SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LỒNG GHÉP TÍCH HỢP
NỘI DUNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH
AN TOÀN THỰC PHẨM CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGA YÊN
Người thực hiện: Phạm Thị Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Nga Yên
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2017
1
MỤC LỤC
Tên đề mục
Mục lục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2
2
2
2
3
6
6
6
9
9
9
11
12
14
15
15
16
17
19
19
19
2
1. MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài .
Giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đang là vấn đề
nóng bỏng, là mối quan tâm của toàn xã hội. Trong những năm gần đây, đã có
nhiều vụ xảy ra ngộ độc thực phẩm ở các địa phương các bếp ăn tập thể trong cả
- Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
cho trẻ trong trường mầm non Nga Yên, trên thực tế để phân tích tìm hiểu biện
1
pháp khắc phục hạn chế nhằm giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ trong trường.
- Thu hút sự quan tâm của các cấp các nghành, các bậc phụ huynh quan tâm
đến việc giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ tại trường mầm non, để từng
bước chuẩn hóa, đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng, dụng cụ,… nhằm tạo cho trẻ
môi trường tốt phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục dinh dưỡng và
VSATTP cho trẻ. Từ đó giúp trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động một cách
tốt hơn.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc giáo dục dinh dưỡng và
VSATTP trong trường để phân tích thực trạng một số biện pháp giáo dục dinh
dưỡng và VSATTP ở đơn vị.
- Rút ra các bài học về giáo dục dinh dưỡng và VSATTP cho trẻ.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh 4-5 tuổi tại Trường Mầm Non Nga Yên - Nga Sơn – Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong đề tài này tôi đã chọn và sử dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp đàm thoại: Phương pháp này được sử dụng để phụ huynh
và giáo viên trong trường thảo luận về các ý tưởng để phục vụ chăm sóc giáo
dục dinh dưỡng và VSATTP.
- Phương pháp nghiên cứu: Bản thân tôi đã tiến hành đọc tham khảo tài
liệu liên quan để tìm ra một số biện pháp lồng ghép tích hợp nội dung giáo dục
và VSATTP cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày của trẻ ở mọi lúc mọi
nơi. Phân tích tổng hợp hệ thống hóa để xây dựng cơ sở khoa học của đề tài.
- Phương pháp thực hành:Từ những kiến thức, những kinh nghiệm đã
phát triển về thể chất bị kìm hãm, các quá trình tâm sinh lý đang trên đà hình
thành và phát triển cũng không thể nào phát triển trên một cơ thể gầy còm, ốm
yếu.
Mặt khác, năm học 2016 – 2017 là năm thứ tư thực hiện chuyên đề phát
triển vận động nên việc lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an
toàn thực phẩm cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày là việc làm vô cùng quan
trọng vì sức khỏe vốn là quý, qua đây tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt cả về
thể lực và trí tuệ sau này. Vì vậy nếu trẻ được chăm sóc, ăn uống đầy đủ, ngủ đủ
giấc, được tham gia các hoạt động học tập, vui chơi phù hợp thì trẻ sẽ phát triển
toàn diện nhân cách trẻ.
2.2. Thực trạng.
* Trường mầm non Nga Yên là trường chuẩn quốc gia, tổ chức nuôi bán trú
100% tại trường nên có đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình chăm sóc
nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và thực hiện chuyên đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm đạt hiệu quả.
- Được sự quan tâm của Đảng Ủy, UBND Xã Nga Yên, trường mầm non
Nga Yên được xây dựng bếp ăn một chiều đảm bảo theo đúng yêu cầu của
ngành giáo dục. Với sự quản lý tham mưu, chỉ đạo chặt chẽ của BGH nhà
trường đã vận động được sự ủng hộ của các ban ngành đoàn thể, hội cha mẹ học
sinh trong việc đầu tư về cơ sở vật chất, trong thiết bị phục vụ cho công tác
chăm sóc giáo dục trẻ tương đối đầy đủ.
