Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu, tỉnh sơn la - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------

ĐINH VĂN THÁI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH
HỌC CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ CHIỀNG BÔM,
HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2011


i

LỜI CẢM ƠN
Nhằm đánh giá kết quả học tập của học viên, được sự nhất trí của trường Đại
học Lâm nghiệp tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số
gải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của người dân tại xã Chiềng
Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” do thầy giáo Đồng Thanh Hải hướng dẫn,
với mong muốn tìm ra những giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người
dân tại khu rừng đặc dụng Côpia, đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là
cơ sở để huyện Thuận Châu áp dụng triển khai nghiên cứu ở các xã khác để bảo tồn
ĐDSH cũng như nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho người dân trong toàn
huyện.
Trong thời gian thực hiện ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi nhận

CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............25
3.1. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................25
3.2. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................25
3.3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................25
3.4. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................25
3.5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................26
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................32
4.1. Hiện trạng đa dạng sinh học tại khu rừng đặc dụng Côpia ................................32
4.2. Thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học của BQL rừng đặc dụng Côpia 43
4.3. Đánh giá mức độ tham gia, nhận thức và sự phụ thuộc của người dân vào các
hoạt động quản lý và bảo tồn tại khu rừng đặc dụng Côpia ......................................55
4.4. Đánh giá cơ hội và thách thức khi người dân tham gia vào các hoạt động bảo
tồn ..............................................................................................................................64
4.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn có sự tham gia của người dân ......................76
KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ .......................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU


iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL

Ban quản lý

ĐDSH

Đa dạng sinh học


2.3

Kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm 2009

21

4.1

Các kiểu thảm thực vật nguyên sinh đặc trưng tại khu rừng đặc dụng
Côpia

32

4.2

Một số kiểu thảm thực vật nguyên sinh đã bị tác động tại khu rừng
đặc dụng Côpia

33

4.3

Thành phần loài thực vật rừng tại khu vực Côpia

34

4.4

So sánh với một số khu rừng đặc dụng tại tỉnh Sơn La


So sánh với một số khu rừng đặc dụng tại tỉnh Sơn La

39

4.10 Danh sách các loài động vật quý hiếm, nguy cấp được xếp cho rừng

40

đặc dụng Côpia
4.11 Số loài động vật quý hiếm được xếp cho các khu rừng đặc dụng tại

43

tỉnh Sơn La
4.12 Hiện trạng tổ chức của các BQL rừng đặc dụng trong tỉnh Sơn La

37

4.13 Một số chương trình,hoạt động liên quan đến công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng của BQL rừng đặc dụng Côpia

44

4.14 Diện tích phân khu bảo tồn nguyên vẹn của BQL rừng đặc dụng
Côpia

48

4.15 Diện tích phân khu phục hồi sinh thái của BQL rừng đặc dụng
Côpia


72

4.22 Kết quả đánh giá hiệu quả sinh thái môi trường của các mô hình sử
dụng đất cây lâm nghiệp

73

4.23 Hiệu quả tổng của các mô hình sử dụng đất cây lâm nghiệp

74

4.24 Quy hoạch sử dụng đất xã Chiềng Bôm giai đoạn 2010 – 2020

82

4.25 Dự toán vốn và lợi nhuận của phương án quy hoạch

84


vi

DANH MỤC CÁC HÌNH
Nội dung

STT

Trang


lý và bảo vệ rừng của BQL rừng đặc dụng Côpia
4.5

Các trạm bảo vệ của khu rừng đặc dụng Côpia

50

4.6

Phá rừng làm nương rẫy

62

4.7

Sơ đồ các nhóm giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người
dân

77


1

MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ sự phong phú của tất cả các dạng sống trên
quả đất cùng với các quá trình sinh thái, tiến hoá để duy trì chúng. Sự biến đổi
ĐDSH được thể hiện từ các gen đến các vùng địa lý sinh học, ở các qui mô từ địa
phương đến toàn cầu, theo mùa và quá trình tiến hoá.
Đa dạng sinh học có giá trị lớn đối với con người: Là nguồn thức ăn quan
trọng, nguồn thuốc chữa bệnh quí giá, cung cấp gỗ củi, nhựa cho nhiều ngành kinh

