SKKN: Để góp phần nâng cao hiệu quả quả dạy học phần làm văn trong chương trình THPT - Pdf 43

A. Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc rèn luyện kĩ
năng nói, viết, nghe, đọc; góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, hình
thành nhân cách cho học sinh, hướng tới những tình cảm tốt đẹp như
lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng…Vì thế, việc đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung và phân môn Làm văn nói
riêng càng được đặt ra như một vấn đề cấp bách. Dạy học làm sao để
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học,
bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
Là một giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT, tôi luôn trăn
trở làm gì, làm như thế nào để nâng cao hiệu quả dạy học phần Làm văn,
bởi nhiều lẽ:
+ Thứ nhất là bởi dạy văn là công việc rất khó, dạy Làm văn lại
càng khó hơn.Vì dạy văn là một khoa học, đồng thời cũng là một nghệ
thuật. Dạy Văn suy cho cùng là hướng tới đích: Giải mã văn bản của
người và tạo lập văn bản của mình. Nếu trò không biết cách tạo lập được
văn bản thì coi như không “tiêu hóa” được kiến thức của hai phân môn
Văn học và Tiếng Việt. Con tằm ăn lá dâu để nhả ra tơ hay nhả ra lá dâu
là được quyết định ở khâu làm văn này. Do đó, việc dạy học Làm văn là
công việc khó khăn nhất, quan trọng nhất trong môn học. Và nếu không
làm được văn thì việc học văn giỏi đến mấy cũng trở nên vô nghĩa.
+ Thứ hai, việc học văn, làm văn lại càng quan trọng hơn với lứa
tuổi học sinh THPT. Đây là lứa tuổi mà các em tạo lập cho mình những
bước đệm vững chắc, những hành trang cơ bản để bước vào đời, lứa tuổi
chuẩn bị trở thành một công dân thực thụ. Bài làm văn không chỉ góp
phần quyết định việc đỗ, trượt Đại học (với những em khối thi có môn
Ngữ văn) mà còn mang đến nhiều giá trị khác. Khi rời ghế trường phổ
thông các em sẽ phải hòa mình, va chạm với muôn mặt đời thường. Vì
vậy, cần hơn bất kì lúc nào, môn Ngữ văn nói chung và phân môn Làm
văn nói riêng phải giúp các em kiến tạo nên “năng lực người”, tạo cho

sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ xin bàn một số giải pháp cụ thể mà tôi đã
áp dụng trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Hậu
Lộc I.
2. Đối tượng nghiên cứu: Phân môn Làm văn trong chương trình Ngữ
văn ở THPT
3. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp thống kê, phân
loại, so sánh, phân tích, tổng hợp.
B. Giải quyết vấn đề
I. Thực trạng dạy và học phân môn Làm văn ở THPT
1. Nội dung chương trình
+ Tỉ lệ tiết dạy Làm văn trong chương trình khá nhiều, chiếm hơn 1/3
dung lượng của môn Ngữ văn. Cụ thể, ở chương trình Cơ bản, lớp 10 có
35/105 tiết, lớp 11 có 37/123 tiết, lớp 12 là 31/105 tiết; ở chượng trình
Nâng cao, lớp 10 có 43/140 tiết, lớp 11 có 46/140 tiết, lớp 12 là 51/140
tiết. Các tiết Làm văn được bố trí xen kẽ với các tiết Văn học và Tiếng
Việt theo chủ trương tích hợp ba phân môn trong môn Ngữ văn. Đó là
một chủ trương đúng đắn, phù hợp và đã phần nào phát huy được thế
mạnh của bộ môn. Song, sự chẻ nhỏ các tiết Làm văn cũng khiến giáo
viên gặp khó khăn khi bao quát, hệ thống, xâu chuỗi kiến thức của phân
môn trong cả cấp học.
+ Mặt khác, việc biên soạn một số tiết dạy trong chương trình chưa
thực sự hiệu quả. Ví dụ như tiết 62 Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn
trích văn xuôi (Ngữ văn 12, Cơ bản, tập 2) ngữ liệu đưa ra khảo sát
chưa phù hợp với nội dung bài học. Nội dung tiết học là nghị luận về
2


