Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả lớp 4,5 ở trường tiểu học - Pdf 43

MỤC LỤC
1. Mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài………………………………………………
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………............
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………… ..
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.............…………
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
2.3. Các giải pháp và biện pháp tổ chức thực hiện......................
2.4. Hiệu quả của sáng kiến ........................................................
3. Kết luận, kiến nghi:
3.1 Kết luận ....................................………………………………
3.2 Kiến nghị……………………………………………………

trang
trang
trang
trang

2
3
3
3

trang 3
trang 3
trang 5
trang 14
trang 15
trang 16

về phía học sinh, nhiều em chỉ dừng lại ở mức độ trả lời, liệt kê chi tiết các bộ
phận của sự vật; hoặc các hình ảnh theo gợi ý của giáo viên, khiến người học dễ
rơi vào tư duy máy móc theo lối chép văn mẫu. Mặt khác, với học sinh lớp 4,
lớp 5, vốn từ vựng mà các em học được vẫn còn khá đơn giản, nếu không chú
trọng trau dồi về ngôn ngữ, học sinh sẽ bó hẹp trong phạm vi sách vở và sẽ có
vốn từ vựng nghèo nàn. Chắc chắn khi ấy, việc diễn đạt câu văn, ý văn sẽ rất hạn
chế. Bài văn miêu tả của các em sẽ viết theo lối liệt kê, khiến câu văn hết sức
khô khan. Vì thế, chất lượng bài viết của học sinh thấp, khó cải thiện, hình ảnh
miêu tả hết sức ngô nghê tạo ra một thói quen không tốt cho các em tiếp tục học
lên ở các bậc học cao hơn. Là Hiệu Trưởng tôi luôn băn khoăn là làm thế nào
nâng cao chất lượng dạy - học văn miêu tả ở lớp 4, 5. Chính vì vậy, tôi chọn đề
tài “ Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả
lớp 4, 5 ở trường Tiểu học”
1.2. Mục đích nghiên cứu.
2


Nghiên cứu đề tài nhằm phân tích thực trạng việc dạy học văn miêu tả ở
trường tiểu học Đông Vệ 1và các trường tiểu học khác. Từ đó làm rõ những tồn
tại, hạn chế; nguyên nhân của những tồn tại đó nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học văn miêu tả lớp 4, 5 ở trường Tiểu học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Việc dạy và học văn miêu tả lớp 4,5 ở trường Tiểu học Đông Vệ 1 Thành
Phố Thanh Hóa
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin; Phương pháp
thống kê, xử lý số liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
tổng kết kinh nghiệm giáo dục; phương pháp nghiên cứu sản phẩm ...
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận


nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn có những giáo viên chưa nhận thức được hết tầm
quan trọng của phân môn Tập làm văn. Các tiết dạy chưa được đầu tư sâu suy
nghĩ, những phương pháp giảng dạy phù hợp với tính chất môn học chưa được
chú trọng. Đặc biệt là, tiết trả bài chưa củng cố lý thuyết gắn với thực tiễn đời
sống mà chỉ làm cho qua loa. Vì vậy, các em không biết được bài viết của mình
đã đạt được những ưu điểm gì, những lỗi nào cần khắc phục, sửa chữa, đâu là
chỗ cần uốn nắn để rút kinh nghiệm. Chính cách dạy này đã làm hạn chế khả
năng viết văn miêu tả của học sinh.
Tôi đã tiến hành dự 8 tiết Tập làm văn, kèm theo một số tiết khảo sát chất
lượng. Tôi nhận thấy việc dạy và học phân môn Tập làm văn có những tồn tại
như sau: các tiết học thường kéo dài quá thời gian qui định, còn rất nhiều học
sinh còn mơ hồ về văn miêu tả. Bên cạnh đó, kĩ năng làm văn của các em còn
một số hạn chế như: khả năng quan sát, miêu tả còn chung chung, chưa thể hiện
rõ đặc điểm nổi bật của từng chủ đề mình miêu tả. Nhiều học sinh chưa biết sử
dụng những từ ngữ gợi tả cho hiệu quả, các thủ pháp nghệ thuật trong bài văn
còn giản đơn, cảm xúc của mình khi miêu tả khá gượng ép. Một điều đáng suy
nghĩ nữa là vốn từ ngữ diễn đạt ở các em còn nghèo.
Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh viết văn miêu tả chưa tốt:
*Về phía giáo viên:
Cách dạy của nhiều giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc vào sách giáo khoa
và sách giáo viên, ít sáng tạo, chưa sinh động.
Trong chương trình thể loại văn miêu tả, các bài kiến thức không liền mạch
nên bài dạy chưa sâu.
Đại đa số giáo viên chỉ chú ý đến việc học ở lớp mà chưa chú ý đến việc
hướng dẫn các em tìm hiểu thêm sách, báo...
Để đối phó với việc học của học sinh làm bài kém, để đảm bảo chất lượng
kiểm tra ... nhiều giáo viên cho học sinh chép bài mẫu. Vì vậy dẫn đến tình trạng
cả thầy và trò nhiều khi bị lệ thuộc vào bài mẫu, không thoát khỏi bài mẫu.
* Về phía học sinh:

