i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn
gốc.
Tác giả
Hoàng Thị Thu Trang
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu Trường Đại học
Lâm nghiệp; Khoa đào tạo sau đại học; Các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Lâm nghiệp; tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm và giúp
đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Phạm
Xuân Hoàn người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt
kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá
trình hoàn thành luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo
cùng các cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lạng Sơn; Sở Khoa học công
nghệ tỉnh Lạng Sơn và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Cao Lộc, cùng
gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ lực của bản thân nhưng chắc chắn luận
văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và đồng
................................................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Tại Mỹ. ............................................................ Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Tại Anh............................................................ Error! Bookmark not defined.
1.2.3. Tại Ấn Độ. ....................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.4. Tại Nhật Bản. .................................................. Error! Bookmark not defined.
1.2.5. Tại Trung Quốc. .............................................. Error! Bookmark not defined.
1.2.6. Tại Thái Lan. ................................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.7. Tại Campuchia. ............................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.8. Tại Lào. .......................................................... Error! Bookmark not defined.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của khuyến lâm ở Việt Nam. .............. Error!
Bookmark not defined.
1.3.1. Trước năm 1993. ............................................. Error! Bookmark not defined.
1.3.2. Sau năm 1993. ................................................. Error! Bookmark not defined.
1.3.3. Một số thành tựu trong công tác Khuyến lâm ở Việt Nam.Error! Bookmark
not defined.
1.3.4. Một số kết quả nghiên cứu về đánh giá hiệu quả mô hình khuyến lâm ở Việt
Nam. .......................................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ..........................................................................................................22
iv
2.1. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................22
2.2. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................22
2.3. Phạm vi nghiên cứu. ...........................................................................................22
2.3.1 Về địa điểm: .....................................................................................................22
2.3.2. Về nội dung: ....................................................................................................22
2.4. Nội dung nghiên cứu. .........................................................................................22
4.2.3. Đánh giá về hoạt động thông tin tuyên truyền. ...............................................51
4.2.4. Đánh giá về sinh trưởng cây trồng trong mô hình. .........................................52
4.2.5. Đánh giá tác động của mô hình khuyến lâm đến phát triển kinh tế - xã hội...54
4.3. Đánh giá nguyên nhân không thành công của một số mô hình khuyến lâm trong
huyện Cao Lộc. .........................................................................................................57
4.3.1. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc triển khai xây
dựng các mô hình khuyến lâm tại huyện Cao Lộc. ...................................................57
4.3.2. Đặc điểm chung của các mô hình Khuyến lâm không thành công. ................59
4.3.3. Nguyên nhân dẫn tới không thành công. ........................................................59
4.4. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả khuyến lâm tại huyện Cao Lộc. .........62
4.4.1. Bài học kinh nghiệm. ......................................................................................62
4.4.2. Đề xuất nhằm hoàn thiện và nhân rộng các mô hình có hiệu quả. .................67
4.4.3. Đề xuất nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của những mô hình không
thành công. ................................................................................................................69
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................70
1. Kết luận. ................................................................................................................70
2. Tồn tại. ..................................................................................................................71
3. Kiến nghị. ..............................................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
4.7 Định mức triển khai xây dựng mô hình
65
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cao Lộc là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn. Với
tổng diện tích tự nhiên là 636,27 km2; trong đó diện tích rừng và đất rừng chiếm tới
hơn 80%. Do đó, rừng của Cao Lộc chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong phát
triển kinh tế của huyện, ngoài những chức năng như: phòng hộ đầu nguồn, tạo nguồn
sinh thủy cung cấp nước cho sản xuất, phòng hộ môi trường, giữ đất, giữ nước, điều
hòa khí hậu hạn chế thiên tai, thì rừng còn cung cấp nhiều lâm đặc sản mang lại giá
trị kinh tế cao cho nhân dân trong huyện. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau,
trong nhiều năm qua rừng của Cao Lộc đã bị suy giảm nghiêm trọng. Năm 2000 tỷ lệ
che phủ rừng của huyện chỉ đạt 25%. Thấy rõ được tầm quan trọng của rừng trong
phát triển kinh tế - xã hội của huyện, với sự cố gắng và nỗ lực của toàn huyện, độ che
phủ của rừng dần được nâng lên năm 2010 đã đạt 50,2%.