3
- Trường có khuôn viên thoáng mát, sạch sẽ có hệ thống cống rãnh hợp vệ
sinh, có nguồn nước sạch phục cho quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
- Năm học 2016 - 2017 tôi được phân công đứng lớp mẫu giáo 4- 5 tuổi.
Với 3 năm kinh nghiệm chủ nhiệm cùng một độ tuổi và trực tiếp chăm sóc nuôi
dạy trẻ, đây là điều kiện tốt để tôi tìm tòi ra những giải pháp hay dạy trẻ một
4
* Kết quả cân đo, chấm biểu đồ:
T. Số
Trẻ
Kết quả cân nặng
35
Kết quả chiều cao
Kênh
BT
TL %
Kênh SDD
Dưới -2 Và
-3
TL %
K cao hơn
tuổi trên
+2 và +3
TL %
Bệnh
khác
TL%
* Kết quả khám sức khỏe:
T.
Số
Tr
ẻ
35
Kết quả Khám bệnh
Hô
hấp
TL
%
0
0
Ỉa
chảy
TL
%
3
8,6
4
11,4
0
0
Còi
xương
3
TL%
8,6
0
0
* Kết quả khảo sát trên trẻ về nhận thức,thói quen dinh dưỡng và vệ sinh
ATTP.
TT
7
20
2
Phân loại nhận biết phân biệt được 4 nhóm
thực phẩm thông thường
35
26
74
9
26
3
Trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau
35
27
77
8
17
6
Có thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống,
có thói quen vệ sinh cá nhân
35
28
80
7
20
(Kết quả khảo sát từng trẻ: Xem phụ lục 1)
Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả chung trên trẻ còn thấp:
- Tỷ lệ trẻ đạt chưa caovà tỷ lệ trẻ chưa đạt còn nhiều.
Từ thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh
an toàn thực phẩm cho trẻ tôi đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các hình
thức giáo dục phù hợp giúp trẻ tiếp thu một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Từ đó
giúp trẻ phát triển một cách toàn diện hơn.
5
2.3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
Thông qua thực trạng trên tôi đã đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhất phù
hàng bằng nhựa.
2.3.2. Xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn
thực phẩm phong phú phù hợp với chủ đề.
* Xây dựng môi trường trong lớp:
Môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với trẻ, nó thúc đẩy và có
tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển đến tất cả các mặt của trẻ. Với
đặc điểm của trẻ mầm non là “Học mà chơi, chơi mà học” chính vì vậy môi
6
trường trong lớp là nơi để trẻ trải nghiệm, khám phá thế giới xung quanh thông
qua các góc chơi của môi trường giáo dục.
Ngay từ đầu năm học tôi đã vận động phụ huynh cùng tham gia làm đồ
dùng đồ chơi trang trí lớp, nhằm giúp trẻ tích cực khám phá tìm tòi phục vụ
trong quá trình học tập của trẻ thông qua 6 góc chơi trong lớp.
Trong lớp tôi đã trang trí làm nổi bật góc “Bé tập làm nội trợ” đây là góc
hoạt động xuyên suốt cả năm và hoạt động mọi lúc mọi nơi cho trẻ. Với nhiều
nội dung phong phú gắn liền với từng chủ đề thực hiện. Ở góc này, tôi đã cùng
phụ huynh mua sắm những đồ chơi bằng nhựa và đồ chơi tự làm như bộ nấu ăn:
Xoong, nồi, bát thìa, bộ đồ chơi những loại rau, quả, các nhóm thực phẩm phục
vụ cho việc chơi cũng như việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ. Bên cạnh đó trẻ
còn được thực hiện các quy trình thông qua các góc mở.
Ở góc xây dựng: Tôi đã chuẩn bị những đồ dùng đồ chơi cho trẻ xây dựng
những trang trại, những vườn rau sạch phù hợp với từng chủ đề trong năm học.