Cha mẹ các em hầu như không quan tâm đến các em do phải vất vả mưu
sinh, do nhận thức chưa đúng về giáo dục, do trình độ không có…
* Kiểm nghiệm
Đầu năm học tôi và giáo viên chủ nhiệm kết hợp tiến hành khảo sát học
sinh về kiểu bài văn tả cảnh của khối lớp 5. Kết quả thu được như sau:
TSHS
120

Điểm 9-10
SL
TL
0
0

Điểm 7-8
SL
TL
36
30

Điểm 5-6
SL
TL
72
60

Điểm dưới 5
SL
TL
12

kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác
làm giàu thêm vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ,
hình thành nhân cách cho học sinh.
Quy trình dạy Tập làm văn:
Trong phần dạy bài mới, giáo viên phải nắm vững quy trình dạy đối với hai
loại bài Tập làm văn: loại bài dạy lý thuyết và loại bài dạy thực hành. Khi dạy,
từng loại bài, giáo viên cần chú ý đến các đối tượng học sinh của lớp: có nội
dung cho học sinh khá, giỏi; có nội dung cho học sinh trung bình, yếu,...
2.3.1.2. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài:
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, cho nên yêu cầu
hàng đầu là các em phải viết đúng đề bài. Một đề bài đưa ra cho học sinh viết
thường ẩn chứa đến 3 yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội
dung, yêu cầu về trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài ở tuần 4 lớp 5:
“ Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn cây (hay
trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Khi xác định yêu cầu trọng tâm của đề bài, giáo viên phải làm sao giúp học
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội
dung bài viết: Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên
các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
2.3.1.3 Rèn luyện kĩ năng quan sát, tìm ý cho học sinh.

- Trên bờ ruộng: mấy bác nông dân dắt trâu về, một số người đi thăm đồng.
- Trên trời: Đàn chim bay về tổ, tiếng sáo diều vi vu vi vút...
- Buổi chiều muộn: mặt trời còn cao sau đó dần dần xuống thấp hơn, những
tia nắng nhạt dần, người đi lại lác đác.
- Khi mặt trời lặn hẳn: cánh đồng vắng vẻ chỉ còn tiếng gió thổi, trời nhá nhem tối.
2.3.1.4. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết.
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý trước khi làm thành một
bài văn hoàn chỉnh. Có lập được dàn bài thì mới có thể tìm ý, sắp xếp ý, viết
thành một bài văn mạch lạc, bố cục rõ ràng, ý văn trong sáng.
Sau khi tìm ý, học sinh sẽ sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết bài.
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh mục đích của từng đoạn văn. Đoạn mở
bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết đối tượng miêu tả.
Đoạn thân bài là bức tranh vẽ bằng lời hình dáng, đường nét, cử chỉ hoạt động,
màu sắc của đối tượng. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu ta mới vẽ
được một nhân vật mang những cá tính riêng. Bạn học sinh trong bài là một học
sinh vùng nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn với bất
cứ một bạn học sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân của
người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo viên cần
hướng dẫn học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng kiểu như:
Em rất yêu quý bạn…
2.3.1.5. Hướng dẫn học sinh diễn đạt có nghệ thuật.
* Hướng dẫn học sinh tập diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh
Đối với phần này, diễn đạt câu văn có hình ảnh rất phù hợp với thể loại văn
miêu tả. Trước hết, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu một số đoạn văn
7