một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi nhưng ngữ liệu đưa ra chỉ có hai
đề nghị luận về tác phẩm, không có đề nghị luận về đoạn trích. Hơn nữa

gì?”, “Viết như thế nào?”. Thiết nghĩ, dạy học làm văn cũng phải như
vậy. Trước khi xác định cách dạy sao cho hiệu quả nhất, theo tôi cần phải
nắm chắc dạy phần Làm văn nhằm mục đích gì? Để đạt được mục đích
ấy, nội dung chương trình của cả cấp học đã kết cấu như thế nào?
1.1. Mục đích của phân môn Làm văn
Phân môn Làm văn ở THPT có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh
kiến thức về các kiểu loại văn bản. Từ đó các em biết cách tạo lập các
kiểu văn bản ấy trong nhà trường cũng như trong cuộc sống. Như vậy,
đích hướng tới là dạy học sinh làm văn chứ không phải dạy một môn
3


khoa học nghiên cứu về làm văn; dạy học sinh tạo lập văn bản một cách
thành thạo chứ không phải dạy các em trở thành nhà thơ, nhà văn.
Vậy, học làm văn để làm gì? “Mục đích của phần làm văn trong
nhà trường là giúp người học biết suy nghĩ trước một vấn đề văn học, xã
hội hay một hiện tượng trong cuộc sống và biết diễn đạt, trình bày
những suy nghĩ đó một cách sáng sủa, rõ ràng…Học làm văn là học
cách rèn luyện để có cả hai khả năng: biết nghĩ và biết diễn đạt suy
nghĩ”(Ngữ văn 12, Nâng cao, tập 2, trang 206)
1.2. Nội dung chương trình phân môn Làm văn
Môn Ngữ văn là môn học tích hợp. Do đó nội dung kiến thức, kĩ
năng giữa ba phần Văn học, Tiếng Việt và Làm văn có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, được sắp xếp đan lồng, xen kẽ. Chính vì thế, khá nhiều
giáo viên cảm thấy lúng túng trong việc nhận diện tính hệ thống của
phân môn để có cách dạy cho phù hợp. Nếu nhìn bao quát thì nội dung
chương trình khá khoa học.
* Lớp 10:
Phần Làm văn tập trung ôn tập và rèn luyện lại các kiểu văn bản
đã học ở trung học cơ sở như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị

* Lớp 11:
Phần Làm văn tập trung vào các thao tác nghị luận chưa học như:
Lập luận phân tích, lập luận so sánh, lập luận bác bỏ và lập luận bình
luận. Bốn thao tác được chia đều cho hai học kì và thao tác nào cũng
được luyện tập cả về nghị luận xã hội, nghị luận văn học. Cuối cùng là
vận dụng kết hợp các thao tác lập luận đó.
Ngoài ra, ở lớp 11 các em còn được học cách tóm tắt văn bản nghị
luận.
* Lớp 12:
Phần Làm văn tập trung vào tổng kết, củng cố các dạng bài nghị
luận và kĩ năng hoàn chỉnh bài văn:
+ Nghị luận xã hội với ba dạng bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí;
nghị luận về một hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội
trong tác phẩm văn học.
+ Nghị luận văn học với ba dạng chủ yếu: Nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ; nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi và nghị
luận về một ý kiến bàn về văn học.
+ Kĩ năng hoàn chỉnh bài văn bao gồm: Kĩ năng xây dựng kết cấu bài
văn nghị luận; kĩ năng lựa chọn, nêu luận điểm và sử dụng luận cứ; kĩ
năng mở bài, thân bài, kết bài; kĩ năng diễn đạt và trình bày một bài
văn…
Như vậy nhìn tổng thể, chúng ta nhận ra rằng nội dung trọng tâm
của cả cấp học là văn nghị luận và mỗi năm các em thực hành viết 7 bài
văn với chương trình Cơ bản, 8 bài với chương trình Nâng cao. Ngoài ra,
một số văn bản ứng dụng mới đưa vào chương trình, mỗi lớp các em sẽ
được học một vài loại văn bản mới như: Lớp 10 là “Lập kế hoạch cá
nhân” và “Viết quảng cáo”; Lớp 11 học văn bản “Phỏng vấn và trả lời
phỏng vấn, Bản tin; lớp 12 học Phát biểu theo chủ đề và phát biểu tự do,
Xây dựng đề cương diễn thuyết, Văn bản tổng kết
Thông qua khảo sát toàn bộ nội dung cấu trúc của phân môn Làm

