SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOẰNG HOÁ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
DẠY HỌC TỪ LÁY CHO HỌC SINH LỚP 4 - 5
Người thực hiện: Lương Thị Thuý Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoằng Yến
SKKN môn: Tiếng Việt
Năm học: 2010 – 2011
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Trong giáo dục, việc nắm vững tiếng nói (đặc biệt là tiếng mẹ đẻ) có ý
nghĩa quyết định. Nếu học sinh yếu kém về ngôn ngữ, nghe- đọc chỉ hiểu lơ
mơ, nói viết không mạch lạc thì không thể nào khai thác đầy đủ các thông tin
tiếp nhận từ người thầy, từ sách vở được. Bởi vậy, trong nội dung giáo dục
chúng ta phải hết sức coi trọng việc đào tạo về mặt ngôn ngữ, xem đó là một
điều kiện không thể thiếu để đảm bảo thành công trong việc thực hiện sứ
mệnh trọng đại của mình góp phần hoàn thiện nhân cách của người học sinh.
Bên cạnh đó, Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống
ngôn ngữ. Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Câu trong hệ thống ngôn ngữ
quyết định tầm quan trọng của việc dạy luyện từ và câu ở Tiểu học. Việc dạy
luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phú vốn từ của học
nghĩa gốc.
Tuy nhiên, do sự phức tạp của chính nội dung dạy học, sự khác biệt trong
sự trình bày một số khái niệm thuộc phạm vi cấu tạo củ các tác giả giáo trình
sư phạm và các tác giải sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học, việc không lý giải
những khác biệt này một cách cặn kẽ trong các chương trình đào tạo giáo viên
Tiểu học
VD: những từ “cào cào, châu chấu, ba ba, chuồn chuồn…”trong từ điển từ
láy Tiếng Việt của NXBGD Hà Nội - 1995 do Hoàng Văn Thành chủ biên đã
xếp những từ trên là từ láy. Ngược lại, theo tác giả: Đỗ Hữu Châu trong cuốn:
“Từ vựng ngữ nghĩa”- 1999 lại cho là hiện tượng trung gian giữa từ đơn đa
âm tiết và từ láy. Để tiện cho việc dạy học, tác giả này đã xếp những từ trên là
từ đơn đa âm tiết. Những quan điểm chưa thống nhất đó đang là khó khăn cho
người dạy và học từ láy, và thêm vào đó là cách trình bày các khái niệm trong
SGK Tiếng Việt Tiểu học đôi chỗ không thật rõ ràng, chính xác đã làm cho
giáo viên gặp nhiều khó khăn. Trên thực tế, nhiều giáo viên rất lúng túng
trước những câu hỏi vủa học sinh: “thuốc thang, chôm chôm, chùa chiền, đền
3
đài” là từ ghép hay từ láy? Việc phân biệt ranh giới từ, nhận diện từ ghép, từ
láy là công việc hết sức khó khăn không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối
với giáo viên.
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY - HỌC TỪ LÁY Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC
Tâm lý hiện nay, việc học về từ láy đối với các em rất ngại hay nói đúng
hơn là sợ do còn yếu và ít thực hành về từ láy. Bên cạnh đó, trong sách giáo
khoa lớp 4 có định nghĩa về từ láy: “Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần
(hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau - Đó là từ láy (SGK- TV 4- Tập 1- Trang
39). Ở đây SGK đã lấy dấu hiệu về ngữ âm, dấu hiệu nổi bật, cơ bản nhất của
ngôi sao… như những con đom đóm nhỏ. Không gian mới yên tĩnh làm sao!
Chỉ có tiếng sương đêm rơi … lên lá cây và tiếng côn trùng … trong đất ẩm.
Chị Gió chuyên cần … bay làm… mấy ngọn xà cừ trồng ven đường … đâu
đây mùi hoa thiên lí… lan toả.