Khu rừng đặc dụng Côpia huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La là nơi còn lưu giữ
nhiều nguồn gen động thực vật quí hiếm (Pơ mu, Thông tre, Gấu chó, Rắn hổ
mang... )
Mặc dù trong những năm qua, các ngành chức năng cũng đã rất cố gắng thực
hiện tốt nhiệm vụ được giao song do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng ở đây vẫn
bị tàn phá nặng nề. Hiện tượng chặt rừng, đốt để làm nương rẫy, khai thác và buôn
bán gỗ, săn bắn động thực vật vẫn thường xuyên diễn ra, tính ĐDSH ngày càng bị
suy giảm. Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng tài nguyên ĐDSH của Khu rừng đặc
dụng Côpia, đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vào tài nguyên rừng
cũng như những khó khăn thuận lợi trong công tác bảo tồn là điều rất cần được
quan tâm hiện nay. Số liệu thu thập được sẽ là cơ sở giúp cho các nhà quản lý đưa
ra những giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo tồn ĐDSH, bảo tồn những nguồn
gen động thực vật và phát triển bền vững tài nguyên rừng trong khu vực.
Với mong muốn được đóng góp một phần công sức của mình vào việc bảo
tồn ĐDSH của địa phương, Tôi đã chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên
cứu một số giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của người dân tại xã Chiềng
Bôm, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La".


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số công trình nghiên cứu về Đa dạng sinh học
1.1.1. Trên thế giới
Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự năm 1992 cho rằng việc nâng cao
nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phương đối với bảo tồn thiên nhiên
và các hoạt động có liên quan là rất quan trọng. Tác giả cho rằng nếu không nâng
cao nhận thức trong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu

nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở miền đông Terai
(vùng thấp). Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và
công ăn việc làm thông qua dự án do cơ quan phát triển Quốc tế Thuỵ Điển (SIDA)
và FAO tài trợ. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cộng đồng và quản lý của thôn xã,
tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử
dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài
nguyên và công bằng xã hội đã được thảo luận 33.
Ở Canada, trong bài viết của Sherry (1999) về sự hợp tác quản lý tại vườn
quốc gia Vutut (vừa là một khu bảo tồn thiên nhiên vừa là khu di sản văn hoá của
người thổ dân vùng Bắc cực), liên minh giữa chính quyền và thổ dân đã làm thay
đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng giá trị của vườn quốc gia. Hợp
tác quản lý đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục
tiêu bảo tồn. Ban quản lý vườn giúp người dân về kỹ thuật xây dựng các mô hình,
về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Hợp tác quản lý ở đây được đánh
giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp
nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân 32.
Poffenberger và McGean (1993), trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: đồng
quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia Dong Yai nằm
ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái lan. Tại Dong Yai người dân
đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn,
đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng
đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, đồng thời phục vụ lợi ích của người dân
trong khu vực. Tại NamSa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác
quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích
và chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát khai
thác tài nguyên 28.
Gilmour (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả
của các chương trình dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối
quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa


các nhóm sinh vật ở Việt Nam khá lớn: Thực vật có mạch khoảng 10.066 loài, Nấm
khoảng 600 loài, Tảo khoảng 1000 loài, rêu 793 loài; cá khoảng 2.472 loài, ếch,
nhái khoảng 80 loài, bò sát khoảng 189 loài, chim khoảng 826 loài và thú khoảng
275 loài [18].
Từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp qui, chỉ
thị và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng. Tuy nhiên do yêu cầu trước mắt ưu tiên


