Lựa chọn bài tập phát triển sức bền nâng cao thành tích chạy 1500m cho học sinh nam khối 12 trường THPT Tân Trào – Tuyên Quang - Pdf 43

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TRỊNH MẠNH HÙNG

LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN
SỨC BỀN NÂNG CAO THÀNH TÍCH
CHẠY 1500M CHO HỌC SINH NAM
KHỐI 12 TRƢỜNG THPT
TÂN TRÀO - TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Cán bộ hƣớng dẫn

Th.S TẠ HỮU MINH
HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trịnh Mạnh Hùng
Sinh viên lớp: K39B–GDTC Trường ĐH Sư Phạm Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học này là của tôi. Những
vấn đề chúng tôi đưa ra và bàn luận đều là những vấn đề mang tính cấp
thiết và đúng với thực tế cũng như điều kiện khách quan của trường THPT
Tân Trào – Tuyên Quang. Đề tài cũng không trùng kết quả nghiên cứu với
bất cứ đề tài nào trước đây.

Hà Nội, ngày tháng

năm 2017


Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 3
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC trường học ............ 3
1.2. Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT ..................................................... 9
1.2.1. Đặc điểm tâm lý ................................................................................ 9
1.2.2. Đặc điểm sinh lý.............................................................................. 10
1.3. Những quan điểm về huấn luyện sức bền .............................................. 13
1.4. Đặc điểm phát triển và cơ sở của huấn luyện sức bền ........................... 15
1.4.1. Đặc điểm phát triển sức bền ............................................................ 15
1.4.2. Cơ sở lý luận của huấn luyện sức bền............................................. 16
Chƣơng 2. NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU .. 25
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 25
2.1.1. Nhiệm vụ 1: ..................................................................................... 25
2.1.2. Nhiệm vụ 2: ..................................................................................... 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 25
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu ................................... 25
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn.................................................................. 25
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm....................................................... 26
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm................................................ 26
2.2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm....................................................... 26
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê ...................................................... 27
2.3. Tổ chức nghiên cứu ................................................................................ 28
2.3.1. Thời gian nghiên cứu ...................................................................... 28
2.3.2. Địa điểm nghiên cứu ....................................................................... 28
2.3.3. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 29


Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................... 30
3.1. Đánh giá thực trạng công tác GDTC và sự phát triển sức bền của học
sinh nam khối 12 Trường THPT Tân Trào – Tuyên Quang ......................... 30
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC tại trường THPT Tân Trào – Tuyên

Bảng 3.10.Đánh giá sức bền trong chạy 1500m cho nam học sinh khối 12 sau
thực nghiệm (nA= nB = 40) ................................................................. 47
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biểu thị thành tích chạy 100m (s) trước và sau thực nghiệm . 48
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ biểu thị thành tích chạy 800m (phút) trước và sau thực nghiệm
........................................................................................................................ 49
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ biểu thị thành tích chạy 1500m (phút) trước và sau thực
nghiệm .......................................................................................................... 49


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao (TDTT) là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một
hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội. Luyện tập thể thao không
những tăng cường sức khỏe, phát triển cân đối về trí tuệ, nhân cách mà còn đáp
ứng nhu cầu về thẩm mỹ con người. TDTT là một hình thức hoạt động mà cơ
bản là các bài tập thể lực nhằm tăng cường thể chất con người, nâng cao thành
tích thể thao góp phần làm phong phú đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng,
giúp con người phát triển cân đối.
Không những thế TDTT còn là phương tiện cùng xã hội xây dựng một
cuộc sống tốt, lành mạnh, vui chơi giải trí có ích cho cá nhân, cho tập thể, đồng
thời góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội đang xâm nhập vào nước ta. Vì thế mỗi
quốc gia đều chú trọng tới công tác TDTT và cố gắng đưa nền TDTT của nước
mình đến đỉnh cao, cũng như giữ vững và phát triển những môn thể thao mang
đậm bản sắc dân tộc. Trong công tác ngoại giao TDTT còn là nhịp cầu giao lưu
thắt chặt tình hữu nghị, đoàn kết trên toàn dân tộc. TDTT bao gồm hệ thống
các môn phong phú, đa dạng: bóng đá, bóng rổ, điền kinh, bơi....
Trong những năm gần đây Giáo dục thể chất đã được sự quan tâm của
toàn xã hội, là môn học đem lại cho học sinh một sức khỏe tốt, một cơ thể phát
triển hài hòa, tạo tiền đề để góp phần thúc đẩy học tốt các môn văn hóa khác,