Để có được kết quả đó bên cạnh sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự tham
gia tích cực của người dân và các doanh nghiệp thì công tác khuyến lâm có vai trò
hết sức quan trọng, nó đóng vai trò là cầu nối giữa 4 nhà: nhà nông, nhà nước, nhà
khoa học và nhà doanh nghiệp. Đồng thời thông qua các mô hình khuyến lâm, người
dân có điều kiện giao lưu học hỏi những cách làm hay, những mô hình sản xuất tiêu
biểu, nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ thuật mới, giống mới áp dụng vào thực
tiễn sản xuất.
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao độ che phủ của rừng
cũng như đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội….từ sản xuất lâm nghiệp là công tác
khuyến lâm được huyện đặc biệt coi trọng. Trong 5 năm qua các chương trình khuyến
lâm đã có những hoạt động khá phong phú, phù hợp với mục tiêu đề ra và bước đầu
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm dùng trong luận văn.
1.1.1. Khái niệm khuyến lâm.
Khuyến lâm là một thuật ngữ khó định nghĩa một cách chính xác, vì khuyến
lâm được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ nhiều mục đích rộng rãi,
do đó có nhiều quan điểm và định nghĩa về khuyến lâm. Khuyến lâm nhiều khi được
hiểu ngầm trong Khuyến nông, hoặc hai khái niệm này đi đôi với nhau và người ta
định nghĩa khái niệm Khuyến nông lâm. Có thể tóm tắt và hiểu khuyến lâm theo hai
nghĩa:
- Khuyến lâm, hiểu theo nghĩa rộng: Khuyến lâm là công tác chuyển giao kết
quả nghiên cứu khoa học công nghệ ra thực tế, do vậy công tác khuyến lâm thường
gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, khoa học kỹ thuật lâm nghiệp
cùng với các ngành khoa học khác đang được phát triển mạnh mẽ trong và ngoài nước
như: công nghệ sinh học trong công tác giống, phương thức phối kết hợp, trồng rừng
thâm canh, trồng rừng lâm sản ngoài gỗ…hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, môi
trường được đưa ra nghiên cứu và thử nghiệm.
Đánh giá một cách đầy đủ ở các vùng sinh thái khác nhau, vấn đề đặt ra là làm
thế nào để có sự phối hợp hài hòa phát huy hiệu quả, kiến thức khoa học kỹ thuật lâm
nghiệp tiên tiến với kiến thức bản địa của người dân.
Kinh doanh lâm nghiệp từ đời này qua đời khác đã tích lũy được nhiều kinh
nghiệm quý giá trong việc lựa chọn cây trồng, phương thức trồng và kỹ thuật trồng.
Những kinh nghiệm đó cần được tổng kết, đánh giá, hoàn thiện và phát triển.
- Khuyến lâm, hiểu theo nghĩa hẹp: Là một tiến trình giáo dục không chính
thức mà đối tượng là nông dân. Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông
tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn
trong cuộc sống. Khuyến nông lâm hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao
hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và
gia đình họ. Tiến trình sản xuất bao gồm các yếu tố kiến thức và kỹ năng, những
Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm nước Mỹ được hình thành từ năm 1843 theo
tác giả Alfred Charles True (1928) viết trong cuốn Lịch sử khuyến nông nước Mỹ.
Khởi đầu tại NewYork, nhà nước cấp kinh phí cho Hội đồng bang thuê những nhà
5
khoa học nông nghiệp có kỹ năng thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống
các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông lâm nghiệp cho
nông dân.
-Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX, Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào
tạo khuyến nông trong trường đại học. Năm 1891, bang NewYork đã hỗ trợ 10.000
USD cho công tác đào tạo khuyến nông ở bậc đại học. Những năm sau đó nhiều
trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin…cũng đưa khuyến nông và
chương trình đào tạo. Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công,
nông, thương nghiệp tài chợ cho các hoạt động khuyến nông. Đến năm 1907 ở Mỹ
đã có 42 trường / 39 bang có đào tạo khuyến nông. Năm 1910 có 35 trường có bộ
môn khuyến nông.
-1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống khuyến nông
quốc gia. Giai đoạn này đã có 8.861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên.