6

cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trong những năm qua Việt nam
chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa phát triển và bảo tồn tài nguyên sinh
học. Từ những năm 1980, Chính phủ đã bắt đầu có những quan tâm đặc biệt tới phát
triển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Nhiều văn bản
pháp qui liên quan đến các khu bảo tồn đã được ban hành, nhiều dự án, chuơng
trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để nâng cao nhận thức và các hoạt động
bảo tồn ĐDSH ở Việt nam. Tuy nhiên, sự hiểu biết về BTTN nói chung và KBT nói
riêng còn rất nhiều bất cập, nhất là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và
vùng sâu vùng xa. Để ngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép TNTN ngày càng
gia tăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ của Quốc tế,
Chính phủ Việt nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liên quan đến
công tác bảo tồn ĐDSH, quản lý khu bảo tồn và quản lý các loài động thực vật
hoang dã 24.
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các khu bảo tồn ở Việt nam Nguyễn
Bá Thụ (1997) nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết
những vấn đề tồn tại tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân
vùng đệm; chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi và lãng phí của
người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông nghiệp,
lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ
lối canh tác du canh, quảng canh; nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng

quản lý tài nguyên, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động quản lý tài nguyên, nên
những giải pháp quản lý tài nguyên phù hợp với những phong tục, tập quán, những
nhận thức, kiến thức của họ sẽ có tính khả thi cao.
Báo cáo tại hội thảo quốc gia năm 1999 “Để cuộc sống và môi trường của
người dân miền núi được bền vững”, Võ Quý cho rằng để duy trì cuộc sống, nhiều
người sinh sống trong các khu bảo tồn buộc phải khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo vệ. Vì vậy, để giải quyết mâu
thuẫn nói trên phải chú ý đến vấn đề kinh tế xã hội phức tạp mà chủ yếu là tìm các
biện pháp hữu hiệu để cải thiện mức sống của người dân, nhất là những người dân
nghèo, đồng thời phải nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ thiên nhiên và môi
trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất và rừng mà họ có trách
nhiệm bảo vệ và họ được quyền quyết định về cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống
của họ và cho cả cộng đồng 17.
1.2. Phương pháp đánh nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá
nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)
Phương pháp RRA được biết đến vào những năm 1930, nhưng nổi bật hơn là
sau chiến tranh thế giới thứ II. Bởi vì do có một sự khác biệt giữa các cộng đồng ở
nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc ít người và các nhóm khu vực, giữa
các cộng đồng với những lối sống và hệ giá trị khác nhau. Sự khác biệt này chỉ có
thể vượt qua bằng chính ảnh hưởng của cộng đồng tới những dịch vụ mà họ được


8

cung cấp và chính quần chúng phải có vai trò của mình trong hệ thống. Đó là một hệ
thống tổ chức xã hội phát huy sự hợp tác, tương trợ trong các cộng đồng nhằm huy
động một cách có hiệu quả nguồn lực để giải quyết những vấn đề lợi ích về thiên
nhiên và môi trường chung [13].
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được đưa ra vào những năm
cuối thập niên 70 và được sử dụng để đưa ra các thông tin nhanh và chính xác cho