mẫu hoặc những đoạn viết hay của học sinh để nhận xét về cách miêu tả, cách
sử dụng các biện pháp nghệ thuật.Từ đó, sẽ dễ dàng cho việc hướng dẫn các em
diễn đạt bằng câu văn có hình ảnh và sử dụng một số biện pháp tu từ đã học

Như vậy, việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong miêu tả rất quan
trọng. Sử dụng so sánh tu từ sẽ giúp các em thể hiện kín đáo mà sâu sắc tình
cảm, cảm xúc, thái độ, và sự đánh giá về đối tượng; làm cho đối tượng trở nên
đẹp đẽ, sinh động, cụ thể, hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý và dễ gợi liên tưởng bất
ngờ độc đáo cho người đọc, người nghe. Cũng như so sánh, nhân hoá được sử
dụng trong miêu tả rất hữu hiệu vì nó là con đường ngắn nhất đưa sự trừu tượng,
khô khan đến với nhận thức của con người.
* Luyện cho học sinh xây dựng mở bài, kết bài
8


Giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ: Nếu viết mở bài hay, bài văn sẽ cuốn
hút người nghe, người đọc. Kết bài hay, hấp dẫn sẽ để lại trong lòng người đọc
ấn tượng nhớ mãi, khó quên. Do vậy, phần mở bài và kết bài trong bài văn là rất quan trọng.
Phần mở bài:
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh viết phần mở bài theo cách trực tiếp
hoặc gián tiếp. Có thể mở bài bằng một câu hoặc bằng một đoạn văn nhưng
không được phép tách rời nội dung đã xây dựng được. Dù mở bài bằng cách nào
thì cũng phải đạt được yêu cầu là giới thiệu được đối tượng định tả. Tuỳ nghệ
thuật vào bài của từng em, giáo viên không nên gò bó, áp đặt. Học sinh mở bài
bằng những cách khác nhau nhưng vẫn đảm bảo nội dung một cách tự nhiên với
sự nhận thức và tình cảm của chính mình.
Ví dụ : Khi học sinh tả cây trong vườn mà em yêu thích, học sinh có thể
mở bài theo những cách sau: “ Bên cạnh bờ ao nhà em, một hàng xoan đang
mùa hoa nở, soi vẻ đẹp rực rỡ của mình trên mặt nước”. (Mở bài trực tiếp)
Hoặc: “ Mười năm trước đây, ông em đã trồng một hàng xoan bên bờ
ao.Giờ là tháng ba, những cây xoan ấy đã lớn và đang khoe những chùm hoa
đẹp nhất của mình.” (Mở bài gián tiếp)
Qua hai cách mở bài trên, giáo viên cần cho học sinh nhận xét cách mở bài
nào hay hơn, sâu hơn. Từ đó, giáo viên khuyến khích học sinh viết mở bài theo