Ở góc thiên nhiên: Tôi cho trẻ quan sát sự nảy mầm của hạt. Đồng thời giáo
dục trẻ biết gieo hạt, hạt nảy mầm thành cây và cây được lớn lên như thế nào?
Từ đó trẻ được quan sát, khám phá trải nghiệm và hiểu được lợi ích của cây.
Tại góc bác sĩ: Tôi đã chuẩn bị cho trẻ bộ đồ khám sức khỏe để trẻ hoạt
động, qua đó tuyên truyền giáo dục cho trẻ cách phòng tránh bệnh tật, bảo vệ
Hình ảnh: Góc tuyên truyền của lớp.
Kết quả: Qua việc tuyên truyền đến các bậc phụ huynh giúp phụ huynh
hiểu rõ về vai trò quan trọng của giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực
phẩm cho trẻ, đồng thời phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình quan
tâm đến vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ.
- Môi trường bên ngoài giáo dục trẻ: Ở đây nếu tháng nào thực hiện chuyên
đề giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm thì tôi chuyển lô tô, tranh
ảnh sách báo những hình ảnh về nội dung chuyên đề này. Bên cạnh đó tôi đã lên
kế hoạch 1 tháng/1 lần tổ chức các hoạt động học có lồng ghép nội dung giáo
dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm dưới nhiều hình thức câu đố, trò
chơi, thơ truyện, …giúp trẻ hứng thú tham gia học tập tốt. Mời phụ huynh đến
tham gia, từ đó phụ huynh nắm được kiến thức cũng như kỹ năng cùng phối hợp
với cô giáo để giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn phẩm cho trẻ đạt kết quả tốt.
Trong năm học với khu vực vườn rau của bé: Được nhà trường đã phân
công mỗi nhóm lớp một luống. Tôi đã cùng với các bác phụ huynh của lớp trồng
mùa nào rau đấy, gồm các loại rau: Muống, đay, mồng tơi, cải bắp, cải thìa, cà
rốt….. Để trẻ cùng cô hàng ngày tưới, chăm sóc. Đặc biệt là trẻ biết được đây là
nguồn rau sạch, an toàn, biết được phải lao động vất vả mới có rau ăn, được tìm
hiểu về tác dụng của các loại rau đối với cơ thể con người….
Việc xây dựng môi trường trong lớp và ngoài lớp theo các chủ đề, xuyên
suốt cả năm học trong đó có kế thừa đồ dùng đồ chơi của chủ đề trước sang chủ
đề sau. Đặc biệt là xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh an toàn
8
thực phẩm, giúp cho 100% phụ huynh hiểu để cùng với cô giáo dạy trẻ nhận biết
giá trị của các chất dinh dưỡng và giữ được vệ sinh an toàn thực phẩm. Hơn nữa
trong các đợt nhà trường tổ chức chấm điểm trang trí lớp và xây dựng môi
trường giáo dục lớp tôi đều xếp loại tốt.
thực phẩm, các chất dinh dưỡng - sức khoẻ và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thông qua các hoạt động cho trẻ khám phá về các loại rau, củ, quả các loại,
các con vật nuôi trong gia đình. Tôi dạy trẻ biết gọi tên các loại thực phẩm, tên
gọi các món ăn chế biến từ các loại thực phẩm ấy và giúp trẻ biết được nguồn
gốc các loại thực phẩm các chất có trong các thực phẩm ấy.
Ví dụ: Khi cho trẻ khám phá về các con vật nuôi trong gia đình cụ thể là
con gà mái trẻ biết được gà mái đẻ ra trứng, trứng là thực phẩm có nhiều chất
đạm ăn trứng giúp cơ thể trẻ nhanh lớn. Qua đó động viên những trẻ chưa thích
ăn trứng để trẻ tự giác ăn, đồng thời giáo dục những trẻ thích ăn trứng gà ăn ở
9
mức độ vừa phải nếu ăn trứng gà hàng ngày sẽ bị mắc bệnh không tốt cho sức
khoẻ. Trứng có thể chế biến thành các món ăn: Trứng rán, trứng luộc, trứng đúc
thịt,trứng làm chả rán, trứng có thể dùng nấu canh cà chua…
Tôi cũng cho trẻ biết một số loại thực phẩm giàu các chất dinh dưỡng như:
Chất đạm,chất béo,chất bột đường,chất vitamin và muối khoáng tôi củng cố
kiến thức dưới dạng trò chơi .