9

quá trình thu thập thông tin, đánh giá những vấn đề đang tồn tại trong cộng đồng,
mà cả trong quá trình nghiên cứu ra quyết định về những giải pháp phát triển, lập kế
hoạch thực hiện những giải pháp đã đề ra, kiểm tra, giám sát và điều chỉnh những
kế hoạch đó trong toàn bộ quá trình phát triển của cộng đồng. Do đòi hỏi của thực
tiễn, từ những năm 80 bắt đầu hình thành phương pháp mới - phương pháp đánh giá
nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA, hay phương pháp nghiên cứu tham
dự).[4,13]
PRA là một trong những phương pháp lôi cuốn sự tham gia tích cực của
nông dân vào quá trình thu thập, phân tích thông tin, đề ra những giải pháp để giải
quyết những vấn đề đang tồn tại trong cộng đồng của họ.
PRA dựa trên cơ sở phương pháp luận đã được Gordon Conway và Robert
Chambers phát triển trong thời gian họ làm việc tại Viện Quốc tế Môi trường và Phát
triển. Dưới tên gọi là đánh giá nông thôn nhanh (RRA), phương pháp luận cơ sở đã
được chuyên môn hoá theo các hướng nhỏ bao gồm các RRA mang tính thời sự,
RRA khảo sát và RRA giám sát cũng như các phương pháp đánh giá nông thôn tham
dự (PRA). PRA xuất phát từ niền tin vững chắc vào phương pháp tham dự. Trước
đây, do thiếu phương pháp luận có kết cấu chặt chẽ, phương pháp tham dự trở nên
tốn kém và không hiệu quả đối với các cơ quan phát triển. PRA tạo ra một kết cấu
quy tụ được các dân cư, các thủ lĩnh của các cộng đồng, các nhân viên kỹ thuật của
vùng và các tổ chức phi chính phủ. Việc lấp các hố ngăn giữa người hưởng lợi theo
dự kiến và những người quản lý các nguồn lực dẫn đến những hoạt động mà các thiết
chế làng xã có thể duy trì. Trong RRA và PRA đã phát huy được tối đa những kinh
nghiệm của cả những người nghiên cứu cũng như người dân nông thôn.[13]
Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tính cộng đồng và những
quan hệ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam là yếu tố tạo nên kết quả đạt được
trong công cuộc thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ. Ngày nay trong công
cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá thì chúng ta cũng
không thể bỏ quên vấn đề tham gia của cộng đồng.

UBND về việc thành lập BQL bảo tồn thiên nhiên Côpia thuộc chi cục kiểm lâm
Sơn La; và ngày 14/7/2008, UBND tỉnh Sơn La có quyết định: Số 1723/2008 QĐ –
UBND về việc đổi tên BQL bảo tồn thiên nhiên Côpia thành BQL rừng đặc dụng
Côpia.
- Vị trí - Ranh gới:
Khu rừng đặc dụng Côpia nằm phía Tây – Nam Thị trấn Thuận Châu, cách
thành phố Sơn La 70 km về phía Tây; gồm các xã Co Mạ, Long Hẹ, Púng Tra,
Chiềng Bôm và Nậm Lầu (Thuộc huyện Thuận Châu).
+ Phía Bắc: Giáp tiểu khu 245a, 242 và 234 thuộc xã Long Hẹ và Chiềng
Bôm.
+ Phía Nam: Giáp 2 xã Chiềng Phung và Nậm Ty của huyện Sông Mã.
+ Phía Đông: Giáp tiểu khu 256, 265 và 279 thuộc xã Nậm Lầu.
+ Phía Tây: Giáp tiểu khu 246, 259 và 271a thuộc xã Co Mạ.
- Toạ độ địa lý:
Khu nghiên cứu có toạ độ địa lý:
+ Từ 21017’30’’ đến 21023’30’’ vĩ độ Bắc
+ Từ 103032’00’’ đến 103040’00’’ kinh độ Đông
2.1.1.2. Địa hình
Khu điều tra tài nguyên thực vật gồm phần lớn địa hình đồi núi có độ cao
trên 1000m so với mặt biển. Đỉnh Pu Sam Sao cao 1821m là đỉnh cao nhất của khu
vực, Đỉnh Côpia nổi tiếng cao 1816m nằm trên ranh giới xã Cò Mạ với xã Nậm
Lầu – Chiềng Bôm là đỉnh cao thứ hai. Độ cao thấp hơn 800 m của khu nghiên cứu


12

có diện tích nhỏ nằm cạnh đường ô tô phía đông bắc đỉnh Côpia thuộc xã Chiềng
Bôm huyện Thuận Châu.
Địa hình trong khu nghiên cứu bị chia cắt mạnh do các dông núi phụ, các khe
suối chạy từ trên các đỉnh cao xuống và còn do trong khu nghiên cứu có xen kẽ một