bài tập nhằm phát triển sức bền trong chạy 1500m cho nam học sinh khối 12
Trường THPT Tân Trào – Tuyên Quang.
* Giả thuyết khoa học: Nếu đề tài tiến hành nghiên cứu, lựa chọn được
các bài tập phù hợp với đối tượng nghiên cứu, sẽ góp phần phát triển công tác
GDTC nói chung và sức bền nói riêng. Qua đó nâng cao thành tích chạy
1500m cho học sinh nam khối 12 trường THPT Tân Trào – Tuyên Quang.


3

Chƣơng 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác GDTC trường học
Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một
nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường
tráng…Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực
lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm
của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao Việt Nam và cũng là lời
khuyến cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn dân ta trong lời kêu gọi
toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa “Dân cường thì nước thịnh”. Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn
không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành thể dục, thể thao nước nhà nỗ lực phấn
đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này [6].
Thực hiện đường lối của Đảng ta về phát triển công tác thể dục thể thao
trong thời kỳ đổi mới, “xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,
tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi.
Tăng cường thể lực của thanh niên. Phát triển mạnh thể dục, thể thao, kết hợp
thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính
sách và cơ chế phù hợp để bồi dưỡng và phát triển tài năng, đưa thể thao nước

+ Tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện Quy hoạch cơ sở giáo dục đào
tạo có cơ sở vật chất đáp ứng hoạt động TDTT trường học theo quy chuẩn quốc
gia.
- Ban hành Nghị định về phát triển giáo dục thể chất và hoạt động thể
thao trường học.
+ Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ
giáo viên, hướng dẫn viên thể dục, thể thao; đẩy mạnh huy động các nguồn xã


5
hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong
các cơ sở giáo dục, đào tạo. Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện
thể dục, thể thao, hướng dẫn viên thể dục, thể thao cho các cơ sở giáo dục vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của
Nhà nước.
+ Tiến hành điều tra khảo sát thực trạng thể dục, thể thao trường học, thể
chất và sức khỏe của học sinh theo định kỳ 5 – 10 năm/lần; ban hành chế độ
kiểm tra, đánh giá định kỳ thể chất và sức khỏe học sinh.
+ Tăng cường công tác đào tạo giáo viên thể dục, thể thao, công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho hướng dẫn viên thể dục, thể thao.
Ban hành quy chế hỗ trợ đối với các cán bộ, chuyên gia về thể dục, thể thao,
trực tiếp tham gia hướng dẫn hoạt động ngoại khóa hoặc hỗ trợ giảng dạy chính
khóa… tại các trường thuộc hệ thống giáo dục phổ thông và mẫu giáo.
+ Ban hành các chính sách huy động, khuyến khích các tổ chức xã hội,
các doanh nghiệp tham gia tài trợ hoạt động thi đấu thể dục, thể thao trong
trường học;
+ Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong giáo dục thể chất và
hoạt động thể thao trường học; phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh trong chỉ đạo, tổ chức hoạt động thể dục, thể thao trường học.
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị về tăng

2030 chiều cao trung bình 168,5 cm.
- Đối với nữ 18 tuổi: Năm 2020 chiều cao trung bình 156 cm; năm 2030
chiều cao trung bình 157,5 cm.
* Cải thiện thể lực, đặc biệt là sức bền và sức mạnh của đa số thanh niên
có bước phát triển rõ rệt, thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển ở
châu Á theo các tiêu chí sau:
- Đối với nam 18 tuổi
+ Chạy tùy sức 5 phút tính quãng đường trung bình đạt 1.050 m vào năm
2020; 1.150 m vào năm 2030.