là các em tự do viết hoa. Để khắc phục tình trạng này, ngay khi luyện viết từng
đoạn, giáo viên cần giúp học sinh hiểu, biết cách ngắt các ý diễn đạt bằng các dấu
câu như dấu phẩy, dấu chấm. Trong các tiết làm văn đầu tiên, việc hướng dẫn sử
dụng dấu câu đòi hỏi giáo viên phải thật sự kiên trì, tận tình, công phu để tập thói
quen cho học sinh. Cụ thể là: Cho học sinh đọc đoạn văn mình viết, nêu chỗ dùng
dấu câu, nếu dấu câu dùng chưa đúng, giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát hiện
lỗi sai vì sao lại chưa đúng và cách sửa lại như thế nào cho phù hợp. Hoặc nếu chưa
có dấu câu nào thì yêu cầu học sinh học sinh đọc kĩ lại từng câu, xem từng câu diễn
đạt nội dung gì, ý gì, từ đó có cách sử dụng dấu câu phù hợp. Ở phần này, giáo viên
tập trung vào những học sinh thường sử dụng sai dấu câu. Qua việc hướng dẫn
những học sinh thường sử dụng dấu câu sai, những học sinh khác cũng tự soát bài
và rút kinh nghiệm cho bản thân trong mỗi bài viết.
Bên cạnh đó, giáo viên cần giúp học sinh biết viết câu văn ngắn gọn. Khi
luyện cho học sinh viết từng đoạn văn, đặc biệt là viết các đoạn ở thân bài, giáo
viên hướng dẫn học sinh diễn đạt câu văn rõ ràng, mạnh lạc, sinh động nhưng lại
phải giàu hình ảnh bằng cách sử dụng hợp lý các từ láy, từ tượng thanh, tượng
hình, từ ghép.... có thể mở rộng nòng cốt câu nhưng lời lẽ phải rõ ràng, không
lủng củng, trùng lặp. Trong các tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, giáo viên nên
cho học sinh viết nháp, gọi một số học sinh trình bày, cả lớp và giáo viên cùng
sửa cách dùng từ, cách diễn đạt, đưa ra các phương án diễn đạt hay để học sinh
học tập.. Sau đó học sinh mới viết lại đoạn văn vào vở. Với những câu văn học
sinh viết dài dòng mà không sáng ý, giáo viên nên cho học sinh nêu ý cần thông
báo là gì rồi tập cho học sinh lựa chọn từ ngữ, sắp xếp câu để viết ngắn gọn mà
vẫn đảm bảo nội dung.
Việc lựa chọn, sử dụng phù hợp các từ ngữ trong mỗi câu văn là một kỹ
năng khó đòi hỏi học sinh phải thực hành viết nhiều mới có được. Có thể do
tâm lý phải viết nhiều, học sinh sẽ ngại viết, ngại làm bài. Do đó, giáo viên
thường xuyên động viên, khuyến khích giúp các em dần dần say mê với việc
học làm văn. Đặc biệt giáo viên cần giúp các em bố cục bài viết rõ 3 phần.
Hết mỗi phần mở bài, thân bài, kết bài phải xuống dòng. Trong phần thân

- Nó đã là cây chuối to đĩnh đạc.
- Cành bàng xòe ra như những nan sắt của chiếc ô khổng lồ.
* Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của một đoạn văn
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc
một đoạn văn hay để cảm nhận được cái hay, cái đẹp, các em sẽ hình thành
những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập làm văn tốt hơn, nhất là văn miêu tả.
- Để hướng dẫn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, giáo viên
hướng dẫn học sinh hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏi
xoay quanh nội dung đoạn văn. Kết quả học sinh đặt ra các câu hỏi như:
Đoạn văn trên miêu tả đặc điểm gì của nhân vật?
Đoạn văn trên có những từ láy nào gợi tả hình ảnh của nhân vật?
Đoạn văn trên có những hình ảnh so sánh nào?
Em có suy nghĩ gì sau khi đọc đoạn văn trên? …
* Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn kiến thức văn học
Tích lũy văn học là điều kiện tối thiểu để có thể học tốt môn tiếng Việt,
nhất là phân môn Tập làm văn. Giáo viên đã cho học sinh sử dụng sổ tay chính
tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trường hợp mắc lỗi chính tả đã được
sửa chữa. Trong môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực để giúp
học sinh trau dồi vốn kiến thức văn học. Sổ tay văn học để cho học sinh ghi chép
các ý hay, câu đoạn văn hay. Việc ghi chép này không nhất thiết để cho học sinh
khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhưng trước hết, mỗi lần ghi chép, các em sẽ được
11