(Đào Thu Phong)
(Từ láy cần điền: ra rả, nhẹ nhàng, vành vạnh, lấp lánh, từ từ, lốp bốp, rung
rung, thoang thoảng, dịu dàng)
Một số em làm như sau: “Mặt trăng tròn vành vạnh, từ từ nhô lên sau
luỹ tre. Bầu trời điểm xuyết một vài ngôi sao lấp lánh như những con đom
đóm nhỏ. Không gian mới yên tĩnh làm sao! Chỉ có tiếng sương đêm rơi ra rả
lên lá cây và tiếng côn trùng lốp bốp trong đất ẩm. Chị Gió chuyên cần dịu
dàng bay làm rung rung mấy ngọn xà cừ trồng ven đường nhẹ nhàng ,đâu
đây mùi hoa thiên lí thoang thoảng lan toả”.
Qua bài tập kiểm tra khảo sát học sinh giỏi từng giai đoạn do trường tổ
chức hoặc đề kiểm tra định kì có phần bài tập về tìm từ láy, phân biệt từ láy,
từ ghép học sinh chỉ đạt tỉ lệ từ 20 - 25 % làm đúng yêu cầu đề ra. Đi tìm hiểu
vấn đề này, tôi đã mượn các bài tập kiểm tra định kì của học sinh nhiều năm
qua và trên thực tế học sinh của hai lớp cũng như đội tuyển HSG của trường
thì tỉ lệ đạt yêu cầu của dạng kiến thức này cũng chiếm tỉ lệ 30%.
5
Từ những thực trạng trên, tôi xin mạnh dạn trình bày “Một số biện pháp
dạy tốt từ láy cho học sinh lớp 4-5” trong môn Tiếng Việt, với mong muốn có
một cách xử lý thống nhất, góp phần tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên
Tiểu học khi hướng dẫn các em cách nhận diện từ láy, nhằm nâng cao hiệu
quả của các giờ dạy Luyện từ và câu nói riêng, của môn Tiếng Việt nói chung.
6
Các tiếng trong từ đều có nghĩa. Quan hệ giữa hai tiếng trong từng từ chủ
yếu quan hệ về nghĩa (nghĩa tổng hợp). Các từ ghép này có hình thức âm
thanh ngẫu nhiên giống từ láy.
- Ngoài ra, có một số từ trong đó có một bộ phận được lặp lại nhưng không
phải là từ láy mà là từ ghép gốc Hán.
VD: Bình minh, hảo hạng, ban bố, căn cơ, hoan hỉ, chuyên chính…
Các từ trên là từ ghép gốc Hán có hình thức âm thanh ngẫu nhiên giống
từ láy, Các tiếng trong từ này đều có nghĩa.
VD: Ban bố:
+ ban : ban hành
+ bố: công bố
Các từ trên, quan hệ giữa các tiếng trong từ cũng là quan hệ về nghĩa
(nghĩa tổng hợp)
- Có những từ được kết hợp hai từ đơn. Hai từ đơn ngẫu nhiên có điểm
giống nhau về hình thức âm thanh ( giống nhau phụ âm đầu hoặc vần)
VD: sáng sớm, bế bé, lên lớp…
- Có những trường hợp có một bộ phận được lặp lại và một tiếng trong từ
bị mờ nghĩa nhưng không phải là từ láy mà là từ ghép vì tiếng bị mờ nghĩa đó
có thể khôi phục được.
VD: gậy gộc (“gộc” là gốc tre già); mưa móc (“móc” là sương buổi
sớm); thuốc thang (“thang” là dược liệu để dẫn các vị thuốc chính trong một
thang thuốc bắc hoặc thuốc nam).