phương pháp dạy học. Từ cái nhìn tổng thể về nội dung chương trình của
phân môn kết hợp với kiến thức, công cụ lí luận, điều kiện thực tế của
trường, tôi hình thành cho mình phương pháp dạy phù hợp, hiệu quả. Đó
là phân các bài học theo nhóm và tìm ra phương pháp dạy phù hợp với
từng kiểu bài.
2. Phân loại và cách dạy từng nhóm bài
2.1. Phân loại
Từ cấu trúc nội dung chương trình của phân môn Làm văn, tôi
chia thành bốn nhóm bài như sau:
- Nhóm bài lí thuyết về làm văn
- Nhóm bài luyện tập, rèn kĩ năng
- Nhóm bài kiểm tra và trả bài
- Nhóm bài tổng kết, ôn tập
2.2. Cách dạy từng nhóm bài
2.2.1. Nhóm bài lí thuyết về làm văn
Đây là nhóm bài vừa củng cố, hệ thống vừa cung cấp kiến thức và
kĩ năng Làm văn mới cho học sinh. Ở nhóm bài này cần chú ý đặc biệt
đến tính tích hợp giữa Văn học và Làm văn, phân biệt nội dung và cấp
độ của một số thuật ngữ như: Phương thức biểu đạt, thao tác lập luận,
luận đề, luận điểm, luận cứ, lập luận, diễn đạt…Để dạy có hiệu quả
nhóm bài này, theo tôi nên tiến hành theo 5 bước sau:
+ Bước 1: Giúp học sinh quan sát và nhận diện nội dung bài học
6


Đây là bước đầu tiên các em tiếp xúc với bài học, vì vậy,
giáo viên có thể dẫn dắt học sinh tìm hiểu nội dung bằng hệ thống câu
hỏi: Bài học nêu lên vấn đề gì? Kết cấu bài học gồm mấy phần, nội dung
cơ bản và mối quan hệ giữa các phần? Nội dung nào là quan trọng
nhất? Điều em quan tâm nhất trong bài học này là gì?

dẫn. Như vậy, sẽ vừa giúp các em rèn luyện khả năng lập luận, nói trước
tập thể vừa tìm ra nội dung bài học mà giáo viên không phải quá “khó
nhọc”. Đồng thời, qua đó, các em cũng tự rút ra kết luận cho chính mình.
+ Bước 4: Bổ sung, điều chỉnh và chốt
Những kết luận mà học sinh rút ra là rất quan trọng và cần
được trân trọng, cổ vũ, động viên. Song không phải kết luận nào học
sinh tìm ra cũng đã trọn vẹn, chính xác. Vì nhiều vấn đề khoa học nhất là
7


các thuật ngữ, khái niệm các em phải được hiểu chính xác và thống nhất.
Vậy nên giáo viên khi đứng trước kết quả lao động của các em cần phải
bổ sung điều chỉnh và chốt một cách đầy đủ, chính xác, ngắn gọn nội
dung kiến thức các em cần có trong bài học.
+ Bước 5: Củng cố, khắc sâu
Mặc dù trọng tâm của bài học là hình thành kiến thức, kĩ năng ở
dạng lí thuyết và sẽ có tiết luyện tập phía sau.Song, giáo viên cũng nên
dành một phần thời gian của tiết học để cho các em làm một bài tập ứng
dụng nội dung kiến thức vừa được hình thành. Như vậy, sẽ giúp các em
củng cố, khắc sâu hơn lí thuyết và những bài tập còn lại ở tiết luyện tập
phía sau các em sẽ giải quyết một cách dễ dàng hơn.
2.2.2. Nhóm bài luyện tâp, rèn kĩ năng
Đây là nhóm bài có chức năng củng cố lại những lí thuyết đã được
học và rèn luyện kĩ năng làm văn cho các em. Vì vậy, kết cấu của bài
học thuộc nhóm này thường ở dạng bài tập. Với quan điểm làm sao để
vô hiệu hóa bệnh lười, lệ thuộc sách bài tập có sẵn lời giải của học sinh
và tránh lí thuyết viển vông, tăng cường tính thực hành, không biến
thành giờ “nhàn”, tôi thực hiện bằng cách:
+ Hướng dẫn học sinh phân nhóm các kiểu, dạng bài tập trong
sách giáo khoa và gợi dẫn các em thực hành giải một phần hoặc một bài