Ví dụ: Trò chơi vận chuyển lương thực về kho.
Tôi chia các cháu ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm sẽ vận chuyển thực phẩm về kho theo
yêu cầu của cô. Các nhóm chất này đã được trộn lộn nhau, rổ của tổ nào cũng đủ 4
nhóm nhưng trẻ chỉ được chọn 1 nhóm chất qui định của tổ mình.
+ Nhóm 1: Vận chuyển thực phẩm giàu chất bột đường.
+ Nhóm 2: Vận chuyển thực phẩm giàu chất béo.
+ Nhóm 3: Vận chuyển thực phẩm giàu chất đạm.
+ Nhóm 4: Vận chuyển thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng .
* Với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học:
Như chúng ta đã biết văn học là tác phẩm nghệ thuật, ngôn ngữ của văn
học là ngôn ngữ biểu cảm lôi cuốn người nghe, các tác phẩm văn học có các tình
* Với hoạt động tạo hình:
Thông qua hoạt động tạo hình tôi cũng khéo léo lồng ghép giáo dục dinh
dưỡng: Giúp trẻ biết thêm về các thực phẩm, tên thực phẩm, đặc điểm thực
phẩm các chất có trong thực phẩm đó. Trẻ được trực tiếp tham gia hoạt động
như vẽ, nặn, cắt, xé dán từ đó giúp trẻ nhớ lâu các loại thực phẩm đó.
Ví dụ: Với hoạt động nặn “Quả Cam”. Tôi cho trẻ gọi tên các loại quả,
màu sắc của các loại quả, giáo dục trẻ ăn quả cung cấp cho ta nhiều vitamin,
giáo dục vệ sinh cho trẻ trước khi ăn quả phải rửa sạch gọt vỏ bỏ hạt, sau khi
ăn phải bỏ vỏ hạt vào thùng rác khi rửa quả phải biết tiết kiệm nước để tiết
kiệm năng lượng.
* Thông qua hoạt động làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng:
Ví dụ: Làm quen với Toán: Cho trẻ nhận biết số 5 chủ đề thế giới động vật
tôi sử dụng các nhóm đồ vật gồm 5 con thỏ và 5 củ cà rốt để trẻ nhận biết và lập
số 5 sau đó tôi lồng ghép giáo dục dinh dưỡng bằng cách: Trò chuyện với trẻ thỏ
rất thích ăn cà rốt vì ăn cà rốt cung cấp chất VTM giúp gia dẻ hồng hào, khỏe
mạnh ... Các con có thích ăn cà rốt không? Ăn cà rốt cung cấp chất gì?..
Cứ như vậy tôi nhẹ nhàng lồng ghép tích hợp giáo dục dinh dưỡng vào các
hoạt động trẻ đạt hiệu quả rất cao, trẻ nhận biết tốt và thích khám phá.
Hình Ảnh: Giờ hoạt động LQVBT Toán sơ đẳng
* Thông qua hoạt động Âm nhạc:
Ví dụ: Dạy hát bài “Quả gì ” tôi khéo léo lồng ghép giáo dục trẻ để trẻ được
biết có rất nhiều loại quả khác nhau, trẻ kể tên các loại quả có trong bài hát và
giáo dục cho trẻ biết trong các loại quả chứa nhiều vitamin và chất khoáng khi
ăn thì phải rửa sạch gọt vỏ, bỏ hạt.
3.3.3.3. Hoạt động ngoài trời.
Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời cũng có ý nghĩa rất quan trọng trẻ
được trực tiếp thăm quan, dạo chơi ngoài trời, cho trẻ quan sát thực tế là rất cần
thiết giúp trẻ ghi nhớ có chủ định.
