Đảng bộ huyện Trấn Yên lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015 - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
**************

BÙI THỊ PHƢƠNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI)
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

HÀ NỘI - 2017


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
**************

BÙI THỊ PHƢƠNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI)
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRONG NHỮNG NĂM 1996 - 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2017



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................. 4
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu................................................ 4
6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 4
7. Kết luận của khóa luận ............................................................................... 5
Chương 1. ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2000...... 6
1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư của huyện Trấn Yên .................................... 6
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính. ...................................... 6
1.1.2. Dân cư ............................................................................................... 7
1.2. Tình hình kinh tế và truyền thống văn hóa giáo dục của huyện
Trấn Yên ........................................................................................................ 9
1.2.1. Tình hình kinh tế trong những năm 1996 - 2000 .............................. 9
1.2.2. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của huyện Trấn Yên....................... 12
1.3. Thực trạng giáo dục của huyện Trấn Yên trước năm 1996 .................. 13
1.4. Chủ trương của Đảng bộ huyện Trấn Yên trong việc lãnh đạo công tác
giáo dục đào tạo trong năm 1996- 2000 ...................................................... 14
1.4.1. Những chủ trương lớn của Đảng và Đảng bộ huyện Trấn Yên về đổi
mới giáo dục đào tạo năm 1996 - 2000 .................................................... 14
1.4.2. Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo khởi đầu đổi mới giáo
dục và đào tạo 1996 - 2000 ...................................................................... 24
1.5. Thành tựu và hạn chế ............................................................................ 26
1.5.1. Thành tựu ........................................................................................ 26


1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp,
hội nhập với cộng đồng. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là nguồn lực con người.Để phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước thì phải đổi mới, tăng cường toàn bộ hệ thống giáo dục, trong đó bậc
trung học phổ thông và là bậc học tạo nguồn trực tiếp cho việc đào tạo nhân
lực chất lượng cao.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn
đề phát triển giáo dục và đào tạo càng được đặt ra cấp bách. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 7 - 1996) xác định: “Cùng với khoa
học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.[22,tr.107]. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4 - 2006) tiếp tục khẳng định: “Phấn đấu
xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân do dân và vì dân, đảm bảo công bằng
về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học
tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [30,
tr.206, 207].
Từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới cho đến nay,
sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến lớn và giành được
nhiều kết quả quan trọng. Những thành tựu đạt được đó chính là nhờ sự nỗ
lực của toàn Đảng, toàn dân, là sự nghiệp đóng góp tích cực của nhiều địa
phương trong cả nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn đất nước, Đảng bộ và nhân dân huyện
Trấn Yên (Yên Bái) tiếp tục vượt lên mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành
xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đề ra.

1


2


“Chiến lược con người Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc
đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay” của Hoàng Thị Hằng.
“Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục và đào tạo trong
công cuộc đổi mới 1986 - 1996” của Bùi Minh Hằng.
Hai luận văn trên cũng nêu bật được đường lối, chủ trương của Đảng ta
về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ nước ta thực hiện đường lối đổi mới.
Ngoài ra còn có nhiều luận văn nghiên cứu về giáo dục và đào tạo ở các
địa phương cả nước như:
Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 1986 - 2000” của Hà Văn Định.
“Đảng bộ tỉnh Bình Định lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo từ
năm 1991 - 2000” của Trần Văn Dũng.
Những tài liệu trên có nội dung phong phú, đa dạng về phạm vi nghiên
cứu, không chỉ là nguồn tư liệu quan trọng mà còn gợi mở về phương pháp
tiếp cận cho việc thực hiện khóa luận này. Tuy nhiên cho đến nay chưa có
một công trình nào nghiên cứu có hệ thống về “Đảng bộ huyện Trấn Yên
(Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015”.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của khóa luận
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) về công tác giáo
dục đào tạo trong những năm 1996 - 2015. Trên sơ sở đường lối nghị quyết,
chủ trương của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào tạo và căn cứ vào đặc
thù riêng của huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái.
- Thực tiễn đổi mới giáo dục đào tạo của huyện.
- Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn trên.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) về
công tác giáo dục đào tạo và kết quả thực hiện trong giai đoạn (1996 - 2015).