1.2.2. Tại Anh.
Ngày 01 tháng 09 năm 1919, Luật Lâm nghiệp đã có hiệu lực và Ủy ban Lâm
nghiệp (Khuyến lâm) được thành lập, chịu trách nhiệm về rừng ở Anh, Scotland,
Weles và Ireland. Toàn bộ tổ chức thành mười phòng với 29 nhân viên cấp tỉnh và
cấp huyện 110 kiểm lâm viên.
Sau 10 năm đã có 152 khu rừng được quản lý với diện tích khoảng 600.000 mẫu
Anh và hơn 138.000 mẫu Anh đã được trồng.
Năm 1939, Ủy ban Lâm nghiệp tách thành Cục kiểm lâm, và Cục Khuyến lâm.
Sau 90 năm hệ thống khuyến lâm được thành lập, hoạt động khuyến lâm đã góp phần
nâng cao tỷ lệ che phủ rừng của toàn nước Anh lên 5%, hiện có khoảng 2.982.000 ha,
cán bộ khuyến nông, khuyến lâm được xây dựng và củng cố. Các giai đoạn tiếp theo,
do sự cải cách hệ thông xã hội, nông dân đã buộc phải áp dụng các hướng dẫn kỹ
thuật và kiến nghị của cán bộ khuyến nông lâm – được gọi là “Khuyến nông bắt
buộc”. Đến năm 1948, dịch vụ khuyến nông chính thức được khôi phục tại Nhật Bản
với tên gọi là “Dịch vụ Khuyến nông Hợp tác xã” và phát triển đến nay.
Dịch vụ khuyến nông tại Nhật Bản có ba vai trò chính: (1) là để cải thiện kỹ thuật
sản xuất nông lâm nghiệp, (2) là cải thiện các tiêu chuẩn sống của cộng đồng dân cư
ở các vùng nông thôn và (3) là giáo dục thế hệ trẻ ở nông thôn.
7
Hệ thống tổ chức: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Thủy sản (MAFF) theo Hà
Thanh Tùng (2010) [13] là cơ quan giúp Chính phủ Nhật Bản thực hiện dịch vụ
khuyến nông lâm trên phạm vi toàn quốc. Đội ngũ cán bộ khuyến nông lâm của Nhật
Bản hiện nay có khoảng 10.000 người, đội ngũ cán bộ này làm việc như các chuyên
gia cố vấn và được phân bổ chủ yếu ở 47 cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và 630 cơ
quan khuyến nông lâm cấp huyện. Mỗi tỉnh có một trung tâm đào tạo nông dân.
Chính sách hỗ trợ:
+ Chính phủ tạo hành lang pháp lý về khuyến nông lâm, phát triển nông thôn, với
phương châm “thể chế mạnh và minh bạch”;
+ Kinh phí: Hỗ trợ 40% kinh phí cho các hoạt động dịch vụ khuyến nông của các
tổ chức khuyến nông địa phương. Phần còn lại là sự đóng góp của người dân hoặc
doanh nghiệp và thậm chí là sự huy động của tổ chức khuyến nông lâm.
1.2.5. Tại Trung Quốc.
Là quốc gia đất rộng thứ 4 thế giới nhưng dân số đông nhất thế giới (hiện nay có
khoảng 1,2 tỷ người). Khí hậu Trung Quốc thuộc vùng vĩ độ cao có ôn đới, á nhiệt
đới và một phần nhiệt đới. Hệ thống khuyến nông Trung Quốc được thành lập năm
1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông được chính phủ Trung Quốc rất quan tâm:
Tác giả Phạm Kim Oanh (2004) [11] cho biết tính đến hết năm 1997, trên toàn đất
của người sản xuất được đảm bảo thì động cơ lợi nhuận và thu nhập sẽ thúc đầy họ
tăng cường đầu tư vào sản xuất, thâm canh tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội.
Liu Jinlong (2004) dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong
những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển
trồng rừng ở Trung Quốc là:
1/ Rừng và đất rừng cần được tư nhân hóa;
2/ Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;
3/ Giảm thuế đánh vào các lâm sản.
4/ Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng.
5/ Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng
rừng [23].