Tóm lại: Khi dạy đến phần này, giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh: Khi
gặp từ có hình thức âm thanh giống nhau mà không xác định được đó là từ
ghép hay từ láy thì các em xác định nghĩa của từng tiếng trong từ. Nếu cả hai
8
tiếng đều có nghĩa thì đó là từ ghép (trừ: xanh xanh, xa xa, đỏ đỏ, cười
cười…); còn trong từ một tiếng có nghĩa và một tiếng không có nghĩa hoặc cả
Giảm nhẹ
9
Xa
Nhẹ
Đỏ
Nóng
Bực
Sạch
Lung túng
Xa xa
Nhè nhẹ
Đo đỏ
Nóng nực
Bực bội
Sạch sành sanh
Lung ta lung túng
Giảm nhẹ
Giảm nhẹ
Giảm nhẹ
Tăng mạnh
Tăng mạnh
Tăng mạnh
Tăng mạnh
Bước 2 : Dựa vào từ gốc và từ láy tạo thành có tiếng là từ gốc vừa cho,
chúng tôi giúp học sinh nhận biết nghĩa của từ láy (có một tiếng là từ gốc như
Vị trí của tiếng gốc
Đứng sau (có nghĩa và mang trọng âm)
Đứng sau (có nghĩa và mang trọng âm)
Đứng sau (tiếng có nghĩa)
Đứng sau (tiếng có nghĩa)
Đứng trước (tiếng có nghĩa)
Đứng trước (tiếng có nghĩa)
Đứng trước (tiếng có nghĩa)
Nghĩa của từ
láy
Nhẹ hơn
Nhẹ hơn
Nhẹ hơn
Nhẹ hơn
Mạnh hơn
Mạnh hơn
Mạnh hơn
Bước 4 : Rút ra mô hình chung như sau :
10
a) Tiếng gốc + tiếng láy : nghĩa mạnh hơn
1
2
b) Tiếng láy + tiếng gốc : nghĩa nhẹ hơn
cuống quýt, êm ái, ít ỏi, bối rối, đi đứng, quanh co, bao bọc, vỡ bờ, giã giò,
may mắn, cáu kỉnh, ao ước.
Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh như sau:
+ Trước hết cần loại bỏ những trường hợp không phải là từ mà là cụm từ,
gồm hai từ đơn như: vỡ bờ, giã giò.
+ Dựa vào những đặc trưng của từ láy, loại những từ mà hai tiếng không có
hình thức âm thanh giống nhau như: nhà cửa, mặt trời. Những từ mà hai tiếng
có quan hệ về âm thanh nhưng cả hai tiếng đều có nghĩa như: đi đứng, bao
bọc.
+ Cuối cùng cần chú ý đến những từ láy khó nhận biết, dễ nhầm lẫn như:
quanh co, cuống quýt, êm ái, ít ỏi.
Như vậy, học sinh dễ dàng tìm ra các từ láy sau:
cuống quýt, êm ái, ít ỏi, bối rối, quanh co, cáu kỉnh, ao ước, may mắn.
- Dạng 2: Cho một đoạn văn, câu văn… trong đó có từ láy, yêu cầu học
sinh nhận biết từ láy trong câu văn, đoạn văn ấy.
VD: Trong đoạn văn sau đây có tất cả bao nhiêu từ láy.
Cây nhút nhát
“Gió rào rào nổi lên. Có một tiếng động gì lạ lắm. Những tiếng lá khô lạt
xạt lướt trên cỏ. Cây xấu hổ co rúm mình lại. Nó bỗng thấy xung quanh lao
xao. He hé mắt nhìn: Không có gì lạ cả. Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những
con mắt và quả nhiên không có gì lạ thật.”
Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kĩ đoạn văn rồi
tìm ra các từ có hình thức âm thanh giống nhau như: rào rào, lạt xạt, lao xao,
he hé, lạ cả.
Sau đó dực vào định nghĩa từ láy, nhớ lại đặc trưng của từ láy, loại bỏ từ: lạ
cả.
12
Với bài tập trên, các em cần tìm tứ láy nói lên tình cảm, phẩm chất của con
người và từ đó các em phải hiểu nghĩa, VD: chăm chỉ, nết na, sạch sẽ…, sau
đó học sinh tìm mô hình câu thích hợp với nghĩa của tứ láy trên.