13

+ Nhiệt độ bình quân năm 190C.
+ Nhiệt độ tối cao 370 C, Nhiệt độ tối cao bình quân 320C nhiệt độ tối thấp
bình quân 140C , nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 00C
+ Mùa lạnh nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau, trên các đỉnh
cao đôi khi nhiệt độ xuống tới gần 0oC.
- Độ ẩm
Độ ẩm tương đối bình quân năm cao là 85%, Độ ẩm tương đối tối cao bình
quân năm 90%,Độ ẩm tương đối tối thấp bình quân năm 70%. Nhiều ngày trong
năm có sương mù.
- Lượng mưa
+ Lượng mưa bình quân năm 1400 - 1600mm
+ Mùa mưa từ tháng 4 - 9; Mùa khô từ tháng 10 - 3 năm sau. Mưa tập trung
các tháng 6 đến 8 chiếm 70% tổng lượng mưa năm.
- Nắng: Tổng số giờ nắng bình quân năm thấp, Tháng 4 nắng nhiều nhất
tháng 10 là tháng nắng ít nhất.
- Sương mù: bình quân có 160 ngày có sương mù trong năm.
- Sương muối: bình quân 5 - 8 ngày có sương muối trong năm nhưng đôi khi
có đợt kéo dài 3 đến 5 ngày cao nhất tới 11 ngày và thường xuất hiện vào các tháng
12 và1.
- Gió: Hướng gió thịnh hành của khu nghiên cứu là Đông Bắc, Tây Nam, gió
nhẹ 2,7m/s, Hàng năm vào các tháng 3,4,5 đôi khi có gió tây khô nóng xuất hiện.
Trong các tháng 4,5 đôi khi có mưa đá.
Nhìn chung khí hậu Khu nghiên cứu là mát vào mùa hè, lạnh về mùa đông,
riêng mùa đông có nhiệt độ thấp, lại có sương mù sương muối nên ít nhiều gây cản
trở tới các hoạt động sản xuất lâm nghiệp đặc biệt là khâu gieo ươm cây con.
* Thuỷ văn: Trong khu nghiên cứu không có sông. Đáng chú ý có các suối:
Suối Đen, Suối Đá, Hua Nhứ, Suối Nhôp., Nậm Cang, Nậm Ty, Suối Liệp có nước

59

2

H’mông

6.044

30

3

Kháng

1.649

8

4

Khơ mú

347

2

5

Khác


22

668

4.372

3

Long Hẹ

19

414

2.759

4

Nậm Lầu

26

807

5.717

5

Púng Tra


Hiện nay nhờ có Đảng, Chính phủ quan tâm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật đến hướng dẫn sản xuất cho dân, giúp dân phát
triển kinh tế, ổn định cuộc sống giảm bớt khó khăn. Nhưng trồng trọt vẫn chiếm
một tỷ trọng lớn là nguồn thu nhập chính của người dân trong vùng. Ruộng nước ít,
hầu như không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực tại chỗ, năng suất lại thấp. Còn
ngành chăn nuôi chưa thành nguồn chính do chủ yếu chăn nuôi bằng các giống địa
phương, số lượng còn ít.
- Sản xuất lâm nghiệp: Còn nặng về lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, nên
việc khai thác sử dụng lâm sản không có kế hoạch, tự phát, sử dụng vào mục đích
làm nhà, chuồng trại chăn nuôi và đồ gia dụng. Trong khai thác lâm sản còn lãng
phí nhiều do chưa hiểu biết về lợi ích lâu dài và tác dụng đa dạng của rừng nên chưa
chú ý trong lợi dụng lâm sản và phát triển rừng, nên làm cho diện tích rừng ngày
càng thu hẹp, số lượng và chất lượng giảm dần dẫn đến giảm số loài động thực vật
trong khu rùng đặc dụng.
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước, của tỉnh Sơn
La, UBND huyện Thuận Châu, đặc biệt là hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu, BQL
rừng đặc dụng Côpia các hoạt động bảo vệ rừng nói riêng và phát triển lâm nghiệp
nói chung đã được thực hiện như khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng.
a. Sinh hoạt văn hóa và phong tục của địa phương
- Trong khu rừng đặc dụng Côpia có số lượng đông nhất là dân tộc Thái đen
và ít nhất là dân tộc Khơ Mú. Nhưng các dân tộc đều có những phong tục tập quán,