7
+ Lực bóp tay thuận đạt trung bình 45 kg năm 2020; 48 kg năm 2030.
- Đối với nữ 18 tuổi
+ Chạy tùy sức 5 phút tính quãng đường trung bình đạt 850 m vào năm
2020; 1.000 m năm 2030.
+ Lực bóp tay thuận đạt trung bình 30 kg năm 2020; 34 kg năm 2030.
Mục đích của hoạt động thể thao ngoại khoá trong nhà trường nhằm
động viên, khuyến khích học sinh, sinh viên tự giác tham gia tập luyện thể
thao; hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên cho học sinh, sinh
viên. Từ mục đích trên, theo Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT ngày
23/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tổ chức
hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên đã đưa ra, nội dung, hình
thức tổ chức hoạt động, đó là [12]:
* Về nội dung hoạt động thể thao ngoại khóa:
- Tổ chức cho học sinh, sinh viên tập luyện các bài thể dục, thể dục nhịp
điệu, khiêu vũ thể thao trong giờ nghỉ giải lao ở giữa các tiết học (đối với học
sinh phổ thông); thời gian ít nhất là 10 phút, thực hiện 01 lần trong 01 ngày.
- Khuyến khích động viên học sinh, sinh viên hàng ngày tự tập luyện
ngoài giờ (ngoại khoá) các môn thể thao theo sở thích của từng cá nhân (điền

người Việt Nam, cụ thể là vấn đề thể lực trong học sinh, sinh viên. Từ đó đòi
hỏi phải nâng cao chất lượng công tác GDTC trong các nhà trường, các cấp
học. Muốn thực hiện được điều này cần cải tiến nội dung, phương pháp giảng
dạy, quy định tiêu chuẩn RLTT cho học sinh, sinh viên các cấp học. Từ thực
tiễn nêu trên, Bộ GD-ĐT ban hành Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày
18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đánh giá, xếp loại thể
lực học sinh, sinh viên với mục đích[8]: “Đánh giá kết quả rèn luyện thể lực
toàn diện của người học trong nhà trường. Điều chỉnh nội dung, phương pháp
GDTC phù hợp với các trường, ở các cấp học và trình độ đào tạo. Đẩy mạnh việc
thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc cho học sinh, sinh viên trong quá trình hội nhập quốc tế” [11].


9
Từ những quan điểm, chỉ thị, nghị quyết trên cho thấy, chiến lược lâu dài
về phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng
việc đào tạo phát triển con người Việt Nam phát triển toàn diện, con người mới
XHCN. Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI năm 2013 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã ra Nghị quyết số 29 về: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
và hội nhập quốc tế” [10]. Trong đó công tác GDTC, hoạt động TDTT khẳng
định chất lượng đời sống tinh thần cho con người. Con người là tài sản vô giá
của mỗi một quốc gia, dân tộc. Con người là sản phẩm phản ánh một cách
khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp to
lớn từ công tác GDTC trường học và hoạt động TDTT, cũng như ngành Giáo
dục và TDTT nói chung.
1.2. Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THPT
1.2.1. Đặc điểm tâm lý

Tâm lý của con người rất phong phú và đa dạng, trong thể thao khi tham

thúc đẩy các em tích cực, tự giác tập luyện và ham thích môn TDTT.
Trí nhớ: Ở lứa tuổi này, các em không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc
do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo logic, tư duy chặt chẽ hơn
và lĩnh hội được bản chất của vấn đề cần học tập. Do đặc điểm trí nhớ của học
sinh THPT khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kết
hợp với giảng dạy, phân tích sâu sắc các chi tiết kĩ thuật động tác và vai trò, ý
nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện, phương pháp để các em có thể
tự lập một cách độc lập trong thời gian rỗi. Các phẩm chất ý trí đã rõ ràng hơn
và mạnh mẽ hơn so với các em lứa tuổi trước đó. Vì vậy, các em có khả năng
tiếp thu động tác, kỹ thuật nhanh chóng.[3]
1.2.2. Đặc điểm sinh lý

Ở lứa tuổi này, cơ thể các em học sinh đã phát triển tương đối hoàn
chỉnh chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của cơ quan,
bộ phận cơ thể cũng được nâng lên. Ở cấp THCS, cơ thể các em phát triển theo


11
chiều cao nhiều hơn nhưng khi đến tuổi cấp THPT lại phát triển theo chiều
ngang nhiều hơn, chiều cao cũng phát triển nhưng chậm dần. Sự phát triển của
cơ thể nam và nữ khác nhau rõ rệt hơn về hình thái và khả năng hoạt động thể
lực, tâm lý. Vì vậy, chúng ta cần phải có phân biệt tính chất, cường độ, khối
lượng luyện tập TDTT hợp lý để cơ thể có điều kiện phát triển một cách toàn
diện cân đối.
Hệ thần kinh: Các tổ chức thần kinh của học sinh THPT đang tiếp tục
phát triển để đi tới hoàn thiện. Tuy nhiên, khối lượng ở vỏ não không tăng, chủ
yếu cấu tạo bên trong vỏ não phức tạp hơn, khả năng tư duy nhất là khả năng
phân tích tổng hợp phát triển mạnh, rất thuận lợi cho sự hình thành phản xạ có
điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn
thiện kỹ thuật động tác trong môn thể dục. Tuy nhiên, đối với một số bài tập

sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt vào tuổi 16 các
tổ chức mỡ dưới da của các em nữ phát triển mạnh, ảnh hưởng đến việc phát
triển sức mạnh của cơ thể.
Nhìn chung, ở độ tuổi này là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh. Do vậy,
càng cung cấp đủ các chất dinh dưỡng cần thiết đảm bảo cho cơ thể phát triển
bình thường.
Hệ tuần hoàn: Hệ tuần hoàn của học sinh THPT đang phát triển và đi
đến hoàn thiện. Buồng tim phát triển tương đối hoàn thiện. Mạch đập của nữ
khoảng 70-80 lần/phút. Vì vậy, ở độ tuổi này có thể tập những bài tập TDTT
với khối lượng và cường độ tương đối lớn. Khi sử dụng các bài tập có khối
lượng và cường độ vận động lớn cần chú ý tới hình thái thể lực học sinh, trạng
thái sức khỏe và đặc điểm giới tính.
Hệ hô hấp đã phát triển tương đối hoàn thiện. Vòng ngực trung bình của
nữ từ 69-74cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100-120 cm2 gần bằng tuổi
trưởng thành. Do lượng phổi tăng nhanh chóng lúc 15-16 tuổi là 2-2,5 lít đến
16-18 tuổi là 3-4 lít, tần số hô hấp gần giống như người lớn là 10-20 lần/phút.


13
Tuy nhiên, các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ,
chủ yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung thở bằng
ngực, các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, việt dã có tác động tốt đến sự phát
triển của sự hô hấp.
Trao đổi chất và năng lượng: Đặc điểm chính là quá trình đồng hóa
chiếm ưu thế so với quá trình dị hóa do nhu cầu phát triển và hình thành cơ thể,
một phần đáng kể năng lượng ở độ tuổi này được sử dụng để thỏa mãn nhu cầu
đó [2].
1.3. Những quan điểm về huấn luyện sức bền
Huấn luyện thể thao là một quá trình giáo dục chuyên môn của giáo viên
cho học sinh, nhằm không ngừng nâng cao trình độ thể thao, góp phần giáo dục

quá trình đào tạo cho học sinh, tùy thuộc mục đích từng giai đoạn huấn luyện
thể lực được xác định cho phù hợp” [5].
Qua tham khảo tài liệu và các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều
chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyện thể
thao trong nước: PGS-TS Lê Bửu, GS-TS Dương Nghiệp Chí[2]...., các nhà
khoa học cho rằng quá trình huấn luyện thể lực cho học sinh là hướng tới việc
củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quan trước lượng vận
động. Đồng thời, đã tác động đến quá trình phát triển các tố chất vận động. Đây
có thể coi là xu hướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động.
Theo quan điểm y sinh học, các nhà khoa học cho rằng huấn luyện thể
lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao là nói tới sự biến đổi thích nghi về
mặt sinh học diễn ra trong cơ thể học sinh dưới tác dụng của bài tập thể chất
được biểu hiện ở năng lực cao hay thấp….
Dưới góc độ tâm lý, một số chuyên gia Việt Nam đã đề cập đến vấn đề
này PGS-TS Lê Văn Xem và PGS-TS Phạm Ngọc Viễn cho rằng: “Quá trình
chuẩn bị thể lực chuyên môn cho học sinh là quá trình giải quyết những khó
khăn liên quan đến việc thực hiện các động tác kĩ thuật, là sự phù hợp của những
yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện của học sinh” [3].