dòng giống mả hủi. Vậy mà có người lại cho rằng Thị là người thông
minh, nhân hậu, đẹp nhất làng Vũ Đại.
Suy nghĩ của em về những ý kiến trên.
+ Đề 4: Cùng nói về cái đói, cái nghèo nhưng ở “Vợ nhặt” của
Kim Lân, ta thấy cái đói đã se duyên cho một mối tình, cái nghèo lại làm
nên điều kì diệu. Còn ở “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu, ta lại thấy cái nghèo sẽ sinh ra tội ác và là căn nguyên của thói
xấu. Vì sao vậy?
Tôi không dám nghĩ trên đây là những đề văn hay nhưng phần nào
cũng khiến học sinh không chán nản, uể oải, có hứng thú làm bài và bộc
lộ cá tính, năng lực đọc hiểu của bản thân.
b. Trả bài:
Để trả được bài cho học sinh đúng thời hạn quy định và tiết trả bài
có chất lượng, giáo viên cần tích cực chấm bài. Công việc chấm bài và
trả bài là một việc làm thường xuyên của người giáo viên. Dựa vào kết
quả bài làm được định lượng bằng điểm số, giáo viên có thể đánh giá
được năng lực, tri thức và ý thức học tập của học sinh, qua đó phần nào
tự đánh giá công việc giảng dạy của mình và có những điều chỉnh thích
hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy, học. Vì vậy để giờ trả bài có tác
dụng thúc đẩy sự cố gắng vươn lên của học sinh, tôi đặc biệt qua tâm
chú ý đến một số công việc sau:
+ Chấm bài: Giáo viên phải có sự đầu tư về thời gian và trí lực.
Chấm bài văn không nên chấm theo kiểu “thủ - vĩ” nghĩa là chỉ đọc phần
mở bài và kết bài để đánh giá và cho điểm. Tuyệt đối không viết lời phê,
chấm điểm theo định kiến, ấn tượng đối với học sinh. Điều này dễ dẫn
đến việc không thấy được sự tiến bộ của học sinh có học lực yếu, trung
bình; sự chủ quan của học sinh khá giỏi. Đặc biệt, giáo viên không nên
tỏ rõ sự chê bai trên bài làm học sinh. Thay vào đó là những lời nhận xét
đánh giá, chỉ ra chỗ sai cụ thể. Nội dung lời phê phải khái quát được
những ưu, khuyết của bài làm thể hiện trên các phương diện: nhận thức

được động viên, khen thưởng, những bài tốt, những đoạn văn hay được
đưa lên làm ví dụ mẫu khiến học trò cảm thấy môn Văn không còn quá
khó, việc học làm văn không đến nỗi nhọc nhằn. Và tôi thấy đó cũng là
thành công bước đầu.
2.2.4. Nhóm bài tổng kết và ôn tập.
Đây là nhóm bài có nhiệm vụ ôn tập, củng cố lại toàn bộ kiến thức
về làm văn trong một năm học. Để tránh nặng nề, khô khan và tạo hứng
thú cho học trò, tôi thường soạn bộ câu hỏi ôn tập và tổ chức lớp dưới
hình thức trò chơi theo kiểu “Đường lên đỉnh Ôlimpia”. Lớp sẽ được
chia thành các nhóm, cá nhân của các nhóm sẽ lần lượt lên bắt thăm câu
hỏi, mỗi lượt câu hỏi cho các thành viên phải tương đương nhau về độ
khó, dễ. Cuối buổi tổng kết, tổ nào trả lời đúng được nhiều câu hỏi hơn
sẽ được nhận một phần quà. Quà có khi chỉ rất nhỏ nhưng tuổi trẻ có tính
“ganh đua” nên khiến các thành viên đều hết sức cố gắng, nỗ lực ở mức
cao nhất để không ảnh hưởng đến đồng đội. Với cách học mà chơi, chơi
mà học như vậy, tôi thấy tiết ôn tập sinh động và hiệu quả hơn.
Với những lớp học theo khối C, D, tôi cho các em ôn tập theo
từng mảng vấn đề và trình bày trước lớp. Sau đó sơ đồ hóa theo bản đồ
tư duy để các em khắc sâu nhớ kĩ.
Dù áp dụng theo cách nào đi nữa cũng nên luôn ưu tiên để học
sinh được làm việc nhiều nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất.
10


