.310

289.784

140.860

133.248

Lợi nhuận

31.357

33.026

23.068

đương 5,3%. Bước sang năm 2013, doanh thu giảm nhưng chi phí vẫn tiếp tục
tăng so với năm 2012 nên làm lợi nhuận giảm 9.958 triệu đồng, tương ứng
30,2%. Tình hình lợi nhuận của công ty có diễn biến xấu đi khi sáu tháng đầu
năm 2014 lợi nhuận tiếp tục giảm 4.067 triệu đồng so với sáu tháng đầu năm
2013.
3.6. Định hướng phát triển của công ty SADICO Cần Thơ trong thời
gian tới
Với nhận định tình hình kinh tế 2014 đã có dấu hiệu khởi sắc, tuy vậy vẫn
còn nhiều khó khăn tiềm ẩn, nhất là sự cạnh tranh gay gắt sản phẩm bao dán của
các đối thủ mới. Theo quan điểm thận trọng, SADICO vẫn chủ trương không đặt
nặng chỉ tiêu tăng trưởng mà định hướng phát triển công ty theo hướng ổn địnhbền vững. Tiếp tục cải tiến và phát triển sản phẩm mới với định hướng phát triển
thị phần và thị trường, giá thành rẻ và thân thiện với môi trường.
SADICO quyết tâm thực hiện 5 mục tiêu chính như sau:
1- Tập trung chuyên sâu kỹ thuật bao xi măng truyền thống có cải tiến. Nổ
lực tìm them nhiều giải pháp mới – Cam kết bao xi măng của SADICO
đạt đủ 5 chỉ tiêu: bền hơn,rẻ hơn,đẹp hơn, sạch hơn và tiện ích hơn.
2- Tiếp tục tranh giành các thị phần mới: Phúc Sơn, Công Thanh,..Phấn đấu
năm 2014 đạt vượt chỉ tiêu sản lượng 45 triệu bao.
3- Mở rộng thị trường cuộn gạo và các loại cuộn tráng màng BOPP, phấn
đấu tăng lên 10 triệu bao/năm.
4- Tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật công nghệ bao ADSTAR. Chọn thời điểm tốt
nhất, thuận lợi nhất sẽ đầu tư thiết bị mới đa dạng hóa sản phẩm.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status