phương, khóa luận còn góp phần nhỏ bé của mình cho Đảng bộ huyện Trấn

4


Yên (Yên Bái) làm cơ sở tiếp tục bổ sung, xây dựng đường lối phát triển sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của huyện.
7. Kết luận của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung khóa luận được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo
dục đào tạo trong những năm 1996 - 2000
Chương 2: Đảng bộ huyện Trấn Yên (Yên Bái) lãnh đạo công tác giáo
dục đào tạo trong những năm 2001 - 2015
Chương 3: Nhận xét và Kinh nghiệm

5


Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN TRẤN YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cƣ của huyện Trấn Yên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính.
Trấn Yên là một huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái. Phía Tây giáp với
huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái. Phía đông nam giáp với huyện Hạ Hòa tỉnh Phú
Thọ. Phía đông bắc giáp với huyện Yên Bình. Phía tây nam giáp với huyện
Văn Chấn của tỉnh Yên Bái. Phía đông nam giáp với thành phố.Với diện tích
tự nhiên là 69.074,1 ha, chiếm 10,3% diện tích toàn tỉnh.
Là miền giao thoa văn hóa các dân tộc Tây Bắc - Việt Bắc; vùng chuyển

công nghiệp. Các xã nằm xen kẽ dưới chân núi Con Voi và dãy Pú Puông có
địa hình phức tạp, đồi cao, độ dốc lớn, chia cắt mạnh, núi đồi xen kẽ với các
thung lũng sâu gây nên nhiều khó khăn cho việc đi lại và giao lưu kinh tế.
Ngày 11/4/1900 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Yên
Bái tách ra từ đạo quan binh thứ 4 bao gồm 4 huyện là: Huyện Trấn Yên, huyện
Văn Chấn, huyện Văn Bàn, huyện Lục Yên và một châu là châu Than Uyên.
Đến năm 1989 - 2008 huyện có 28 xã và một thị trấn nhưng sau năm
2008 thì chia tách 7 xã về thành phố Yên Bái và huyện Yên Bình. Hiện nay
huyện Trấn Yên còn lại 21 xã và 1 thị trấn [27, tr. 8].
1.1.2. Dân cư
Là miền đất có bề dày văn hóa trong huyện có 6 dân tộc anh em đã sinh
sống nhiều đời, nhiều thế kỷ sát cánh bên nhau phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vệ quê hương đất nước.
Dân số tính đến năm 2000 là 94.718 người. Trong đó nam 47.095 người,
nữ 47.623 người; số người sống ở nông thôn là 89.311 người. Mật độ dân số
137 người/ km. Tỷ lệ tăng dân số 1.39% (năm 2003).

7


Về thành phần dân tộc.
Người Kinh có 70.370 chiếm 74,3%, sinh sống chủ yếu ở các xã
vùng ngoài và các xã phía Nam của huyện. Vùng 2 bờ sông Thao được
người Kinh khai khẩn từ rất lâu, lập nên làng xóm đông đúc trù phú như
trung du Bắc Bộ.
Người Tày có 14.560 người chiếm 15,9% dân số, sống chủ yếu ở
các xã vùng sâu có các bồn địa và ven suối lớn. Họ sống tập trung thành
từng bản, ở nhà sàn thâm canh lúa nước, chăn nuôi gia súc gia cầm.
Người Dao: Theo điều tra và phân loại, người Dao thuộc nhiều
nhánh như Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Đại Bản… và người Sán