11
hành rèn luyện kỹ năng vệ sinh cá nhân và vệ sinh chung.
Để trẻ thực hành trên sản phẩm thực tế được tốt trước hết phải hướng dẫn
trẻ cụ thể, cách đong đếm, cách vệ sinh, sử dụng một số đồ dùng, dụng cụ nấu
ăn và pha chế thức uống như dao, thìa, cốc, chén….
Ví dụ: Trước và sau khi cho trẻ chế biến các món ăn tôi thường tập cho trẻ
thói quen vệ sinh dụng cụ nấu, dao thớt, bát thìa, bát thìa được lau rửa sạch sẽ.
Tôi đặt ra câu hỏi mở:
- Trước và sau khi chế biến chúng ta cần làm những công việc gì? Lau rửa
sạch dụng cụ nấu, dụng cụ sơ chế, chế biến.
- Vì sao phải làm như vậy? Để đảm bảo vệ sinh, tránh vi khuẩn xâm nhập
vào thức ăn, đồ uống sẽ rất mất vệ sinh và gây đau bụng.
Sau đó, hướng dẫn trẻ thực hành từng bước trên sản phẩm. Dạy trẻ biết sử
dụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống, tạo ra một số món ăn, nước uống đơn giản:
Như pha nước chanh, vắt nước cam….
12
Sau mỗi món ăn được hình thành tôi hỏi trẻ món ăn này cung cấp chất gì?
Cung cấp chất vitamin và muối khoáng.
Hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt, thích thú với các món ăn do mình
tạo ra và giúp trẻ có thói quen vệ sinh, hành vi văn minh, lao động tự phục vụ ở
trẻ, hình thành kĩ năng sống cơ bản của trẻ.
* Thường xuyên tổ chức cho trẻ “Tập làm nội trợ” ở góc đóng vai.
Qua hoạt động “Tập làm đầu bếp” trẻ được thực hành, học tập một cách tích
cực các bài học về dinh dưỡng như cách ăn, cách chọn thức ăn giàu dinh dưỡng.
Động viên khuyến khích, huy động sự tham gia của các bậc cha mẹ trong
việc tổ chức cho trẻ thực hiện các nội dung “Tập làm nội trợ” như: Đóng góp
các thực phẩm để trẻ thực hành (Rau, củ, quả, tiền…) thu thập các tài liệu, tranh
ảnh có liên quan, tham gia “Triển lãm” tranh “Bé tập làm nội trợ”, tham gia tổ
món gì đấy?” Mẹ trả lời “Mẹ nấu món trứng rán”. Từ đó giúp trẻ biết trứng được
chế biến thành nhiều các món ăn khác nhau.
Cũng ở góc phân vai trẻ được trực tiếp chơi với những dụng cụ nấu ăn bằng
đồ chơi và biết cách thao tác các dụng cụ khi chế biến thực phẩm.
Ví dụ: Muốn nấu món cá kho thì phải làm thịt cá, đánh vẩy, bỏ ruột, cho gia
vị vào kho...
Ở góc xây dựng giúp trẻ biết cách tạo ra thực phẩm tự trồng rau quả, nuôi
các con vật qua trò chơi xây dựng vườn rau, quả, khu chuồng trại...Ở góc thiên
nhiên trẻ lại được trực tiếp trồng và chăm sóc rau quả, chăm sóc các con vật
nuôi, ở góc học tập, góc nghệ thuật trẻ được chơi lô tô, được ra những bức tranh,
được đọc thơ, ca dao, đồng dao, vè... về các loại thực phẩm.
Từ đó giúp trẻ nhớ thêm về các loại thực phẩm, biết các loại thực phẩm
được làm ra từ 4 nhóm, trẻ biết thêm được tầm quan trọng của các chất đối với
sự phát triển của trẻ. Việc giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở
hoạt động góc có hiệu quả vô cùng to lớn để lại ấn tượng cho trẻ rất tốt.