Tóm lại: Để giúp học sinh nắm và nhận biết rõ về từ láy và nghĩa của từ
láy, phân biệt được từ láy và từ ghép, trước hết cần cho học sinh nắm chắc
được các kiểu từ láy, các dạng từ láy và nghĩa của từ láy trong Tiếng Việt.
* Các kiẻu từ láy: Có 4 kiểu:
- Láy tiếng
- Láy âm
- Láy vần
- Láy cả âm và vần
Ngoài 4 kiểu trên cần cung cấp cho các em:
- Từ láy đặc biệt, VD: óng ánh, ấm áp…(Vì cùng vắng khuyết phụ âm
đầu)
- Từ láy âm (Có cách ghi phụ âm đầu bằng các con chữ khác nhau:
VD cuống quýt, cong queo…
* Các dạng từ láy: Có 3 dạng:
- Dạng láy đôi: VD: rì rào, cong queo,…
- Dạng láy ba: VD: sạch sành sanh, …
- Dạng láy tư: lúng ta lúng túng, ….
*Nghĩa của từ láy
Trong Tiếng Việt nghĩa của các từ láy rất phong phú, thường có mấy
dạng cơ bản sau (Giáo viên cần cung cấp cho HS nhất là học sinh giỏi)
- Từ láy diễn tả sự giảm nhẹ của tính chất so với nghĩa của từ hay tiếng gốc.
VD: đo đỏ, tim tím, nhàn nhạt…
- Từ láy diến tả sự tăng lên mạnh hơn của tính chất so với nghĩa của từ
hay từ gốc
VD: đen đủi, sạch sành sanh, vàng vọt…
Trung bình
Yếu
HS
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
23
7
30,4
9
C. KẾT LUẬN
Ngày nay, môn Tiếng Việt ở trong trường Tiểu học nước ta trở thành một môn
học trọng yếu theo các em suốt cả 12 năm học của ngành học từ Tiểu học cho
đến THCS, THPT thậm chí lên đến THCN, Đại học…người sinh viên Việt
Nam vẫn còn gặp môn Tiếng Việt thực hành ở những bước đầu của giai đoạn
Đại cương.
17
Vì vậy, ngay từ cấp Tiểu học, người giáo viên phải xác định được việc
dạy học Tiếng Việt cho các em là bước khởi đầu, là nền tảng cho các em có đủ
hành trang kiến thức vững vàng khi học lên các lớp trên. Đặc biệt vai trò của
ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng củ dạy Ngữ pháp
ở Tiểu học. Ngữ pháp có vai trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, đọc, nói,
viét viết thực hiện mục tiêu số một của dạy học Tiếng Việtviẹt trong nhà
trường Tiểu học. Vì vậy, kiến thức và kỹ năng ngữ pháp là một trong những
nội dung quan trọng cần được bồi dưỡng cho học sinh. Trong đó việc “ nhận
diện từ láy” trong Tiếng Việt có một vai trò hết sức lớn.
Bởi vậy, Muốn giúp học sinh học tốt phần từ láy, giúp cho tiết Tiếng Việt
đạt kết quả tốt, đòi hỏi người giáo viên phải thật sự kiên trì, phải thật sự có
quyết tâm với nghề và áp dụng qua các bước sau:
Bước 1: Tìm ra, thống kê những sai lầm của học sinh khi học phần từ láy.
Bước 2: Tìm biện pháp khắc phục, tức là biết áp dụng các phương pháp dạy
khoa học, phù hợp với các sai lầm của học sinh khi học phần từ láy.
Đối với học sinh yếu kém, cần củng cố sâu hơn về khái niệm của từ láy,
nghĩa của từ láy. Tăng cường luyện tập với các dạng bài tập khác nhau tạo
thành kỹ năng học từ láy tiếng Việt.
Ban đầu đối với học sinh và giáo viên rất khó khăn do còn mới lạ, nhưng từ
cái mới lạ có cơ sở khoa học sẽ tạo cho học sinh có thói quen tốt và trở thành