một lần đọc, ghi nhớ, bắt chước, lâu dần thành thói quen. Khi làm bài, những từ
ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng làm văn.
2.3.1.8. Phát huy tính tích cực của các đối tượng học sinh trong giờ học
Để phát huy được tính tích cực của học sinh, giáo viên cần chú ý tới tất cả
mọi đối tượng học sinh. Muốn vậy, giáo viên cần phải phân định theo nhiều mức
độ (Hoàn thành tốt, Hoàn thành và Chưa hoàn thành), có cách tổ chức dạy, học

bài của bạn; thấy được ưu điểm, hạn chế trong bài làm của mình, của bạn, biết
sửa lỗi, viết đoạn văn hay hơn.
Để thực hiện tốt tiết trả bài, giáo viên phải chuẩn bị tốt các việc như sau :
- Chấm bài viết của học sinh thật kĩ, phát hiện và ghi lại những ưu điểm, hạn
chế phổ biến của bài văn : bài hay, đoạn hay, câu hay, ý sáng tạo, từ hay, bố cục
12


chặt chẽ; dùng từ chưa chính xác, lặp từ, lặp ý, câu chưa hoàn chỉnh (thiếu thành
phần, chưa rõ nghĩa), lỗi chính tả.
- Ghi nhận xét cụ thể của giáo viên vào bài của học sinh.
- Giáo viên chọn đoạn, bài văn tiêu biểu của lớp có thể chọn thêm bài của
năm trước cho các em tham khảo.
- Chuẩn bị câu hỏi gợi mở (dẫn dắt học sinh tự phát hiện, nhận thức được
sai sót trong bài viết của mình, của bạn), giáo viên sử dụng phương pháp nêu
vấn đề kết hợp giảng giải để dạy tiết trả bài.
Ví dụ: khi dạy tiết học trả bài văn miêu tả đồ vật (tuần 26- Lớp 5). Sau khi
chấm bài xong, giáo viên cần nêu nhận xét chung về bài làm của học sinh. Nhận
xét những ưu điểm mà học sinh đã làm được và những tồn tại học sinh còn mắc
phải. Sau đó, giáo viên phát bài cho học sinh, yêu cầu các em đọc lại lời phê của
giáo viên và cho học sinh đổi bài cho nhau trong một nhóm đôi, tìm ra những lỗi
sai trong bài như: sai về chính tả, cách dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp
nghệ thuật chưa phù hợp... Sau đó, học sinh tự nêu lỗi sai trong bài và tự tìm
cách sửa lỗi. Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn cả lớp cùng nêu cách sửa lỗi chung.
Bước tiếp theo, giáo viên đọc mẫu những đoạn văn, bài văn hay cho học
sinh nghe và nêu nhận xét đoạn văn hay chỗ nào? Vì sao? Trên cơ sở đó, học
sinh có thể học tập cách viết của bạn để viết lại một đoạn văn khác hay hơn.
Chẳng hạn, viết lại phần thân bài, mở bài theo cách gián tiếp và kết bài theo cách mở rộng.
Tiết trả bài là rất quan trọng. Vì đây là dịp cho mỗi học sinh có điều kiện
nhìn lại bài của mình, so sánh với bài của bạn mình và nhận ra những mặt mạnh