3.3.3.5. Thời điểm cho trẻ ăn.
Ngoài việc lồng ghép giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
vào các hoạt động trên việc giáo dục dinh dưỡng ở giờ ăn cũng rất quan trọng và
rất thiết thực đối với trẻ.
Ở giờ ăn: Tôi đã trò chuyện trao đổi với trẻ về bữa ăn hàng ngày như: Hàng
ngày trước khi ăn chúng ta phải làm gì? (Phải rửa tay) vì sao phải rửa tay?....Trẻ
học cách tự phục vụ bản thân, lấy ghế, bát, thìa...trẻ còn giúp nhau kê bàn ghế,
biết vệ sinh cá nhân trước khi ăn, biết chào mời người khác trước khi ăn, khi ăn
trẻ biết giữ vệ sinh chung và những hành vi văn hóa khác....
Vào giờ chia ăn tôi tranh thủ giới thiệu các món ăn cho trẻ và thành phần
các món ăn chứa nhiều chất gì? Tác dụng của chất đó đối với cơ thể của trẻ,
động viên trẻ ăn món đó tập ăn dần, lúc đầu ăn ít sau đó ăn đủ....
14
Ví dụ 1: Ở chủ đề “Thế giới động vật” tôi dùng lá xoài khô, bẹ ngô, đĩa
CD, làm những con cá sống ngoài biển, như cá thu, cá chim, làm những con vật,
ở địa phương không có để cho trẻ được làm quen. Từ đó tôi củng cố kiến thức
cho trẻ bằng sự luyến lái gợi ý như: Thịt lợn, thịt gà, cá, tôm thì cung cấp chất
gì? Có tác dụng gì đối với cơ thể chúng ta? Để đảm bảo vệ sinh thì chúng ta phải
làm gì? (Cung cấp chất đạm, chất béo, giúp cho cơ thể chúng ta nguồn năng
lượng để phát triển khỏe mạnh cân đối, trước khi ăn phải làm sạch nấu chín và
không ăn thực phẩm ôi thiu…).
Ví dụ 2: Tôi đã dùng xốp màu vàng, màu xanh và hộp nhựa để làm quả dứa
và trẻ được chơi, được trực tiếp hoạt động.
Ví dụ 3: Làm vườn rau bắp cải từ xốp màu xanh và vỏ thạch
- Tôi dùng các loại giấy màu phù hợp để bồi thành hình các loại quả cho trẻ
học và chơi như quả xoài, quả cam, quả na, quả đu đủ, quả khế…
- Ngoài ra tôi cũng đã dùng các loại phế liệu sẵn có ở địa phương để cắt tạo
ra những con vật, những loại quả… phục vụ cho các hoạt động học tập, hoạt
động chơi và trưng bày tại môi trường xung quanh lớp đẹp, hấp dẫn, phù hợp
với chủ đề như: Vườn rau, bộ ấm chén, lợn con, đàn vịt… Tôi còn cắt tỉa các
hộp nước rửa bát, ống luồng tạo thành hình thư một đàn lợn 10 con có kích
thước khác nhau, dùng để trồng và gieo các loại hạt cho trẻ quan sát khám phá
sự nảy mầm và lớn lên của cây.
Kết quả: Trong năm học qua tôi đã làm được 10 bộ đồ chơi về chất đạm, 10
bộ đồ chơi chất béo, 10 bộ đồ chơi về chất vi ta min và muối khoáng…. Tôi
cũng đã làm được 15 bộ đồ chơi nấu ăn để phục vụ cho việc học và chơi của trẻ.
(Ảnh về đồ chơi tự tạo-Xem phụ lục 2)
2.3.5. Phối hợp với trạm y tế xã khám sức khỏe và cân đo theo định kỳ,
kiểm tra thường xuyên VSATTP.
Phối hợp tốt với cơ sở y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ là một
trong những biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống duy dinh dưỡng
hơn nhiều so với đầu năm học.