16

hình thức sinh hoạt văn hóa riêng, thể hiện bản sắc dân tộc của mình; dân tộc Thái ở
nhà sàn có cấu trúc tương đối bền, kín đáo; còn dân tộc Kháng, Khơ Mú cũng ở nhà
sàn nhưng cấu trúc đơn giảm, tạm thời; dân tộc H’mông ở nhà đất trên núi cao, thiết
kế thấp...nhưng các dân tộc đều mang cái chung là tập trung thành các bản.
- Trong sinh hoạt văn hóa trong các dân tộc đều mang sắc thái riêng biệt; còn


17

dân còn nhiều khó khăn.
- Do sự hiểu biết của người dân còn thấp, nhận thức về giá trị bảo tồn đa
dạng sinh học và sự cần thiết phải được bảo vệ nuôi dưỡng, giữa lợi ích trước mắt
và lâu dài, giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng còn nhiều hạn chế.
2.1.2.4. Y tế, cơ sở kết cấu hạ tầng
a. Y tế
Có 5 trung tâm y tế cum xã, mỗi xã có một trung tâm; bình quân có 1 y sỹ, 1
y tá. Bình quân mỗi trung tâm có 3 đến 4 giường bệnh. Nhưng chủ yếu mới đủ khẳ
năng khám và chữa các bệnh thông thường, các bệnh năng phải đưa ra tuyến huyện
để điều trị. Việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong vùng đã và đang được quan
tâm của cấp trên. Tuy nhiên, nhà làm việc, dụng cụ y tế, ánh sáng điện và cơ số
thuốc còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu khám và chữa bệnh tại chỗ cho nhân
dân trong vùng.
b. Cơ sở kết cấu hạ tầng
- Có hơn 40 km đường 108 từ huyện vào trung tâm xã Co Mạ đã được rải
nhưa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giao lưu và vận chuyển hàng hóa trong
khu vực.
- Các trụ sở UBND xã, trung tâm y tế xã đã được xây dựng theo kiêu nhà cấp
IV.
- Điện lưới đã được thắp sáng trên 50% các hộ dân.
- Thủy lợi: toàn bộ khu vực có 13 đập nước, dẫn nước tạm thời phục vụ sản
xuất và sinh hoạt. Hệ thống nước sạch phục vụ nông thôn có 116 bể.
2.2. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội xã Chiềng Bôm huyện Thuận Châu
tỉnh Sơn La
2.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.2.1.1.Vị trí địa lí, ranh giới hành chín.
Xã Chiềng Bôm nằm phía Tây Nam của huyện Thuận Châu, trung tâm xã cách

Xã Chiềng Bôm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc trưng
khí hậu vùng núi Tây Bắc, mùa đông lạnh, mùa hè nóng.
- Nhiệt độ trung bình năm khoảng 220C, mùa hè trung bình từ 28- 32oC, mùa
đông trung bình từ 16- 18oC. Nhiệt độ tối cao trung bình 37.6oC vào tháng 5, nhiệt
độ thấp nhất trung bình 11oC vào tháng 12.
- Lượng mưa trung bình khoảng 1.371,8 mm/năm, phân bố không đều trong
năm và hình thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9
hàng năm) chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô kéo dài 6 tháng (
từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) chiếm khoảng 20% tổng lượng mưa cả năm.
- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 80%, độ ẩm và lượng bốc hơi phụ
thuộc vào từng thời điểm khác nhau trong năm. Mùa mưa lượng bốc hơi không
đáng kể và độ ẩm đất cao, ngược lại mùa khô lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa
nhiều lần, độ ẩm tầng đất mặt rất thấp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status