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung về
nhà quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế…cho tới mối quan hệ giữa các công ty
và người dân. Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia xây dựng
9
các mô hình trồng rừng ở Trung Quốc nói riêng trong những năm qua và là những
định hướng quan trọng cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam
có thể tham khảo.
1.2.6. Tại Thái Lan.
Thái Lan là quốc gia với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp. Điều kiện
đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt Nam. Thái Lan là quốc gia có các hoạt
động khuyến nông cũng khá tiêu biểu. Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành
lập năm 1967. Về mặt thành tựu khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:
- Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120 – 150 và thậm chí
200 triệu USD. Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm
của nước ta.
- Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực
sản xuất, người nông dân. Hoạt động khuyến nông lâm tại Campuchia sử dụng
phương pháp tiếp cận phát triển hệ thống canh tác quy mô trang trại, đào tạo và
khuyến nông có sự tham gia và cách tiếp cận mở rộng. Trong đó tập trung vào (I) Lập
kế hoạch và đánh giá có sự tham gia; (II) Phát triển công nghệ có sự tham gia; (III)
Đào tạo và mở rộng; (IV) Phát triển mở rộng và phổ biến tài liệu; (V) Phát triển các
tổ chức nông dân (dẫn theo [11]).
1.2.8. Tại Lào.
Lào có mô hình khuyến lâm tương tự như mô hình khuyến lâm của Việt Nam.
Mọi hoạt động khuyến lâm của Lào được điều hành bởi Bộ Lâm nghiệp Lào.
Cán bộ khuyến lâm của Lào được đào tạo chủ yếu tại khoa Lâm nghiệp Trường
Đại học quốc gia Viêng Chăn (dẫn theo [2]), các cán bộ đều được hỗ trợ đào tạo tại
Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của khuyến lâm ở Việt Nam.
1.3.1. Trước năm 1993.
Cùng với sự phát triển khuyến nông trên thế giới, khuyến nông Việt Nam hình
thành, phát triển. Tác giả Nguyễn Chí Hải (dẫn theo [8]) khi nghiên cứu về lịch sử tư
tưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến cho biết với tư tưởng trọng nông là tư
tưởng chủ đạo và chính sách khuyến nông của nhà nước phong kiến. Các triều đại
phong kiến Việt Nam đã có nhiều biện pháp để khuyến khích nông nghiệp phát triển,
từ việc khuyến khích khai hoang mở rộng diện tích, thực hiện chính sách “ Ngụ binh
11
ư nông”, miễn thuế cho nông dân những năm mất mùa hay sau khi kết thúc các cuộc
chiến tranh giữ nước để nuôi dưỡng sức dân, cho đến việc nhà vua cày ruộng “tịch
điền”, làm lễ trừ sâu, lễ tế côn trùng, xem gặt lúa…Đều nói lên sự quan tâm thường
trực của nhà nước phong kiến đối với việc phát triển nông nghiệp. Có thể nói, chính
sách khuyến nông chính là một trong những chuẩn mực cơ bản để đánh giá năng lực
và sự thịnh suy của các triều đại phong kiến Việt Nam.
“Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp,
chống giặc đói, diệt giặc dốt”.
- Năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu
“người cày có ruộng”. Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông
nghiệp nước ta. Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ….106.448
trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao
động (72,8% hộ nông dân miền Bắc). Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông
dân ra sức tăng gia sản xuất.
- Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX)
bậc thấp, năm 1968 HTX bậc cao, năm 1974 HTX toàn xã. Tổ chức HTX sản xuất
nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao. Tổ chức HTX sản xuất
nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã giúp cho Đảng và Nhà nước huy
động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống
Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX. Phương
pháp khuyến nông chủ yếu đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, xây dựng các mô hình
HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Đại Phong (Quảng Bình), HTX Vũ Thắng (Thái
Bình) .
- Dưới chế độ Sài Gòn cũ (1960) có nhà khuyến nông chuyên lo phát triển
nông nghiệp, phát triển nông thôn.
- Từ năm 1964 – 1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống
nông dân gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu do chiến tranh.
Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam,
giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Mặt khác sau giải phóng miền Nam
13
năm 1975 – 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực
tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất.
khuyến ngư Việt Nam chính thức hình thành. Ở Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục
Khuyến nông – Khuyến lâm vừa làm nhiệm vụ quản lý nhà nước, vừa làm nhiệm vụ
khuyến nông về lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Việc một đơn vị đồng thời làm
nhiệm vụ quản lý nhà nước và dịch vụ công tỏ ra nhiều bất cập. Chính vì vậy, ngày
18 tháng 7 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 86/NĐ-CP, cho phép tác Cục
Khuyến nông - Khuyến lâm thành hai đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT là
Cục Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.
Đến năm 2007, trên cơ sở Chính phủ hợp nhất Bộ Nông nghiệp & PTNT với
Bộ Thủy sản thành Bộ Nông nghiệp & PTNT và theo Nghị định số 01/2008/NĐ-CP,
ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Nông nghiệp & PTNT đã cho phép thành lập Trung tâm Khuyến nông
– Khuyến ngư Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-BNN-TCCB ngày 28/01/2008
cùa Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức
của Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia thực hiện theo Quyết định số
43/2008/QĐ-BNN ngày 11/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT.
Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ về
Khuyến nông quy định tổ chức khuyến nông Tỉnh đơn vị sự nghiệp công lập trực
thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tên gọi là Trung tâm Khuyến nông
Quốc gia. Ngày 28/6/2010, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã có Quyết định số 1816/QĐBNN-TCCB quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khuyến
nông Quốc gia.
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp, có các nhiệm vụ chủ
yếu là tham gia đề xuất và ban hành các chính sách, cơ chế về khuyến nông, khuyến
ngư; các định mức kinh tế - kỹ thuật, chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thực hiện công
tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua xây dựng mô hình trình diễn,
thông tin tuyên truyền, huấn luyện đào tạo, công tác dịch vụ và hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư.
Tính đến tháng 11/2010 có 33.260 cán bộ khuyến nông, trong đó có 5.638 cán
bộ có trình độ đại học, chiếm 16,7%.
khuyến lâm là 66,6 tỷ đồng (chiếm khoảng 12,6). Đã triển khai trên tổng diện tích
xây dựng mô hình là 19.940 ha với 20.804 hộ tham gia. Nổi bật là một số chương
16
trình như: Chương trình trồng tre lấy măng; Chương trình trồng cây nguyên liệu;
Chương trình trồng cây đặc sản (dẫn theo [4]).
Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT (2013) [3] cho biết trong 5 năm (2006 – 2013),
chương trình khuyến lâm đã triển khai ở 55 tỉnh, với 51.575 hộ tham gia mô hình,
tổng kinh phí: 76 tỷ đồng trên tổng số 843,880 tỷ đồng cấp cho toàn bộ hoạt động
khuyến nông (chiếm 9%), với một số chương trình như: Trồng rừng thâm canh
nguyên liệu; trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn; trồng rừng thâm canh cây lâm sản
ngoài gỗ; và chương trình tập huấn nghiệp vụ khuyến lâm cho cán bộ kiểm lâm.
Trong nhiều năm qua, việc quản lý kinh phí khuyến lâm ở Tỉnh còn phân tán
với nhiều đầu mối thực hiện như: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Cục Chế biến
nông lâm sản và nghề muối, Tổng cục Lâm nghiệp, Cục Trồng trọt, Cục chăn nuôi.
Kinh phí khuyến lâm bao gồm nhiều hạng mục, có sự khác biệt giữa các vùng, miền.
Các vùng miền núi và vùng đặc biệt khó khăn được ưu tiên hỗ trợ 60% chi phí giống,
40% chi phí vật tư, trong khu vùng đồng bằng chỉ được hỗ trợ tương ứng là 40% và
20% trong xây dựng mô hình [5].
Các địa phương đều quan tâm và có chính sách đối với khuyến nông, khuyến
lâm viên cơ sở, tuy nhiên việc áp dụng chế độ chính sách chưa có sự thống nhất, và
chủ yếu do tùy thuộc vào nguồn kinh phí của từng địa phương.
Các chương trình, dự án khuyến lâm được triển khai với nhiều nội dung phong
phú, thiết thực với trọng tâm là ứng dụng các tiến bộ về giống và kỹ thuật lâm sinh
để trồng rừng thâm canh, phát triển các loài cây rừng có năng suất cao, chất lượng
phù hợp, phát triển cây lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu, làm thực phẩm; đầy mạnh
canh tác nông lâm kết hợp gắn việc trồng rừng với tạo thu nhập, nâng cao đời sống
và giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu từ rừng.