 Hệ thống giao thông là yếu tố quan trọng của kết cấu hạ tầng phục vụ
cho việc phát triển kinh tế.
Tỉnh lộ Yên Bái - Văn Yên đoạn qua đất Trấn Yên dài 22km được xây
dựng trên nền tảng của đường quan binh dọc sông Thao từ Yên Bái lên Bảo
Hà. Đầu thập niên 60 được mở rộng, trải cấp phối, nhiều đoạn bỏ nền cũ để
tránh sạt lở, tiếp đến những năm 70 được trải nhựa, là huyết mạch giao thông
quan trọng của huyện Trấn Yên và Văn Yên. [3,tr.11]
Các đường quốc lộ 13A, 32C, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai cũng
đã đóng góp thiết thực vào lĩnh vực dân sinh, mở mang kinh tế cho các xã
trong huyện.
 Hệ thống đường giây tải điện và trạm biến thế đã phủ kín các xã trong
huyện từ năm 2002. Phía hữu ngạn sông Thao tỉnh đầu tư xây dựng lưới điện
vượt sông nối liền từ trung tâm tỉnh ra các xã lân cận. Tuy số xã có điện đạt
100% nhưng còn nhiều thôn bản nằm ở các xã khu vực sâu xa đường xã khó
đi lại, điều kiện kinh tế - xã hội nhiều khó khan thì chưa có khả năng kéo
điện. Đây là vấn đề khó khăn cần được tháo gỡ nhằm tạo động lực phát triển
và thực hiện công bằng xã hội của huyện.
 Mạng lưới thông tin liên lạc cũng phát triển và đang đạt tới mục tiêu
phủ kín địa bàn cấp xã. Đến năm 2000 trên địa bàn huyện có 1 tổng đài kỹ

9


thuật số, tổng số thuê bao điện thoại là 463 máy, đạt 0,49 máy /100 dân, đến
năm 2004 các xã hầu hết đã có bưu điện văn hóa xã. [27,tr 36].
Thông tin liên lạc giữa huyện với tỉnh, giữa huyện với các xã thông suốt
đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường
vai trò quản lý nhà nước cấp huyện với cơ sở.
 Các vùng chuyên canh cây trồng và các nhà máy chế biến nông lâm sản:
Trong những năm trăn trở tìm kiếm cách giải quyết cái ăn, cái mặc

Trong giai đoạn năm 1996 - 2015 nền kinh tế của huyện Trấn Yên (Yên Bái)
đã có bước tăng trưởng như sau:
- Tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ năm 1996 - 2000:
Tốc độ tăng trưởng bình quân nền kinh tế thời kỳ 2001-2015: 11,0%/năm
(Trong đó thời kỳ 2001 - 2005: 10,0%/ năm, 2006-2010: 12,0%/ năm): năm
2011 - 2015: 11%/năm).
Tăng trưởng bình quân ngành nông lâm nghiệp thời kỳ 2001-2010:5,5%/năm
(Trong đó thời kỳ 2001 - 2005: 5,4%/ năm, 2006-2010: 5,6%/năm, 20112015 5,6% /năm).
Tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp - xây dựng thời kỳ 2001-2015:
19,5%/năm.
(Trong đó thời kỳ 2001-2005: 19,0%/ năm, 2006-2010: 20,0%/năm, 20112015: 20,0%/năm).
Tăng trưởng bình quân ngành dịch vụ thời kỳ 2001 - 2015: 10,0%/năm.
(Trong đó thời kỳ 2001 - 2005: 9,5%/ năm, 2006 - 2010: 10,5%/năm, 2011 2015: 9,5%/ năm).
Thu nhập bình quân đầu người (tính theo triệu đồng) đã tăng theo từng năm,
năm 2005 đạt 5,132 đến năm 2010 đạt 9,845.
Kinh tế phát triển tạo đà để Trấn Yên quan tâm đầu tư hơn cho các lĩnh
vực văn hoá, giáo dục y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn. Các vấn
đề an sinh xã hội cũng đã được quan tâm thực hiện có hiệu quả. Sự nghiệp
giáo dục đào tạo từng bước được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng

11


nâng cao chất lượng đáp ứng với yêu cầu giáo dục trong giai đoạn hiện nay,
hiện Trấn Yên có 16 trường đạt chuẩn quốc gia, 22/22 xã thị trấn đạt phổ cập
giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và mầm non cho trẻ 5 tuổi. Lĩnh vực y tế
cũng đã đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Phong trào
“toàn dân đoàn kết xây dựng đờì sống văn hóa” được quan tâm đẩy mạnh,
100% thôn bản ra mắt xây dựng làng bản, khu phố văn hóa, phong trào văn

nơi cả đình đền cũng thành phế tích, số được khôi phục lại không đáng kể.
Chùa ở Trấn Yên hầu hết là chùa nhỏ, làm theo kiểu nhà thông thường,
phân biệt các cung thờ bằng ban bệ xây gạch hoặc làm bằng gỗ. Chùa thờ
Phật theo Phật giáo Đại Thừa - ý nghĩa như một cỗ xe lớn có thể chở được
nhiều chúng sinh tới cõi Niết Bàn.
Từ cuối thế kỷ XVII, việc mở rộng truyền đạo lên vùng Tây Bắc của các
giáo sỹ phương Tây được thực hiện cùng với việc đặt ách thống trị của quân
đội viễn chinh Pháp vì thế đối với người Trấn Yên đạo Thiên Chúa mới được
du nhập vào khoảng 1 thế kỷ. Những nhà thờ sớm được xây dựng từ năm
1898 đến năm 1930 là nhà thờ Yên Bái, nhà thờ họ làng Sặt, nhà thờ Bảo
Long, nhà thờ Nụ Điền, nhà thờ Âu Lâu, nhà thờ Nga Quán… Đọc kinh, cầu
nguyện, đi nhà thờ là một nhu cầu thuộc về đời sống tâm linh của đồng bào
theo đạo Thiên Chúa.
Có những người không theo một tôn giáo chính thống nào nhưng vẫn
đến lễ Phật để cầu bình yên hoặc đến nhà thờ Thiên Chúa để xem hành lễ như
sự sinh hoạt văn hóa văn nghệ bình thường. Người Mường có tục thờ Phật
(Ông Bụt); Người Tày cổ thờ vật linh giáo… [27, tr.34].
Văn hóa sẽ ảnh hưởng và tác động rất lớn đền truyền thống giáo dục của
người dân huyện Trấn Yên.
1.3. Thực trạng giáo dục của huyện Trấn Yên trƣớc năm 1996
Từ năm 1986 - 1990 Huyện ủy chỉ đạo đầu tư xây dựng nhiều thiết chế
văn hóa mới. Hội trường huyện làm nơi hội họp tập trung. Nhà văn hóa 500
chỗ ngồi và tổng hợp được xây dựng bằng vốn của huyện và sự đầu tư xây

13


dựng của nhà nước. Toàn huyện có hai trường phổ thông cấp III, một trường
đặt ở trung tâm huyện lỵ, một trường đặt ở khu kinh tế mới Hưng Khánh. Bên
cạnh đó văn hóa huyện được quan tâm phòng văn hóa thông tin quản lý 1 đội

cách xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật,
đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội. Phấn
đấu để đạt mục tiêu nói trên, Đại hội nhấn mạnh đó là “trách nhiệm chung của
ngành giáo dục, của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp” [17, tr.526].
Đại hội VII của Đảng (6 - 1991) đã khẳng định giáo dục và đào tạo, khoa
học công nghệ “là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động
lực phát triển của sự phát triển” [19, tr.121] và đóng vai trò then chốt trong
toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động
lực đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến
của thế giới” [19, tr.79]. Do đó mục tiêu giáo dục và đào tạo là nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài hình thành đội ngũ lao động
có trí thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng
tạo, có đạo đức cách mạng, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà
trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn
sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần [19, tr.81].
Quan điểm trên của Đảng thể hiện rõ sự đổi mới về tư duy giáo dục.
Trước đây, các quan điểm của Đảng và nhà nước đều coi trọng sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, song thực tế nhiều khi giáo dục và đào tạo chỉ được xem là
phúc lợi xã hội, là lĩnh vực phi sản xuất, là gánh nặng cho kinh tế. Nhưng nay,
Đảng ta đã xác định rõ giáo dục đào tạo là một động lực trực tiếp của sự phát
triển, phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nguồn lực con người
- mục tiêu, chiến lược phát triển của đất nước.
Đẩy mạng sự nghiệp giáo dục, ngày 12 - 08 - 1991, Quốc hội nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật phổ cập giáo dục tiểu học và