Sau quá trình tìm tòi, áp dụng các cách dạy làm văn mà các
chuyên gia nghiên cứu hướng dẫn và thực tiễn công tác giảng dạy tôi
nhận thấy quá trình dạy học Làm văn cần lưu ý:
- Thứ nhất, về mục đích phải giúp cho học sinh phân loại được các
phương thức biểu đạt, các kiểu văn bản, các dạng văn bản, các thao tác
nghị luận… để từ đó biết suy nghĩ và diễn đạt, trình bày suy nghĩ trước

- Tâm lí: học sinh háo hức, thích
thú, tâm lí thoải mái đón đợi.
- Nhận thức: Thấy rõ tầm quan
trọng của việc học làm văn. Các
em thấy trưởng thành, tự tin hơn
sau mỗi bài văn, trân trọng những
nhận xét của giáo viên và tích cực
sửa lỗi của mình.
- Hành vi: Không cảm thấy ngại
làm văn, tích cực tham gia các hoạt
động trong giờ làm văn, chủ động
thể hiện năng lực cá nhân qua việc
chấm, chữa bài cho bạn, cho mình.

Số liệu minh chứng: Từ sự chuyển biến tích cực trong tâm lí,
nhận thức, hành vi của học sinh, tôi thấy kết quả giảng dạy của bản thân
và các đồng nghiệp trong tổ bộ môn khá tốt:
11


- 93% học sinh có điểm tổng kết cuối năm môn Ngữ văn đạt loại
trung bình trở lên.
- Học sinh tham gia thi học sinh giỏi cấp tỉnh đạt chất lượng cao,
góp phần vào kết quả chung của tổ chuyên môn: Tỉ lệ : Năm học 20112012 đạt 100% trong đó có 2 giải nhất, xếp thứ 2 toàn tỉnh; năm học
2012-2013 đạt 75 %, xếp thứ 5 toàn tỉnh.
- Về thi đại học: Có nhiều em thi Đại học đạt điểm khá, giỏi góp
phần vào kết quả chung của bộ môn: Năm học 2011 -2012, học sinh đạt
điểm thi môn Văn bình quân 7,12 xếp thứ 2 toàn tỉnh.
C. Kết luận
Với những suy nghĩ và định hướng về cách dạy học Làm văn như

chuyên môn, thực hiện từ năm học 2011-2012.
4.Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn THPT
Nguyễn Thúy Hồng - Nguyễn Quang Ninh, Nhà xuất bản Giáo Dục –
2008
5. Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường
Nguyễn Huy Quát – Hoàng Hữu Bội, Nhà xuất bản Giáo Dục – 2001
6. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT chu kì III
( 2004- 2007) – Môn Ngữ văn - Quyển 1, Bộ GD ĐT - Vụ giáo dục
Trung học Nhà xuất bản Giáo Dục – 2005

13


A. Phần mở đầu………………………………………………….. 1
I. Lí do chọn đề tài……………………………………………….. 1
II. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu…………... 2
1. Phạm vi đề tài…………………………………………………. 2
2. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………

2

3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………..

2

B. Giải quyết vấn đề……………………………………………..

2

I. Thực trạng dạy và học phân môn Làm văn ở THPT……….. 2

2.2.4. Nhóm bài tổng kết, ôn tập………………………………….

10

III. Kết quả……………………………………………………….

11

C. Kết luận……………………………………………………….. 12
Tài liệu tham khảo……………………………………………….. 13
MỤC LỤC

14


15


Mục lục

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status