Đà để nắm được đặc điểm chung của các mô hình làm cơ sở cho các điều tra, đánh
giá chi tiết tiếp theo.
- Bước 2: Trên cơ sở kết quả điều tra bước 1 tiến hành phân loại và lựa chọn
đối tượng đánh giá.
- Bước 3: Tiến hành điều tra, đánh giá các mô hình cụ thể.
Từ cách tiếp cận này tác giả đã tiến hành đánh giá các mô hình sử dụng đất
tổng hợp vùng xung yếu ven hồ sông Đà, đo vẽ các lát cắt các mô hình đại diện cho
từng tiểu vùng sinh thái. Quan điểm và cách tiếp cận này có nhiều tiến bộ vì đã kết
18
hợp được nghiên cứu trên diện rộng với nghiên cứu chi tiết trên diện hẹp, đặc biệt có
ý nghĩa đối với những vấn đề có liên quan nhiều đến môi trường và xã hội.
Nguyễn Trọng Bằng (2003) [1] đã sử dụng các chỉ tiêu Net Present Value
(NPV) và tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR – Benefits to cost Ratio), tỷ lệ thu hồi vốn
nội bộ (IRR – Internal Rate of Return), để đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình lâm
nghiệp xã hội ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Kết quả cho thấy mô hình Rừng – Vườn
cho giá trị NPV cao nhất: 27.355.721 đồng, thu nhập bình quân hàng năm đạt trên
3.900.000 đồng, thu nhập bình quân hàng năm đạt trên 2.000.000 đồng. Xem xét hiệu
quả của các mô hình theo chỉ số IRR thì mô hình có hiệu quả nhất là mô hình cải tạo
vườn tạp và trồng cây phân tán (IRR = 100,44%) đây là mô hình có thu nhập từ nhiều
nguồn khác nhau, trong đó thu nhập từ nuôi ong, cá, và cây rừng phân tán, ăn chia
sản phẩm bảo vệ rừng là thu nhập chính. Tiếp đến là mô hình Vườn nhà (IRR =
43,7%). Các mô hình khác có IRR = 9,58% - 22,24%.
Năm 1996, Đoàn Hoài Nam [8] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của
một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương – Hàm Yên – Tuyên Quang, trong đó tác
giả đã đặc biệt chú ý đến hiệu quả tổng hợp của một số mô hình rừng trồng chủ yếu.
Tiếp đó năm 1997, Đoàn Thị Mai (1997) [6] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường
về mục tiêu phát triển cùng nguyên liệu giấy. Đây có thể nói là những công trình bước
sở này tiến hành phân cấp các yếu tố và đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp.
Đây là một trong những công trình nghiên cứu khá toàn diện về đánh giá đất đai, làm
cơ sở cho việc lựa chọn và đánh giá sự phù hợp của cây trồng rừng, trong đó có các
mô hình nông lâm nghiệp. Các tác giả cho biết đối với việc đánh giá thì phương pháp
giữ vai trò chủ đạo, trong đó lựa chọn các tiêu chí là quan trọng nhất.
Đánh giá về mặt hiệu quả môi trường của các mô hình lâm sinh ở nước ta chưa
nhiều, chủ yếu là dừng lại ở việc mô tả tàn che của rừng, độ che phủ của thảm
tươi,...hoặc một số ít công trình dùng phương pháp đóng cọc để nghiên cứu xói mòn
đất Nguyễn Danh Mô (1977) [10], của Võ Đại Hải (1996) [4] về đánh giá khả năng
điều tiết nước và xói mòn của thảm thực vật rừng. Những nghiên cứu này bước đầu
đã làm rõ vai trò thủy văn của rừng, đặc biệt là các nhân tố cấu trúc rừng như tầng
thứ, độ tàn che, loài cây, tầng thảm tươi và thảm mục,…làm cơ sở cho việc đánh giá
hiệu quả môi trường của rừng. Ngô Đình Quế và các cộng sự (2005) [13] đã tiến hành
điều tra đánh giá tác động của rừng ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên đến một