15
Tổng quan các ý kiến trên chúng ta thấy, việc chuẩn bị thể lực chuyên
môn, đặc biệt là sức bền tốc độ cho người tập là sự tác động có hướng đích của
lượng vận động đến con người nhằm hình thành và phát triển đến mức độ mới
có khả năng vận động biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất. Đồng
thời, nâng cao khả năng của các cơ quan chức phận tương ứng với năng lực
vận động của người tập, nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt động đặc thù
của môn thể thao.
1.4. Đặc điểm phát triển và cơ sở của huấn luyện sức bền
1.4.1. Đặc điểm phát triển sức bền

thẳng cũng có ý nghĩa rất quan trọng.
Chúng ta biết rằng, xét từ góc độ tiêu hao năng lượng thì hoạt động với
tốc độ đều là có hiệu quả cao nhất. Song, do những yêu cầu chiến thuật trong
điều kiện chạy, học sinh thường phải thay đổi tốc độ khá nhiều và điều đó làm
cho sự phối hợp hoạt động của các quá trình trong cơ thể tạm thời bị rối loạn
(thể hiện sự mất cân đối giữa nhu cầu của cơ thể và mức hoạt động của hệ
thống thực vật và sự không ăn khớp giữa các chỉ số sinh lý khác nhau do mỗi
chỉ số sinh lý chuyển sang mức độ hoạt động mới với tốc độ khác nhau).
Để giải quyết nhiệm vụ này, trong tập luyện cần áp dụng các bài tập có
cường độ biến đổi, tức là thực hiện các đoạn tăng tốc khác nhau về độ dài cũng
như về cường độ, theo xu hướng tăng dần cả hai yếu tố này. Đó chính là
phương pháp biến đổi liên tục và biến đổi giãn cách.
Việc giáo dục các phẩm chất ý chí bằng các biện pháp thuyết phục,
khích lệ, làm cho học sinh hiểu được ý nghĩa của bài tập để chủ động cố gắng
tiếp tục hoạt động, vượt qua mệt mỏi đang tăng dần, có vai trò quan trọng.
Trong một số trường hợp, việc hoàn thiện các cơ chế sức bền cục bộ đối
với những nhóm cơ chịu lượng vận động chính cũng có ý nghĩa quan trọng.
1.4.2. Cơ sở lý luận của huấn luyện sức bền

Sức bền là những năng lực chịu đựng của cơ thể hoạt động trong thời
gian dài và chống lại mệt mỏi.


17
Sức bền của con người được qui định bởi nhiều nhân tố một cách tương
đối, có thể chia thành 2 nhóm nhân tố chi phối sức bền.
Khả năng, chức phận của các hệ thống cơ thể như công suất yếm khí, công
suất ưa khí, khả năng duy trì hưng phấn thần kinh, mức độ hoàn thiện kỹ xảo.
Mức độ ổn định với những biến đổi bất lợi của môi trường và xung động
thần kinh, mức độ hoàn thiện kỹ xảo.

dục sức bền phải kết hợp với giáo dục các đức tính cần cù lao động, sẵn sang
vượt khó. Chạy cự ly trung bình (vùng công suất gần cực đại) tạo nên kích thích
lớn ở các trung khu thần kinh, những biến đổi hóa học ở các tế bào thần kinh
cũng như trong cơ bắp rất cao.
Như chúng ta đã biết chạy cự ly cự ly trung bình (1500m) yêu cầu tương
đối cao với khả năng yếm khí cũng như ưa khí của học sinh. Trong thời kỳ thi
đấu các bài tập phát triển sức bền tốc độ phải thường xuyên tập luyện trong
điều kiện yếm khí. Mặt khác, cũng cần chú trọng đến việc giáo dục phẩm chất
ý chí cho học sinh.
1.4.3. Cơ sở sinh lý của huấn luyện sức bền
Sức bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động
kéo dài. Sức bền làmột tố chất thể lựcvì vậy có tính tương đối rất cao nó được
thể hiện trong một loạt hoạt động nhất định. Haynói cách khác, sức bền là một
khái niệm chuyên biệt thể hiện khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động
chuyên môn nhất định.
Trong sinh lý TDTT, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện
các hoạt động thể lực kéo dài liên tục từ 2 - 3 phút trở lên, với sự tham gia của
một khối lượng cơ bắp lớn (từ 1/2 toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể), nhờ sự hấp
thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con
đường ưa khí. Như vậy sức bền trong thể thao là khả năng thực hiện lâu dài
hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính ưa khí[4].Đólà
tất cả những hoạt động ưa khí, như chạy 1500m trở lên, đi bộ thể thao, đua xe
đạp bằng đường dài, bơi từ 400m trở lên…


19
Sức bền phụ thuộc vào:
1) Khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2max) của cơ thể
2) Khả năng duy trì lâu dài mức hấp thụ oxy cao.
Mức hấp thụ oxy tối đa của một người quyết định khả năng làm việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status