15


luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em. Đây là bộ luật mở đầu về công tác

Ngoài 4 quan điểm chỉ đạo trên, nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) còn
đề ra các chủ trương, chính sách và biện pháp lớn nhằm đổi mới sự nghiệp
giáo dục và đào tạo. Trong đó giáo dục phổ thông, nghị quyết cũng nêu rõ:
- Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân như: Củng
cố các trường công, không mở trường lớp tư thục ở giáo dục phổ thông.
Khuyến khích tự học, đảm bảo cho mọi công dân trong khuôn khổ pháp luật
có quyền được học, được thi, được chọn trường, chọn nghề, được học tập ở
trong nước và đi học ở nước ngoài.
- Sắp xếp lại hệ thống các trường nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, sử
dụng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Hình thành từng bước các trường
lớp trọng điểm có chất lượng cao, mở rộng hệ thống trường, lớp năng khiếu ở
phổ thông.
- Phấn đấu đến năm 2000 thanh toán nạn mù chữ ở người lao động trong
độ tuổi từ 15 - 35, tích cực thu hẹp diện người mù chữ ở độ tuổi khác, hoàn
thành phổ cập giáo dục trung học trước hết đối với trẻ em trong độ tuổi 6 - 14.
Đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục cấp II, nhất là ở khu đô thị.
- Hình thành bậc trung học mới nhằm chuẩn bị cho một bộ phận học sinh
tiếp tục học lên và đa số tốt nghiệp có thể vào đời. Giáo dục kỹ năng lao động
hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo hình thức liên kết giáo
dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp.
- Xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung
phương pháp giáo dục và đào tạo cụ thể đối với học sinh từng bậc học, cấp học.
- Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học. Kết hợp
tốt học với hành, học với lao động sản xuất, gắn nhà trường với xã hội.
- Củng cố phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng
khó khăn. Thực hiện ngay một số biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tình
trạng xa sút về giáo dục ở miền núi; coi trọng công tác đào tạo cán bộ cho các
vùng dân tộc thiểu số từ Trung ương đến địa phương.

17



Bằng nhiều hình thức đa dạng đảm bảo cho mọi người được học, nhất là
người nghèo và con em các gia đình thuộc diện chính sách. Động viên phong
trào toàn dân thi đua xóa mù chữ, hoàn thành phổ cập tiểu học trong cả nước và
phổ cập trung học cơ sở ở những nơi có điều kiện như những thành phố lớn,
khu công nghiệp tập trung. Đến năm 2000 đảm bảo đại bộ phận trẻ em 5 tuổi
được hưởng chương trình giáo dục mầm non, thanh toán nạn mù chữ ở những
người trong độ tuổi từ 15 đến 35, thu hẹp diện người mù chữ ở độ tuổi khác.
Xây dựng hệ thống trường chuyên, trường trọng điểm, trung tâm chất
lượng cao ở các bậc học. Cải tiến chất lượng dạy và học, khắc phục những
tiêu cực, yếu kém trong ngành giáo dục để hoàn thành tốt việc đào tạo, bồi
dưỡng nguồn lực con người cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Cùng
với đổi mới nội dung giáo dục theo hướng cơ bản, hiện đại, phải tăng cường
giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước và thế giới quan khoa học. Đổi
mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và các bộ quản lý giáo dục.
Tổng kết cải cách giáo dục; xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước. Xây dựng và hoàn
thiện hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Nâng dần tỉ trọng chi ngân sách, động viên đúng mức sự đóng góp của từng
cá nhân, gia đình và toàn thể xã hội cho giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh hợp
tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo.
Để quán triệt cụ thể hóa những quan điểm, phương hướng của Đại hội
VIII, hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 12 1996) đã có nghị quyết “Về định hướng chiến lược và phát triển giáo dục và
đào tạo trong thời kỳ công nghiệp, hóa hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm
2000”. Nghị quyết đã nêu tư tưởng chỉ đạo sau:
Một là: Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo.
Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn gương cao hai
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy nhiệm vụ và mục tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status