có tác dụng gợi tả, gợi cảm; bước đầu biết sử dụng biện pháp tu từ đơn giản khi
viết văn. Lời văn, ý văn của các em không còn mang nặng tính liệt kê hay kể lể nữa.
Thông qua việc dự giờ thăm lớp thường xuyên, qua quan sát trực tiếp hoạt
động dạy và học trên lớp cho thấy kết quả học tập phân môn Tập làm văn lớp
4,5 nói chung và văn miêu tả nói riêng được thể hiện ở chỗ: Các em nói, viết
được những đoạn văn, bài văn đúng với yêu cầu của đề bài. Các em say mê, ham
thích đọc và nghe các tác phẩm văn học, mong muốn học cách diễn đạt tác phẩm
văn học chuẩn mực, tinh tế; biết vận dụng vào việc bày tỏ ý nghĩ và tình cảm tự
nhiên, chân thật và sâu sắc trong bài văn. Qua các bài Tập làm văn, các em có cơ
hội bộc lộ vốn sống thực tế của mình, có ý thức viết được bài văn đúng đến bài
văn hay. Từ đó, các em có điều kiện cảm nhận được vẻ đẹp của thơ văn một
cách tinh tế và sâu sắc.
Sau một năm học chỉ đạo giáo viên lớp 4, lớp 5 thực hiện một số giải pháp
dạy học Tập làm văn nêu trên, tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy môn Tiếng
Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng của nhà trường đã có một số
tiến bộ rõ rệt. Nhờ vậy, chất lượng phân môn Tập làm văn cũng như môn Tiếng
Việt đã được nâng lên. Kết quả khảo sát khả năng làm văn vừa qua đối với phân
môn Tập làm văn của 105 học sinh lớp 4 và 120 học sinh lớp 5 năm học 20162017 như sau:
Kết quả của khối lớp 5:

TSHS
120

Điểm 9-10
SL
TL
25
20,8

Điểm 7-8

1,9

Ghi
chú

Kết quả của khối lớp 4:
TSHS
105

Điểm 9-10
SL
TL
20
19

Điểm 7-8
SL
TL
55
52,4

Như vậy, kết quả khảo sát phân môn Tập làm văn của khối lớp 4, 5 cho thấy
học sinh có sự tiến bộ rõ rệt. Đa số học sinh nắm được bố cục bài viết, kỹ năng
sử dụng ngôn ngữ được nâng cao. Các biện pháp tu từ Tiếng Việt được sử dụng
nhuần nhuyễn hơn. Việc dạy học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên,
14


định kỳ sẽ giúp học sinh tiến bộ hơn, chất lượng làm bài Tập làm văn của hai
khối lớp 4, 5 có kết quả. Kiến thức và kỹ năng đạt Hoàn thành trở lên đối với

lại những thành công trong giao tiếp và cuộc sống mỗi người. Điều này sẽ tạo ra
môi trường giáo dục thân thiện, nhân văn. Với mong muốn nâng cao chất lượng
môn Tiếng Việt cấp Tiểu học, tôi hy vọng môn văn sẽ là chiếc chìa khóa công
cụ, góp phần cho các em hiểu biết các môn học khác tốt hơn.
3.2. Kiến nghi
1. Đối với cấp trên : Cần điều chỉnh phân phối chương trình Tập làm
văn lớp 4-5, dành thêm một số tiết Tập làm văn cho học sinh rèn kỹ năng viết
bài và giáo viên trả bài kỹ lưỡng hơn. Các bài văn cùng thể loại cần được sắp
xếp liền mạch, tạo ra các Modul giáo dục, giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn. Bổ
sung thêm các bài tập đọc cung cấp kiến thức viết văn miêu tả cho học sinh.
15


2. Đối với nhà trường : Cần nâng cao chất lượng chuyên môn, mở các
chuyên đề về văn miêu tả, bàn bạc, rút kinh nghiệm chung
3. Đối với các đồng chí giáo viên dạy lớp 4- 5 : Mỗi thầy, cô giáo cần phải
đầu tư hơn nữa về kiến thức thực tế, mạnh dạn đổi mới phương pháp, cải tiến
phương tiện dạy học cho mỗi giờ học.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc chỉ đạo nâng cao chất
lượng dạy học văn miêu tả ở lớp 4- 5. Trong quá trình thực hiện, sẽ không tránh
khỏi thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến từ hội đồng khoa học các cấp, giúp
tôi thực hiện nhiệm vụ quản lí và giảng dạy ngày một tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Đông Vệ, ngày 10 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thi Hiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status