2.4. Hiệu quả.
* Về phía trẻ:
Bằng những biện pháp và hình thức trên, kết quả giáo dục dinh dưỡng và an
toàn thực phẩm cho trẻ lớp tôi có những chuyển biến đáng kể, sức khỏe của trẻ
tăng lên rõ rệt. Tôi tiến hành cân, đo chấm biểu đồ lần 4:
Tổng
số trẻ
Kết quả cân đo
Kết quả cân
K BT
35
33
TL
%
94
Kênh SDD
Dưới -2 Và -3
2
TL
%
5,7
Kết quả đo
35
Kết quả Khám bệnh
Hô
hấp
TL
%
0
0
Ỉa
chảy
0
TL
%
0
Đau
mắt
TL
%
Sâu
0
Còi
xương
TL%
1
Bệnh
khác
29
0
* Kết quả khảo sát lần 2 ( tháng 4/ 2016) trên trẻ kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát trên trẻ về nhận thức,thói quen dinh dưỡng và vệ sinh
ATTP.
Kết quả trên trẻ
TT
ND khảo sát
Tổng
số
Đạt
35
35
100
0
0
3
Trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau
35
35
100
0
0
4
Biết hoạt động chế biến các món ăn đơn giản
35
35
100
0
0
(Kết quả khảo sát từng trẻ -Xem phụ lục 3).
Qua bảng khảo sát cuối năm học cho thấy sau khi áp dụng các biện pháp
giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ, kết quả chung trên
trẻ tăng lên rõ rệt: Khá - Tốt: Tăng rất cao; Trung bình: Giảm và chiếm tỷ lệ ít;
Đặc biệt không còn trẻ chưa đạt. Điều này cho thấy kết quả rất khả quan trong
công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ sau khi áp
dụng đề tài nghiên cứu ở các tỷ lệ đạt khá cao. Cho thấy việc cô giáo và phụ
huynh đóng vai trò rất quan trọng giúp trẻ lĩnh hội được nhiều hiểu biết của
mình về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
* Về phía giáo viên:
- Tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm để tổ chức các hoạt động lồng
ghép giáo dục trẻ kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ
đạt kết quả cao.
- Tạo được hứng thú cho trẻ khi tham gia các hoạt động giáo dục trẻ kiến
thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm .
* Về phía phụ huynh:
- Phụ huynh thường xuyên kết hợp với giáo viên cùng giáo dục trẻ kiến
thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Sưu tầm nhiều nguyên liệu cũ
18
- Tôi luôn kết hợp giữa gia đình và nhà trường để giúp trẻ tiếp cận và lĩnh
hội những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm một
cách tốt hơn.
- Học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, nghiên cứu tài liệu để từ
đó rút cho mình những bài học hay nhất góp phần vào việc chăm sóc và giáo dục
trẻ đạt kết quả cao.
*Kiến nghị .
- Đối với nhà trường ban giám hiệu cần tham mưu với lãnh đạo địa phương
cũng như tuyên truyền vận động sự ủng hộ của phụ huynh để bổ sung thêm vào
cơ sở vật chất và các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ.
Cần tổ chức hội nghị phụ huynh toàn trường tuyên truyền với các bậc phụ
huynh tăng thêm khẩu phần ăn cho các cháu để đảm bảo năng lượng hơn nữa
cho các cháu.
- Phòng giáo dục: Tổ chức buổi tập huấn về chuyên đề dinh dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho toàn bộ giáo viên được tham dự.
19
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình tôi giảng
dạy nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Những kinh nghiệm trên của tôi không tránh
khỏi phần thiếu sót và hạn chế. Những vấn đề đó nếu được cấp trên đóng góp ý
kiến xây dựng, tôi sẽ khắc phục trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ nói
chung và giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng trong
những năm học tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nga Sơn, ngày 10 tháng 04 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT
VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ LOẠI C TRỞ LÊN.
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Phương
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường mầm non Nga Yên.
Cấp đánh
giá
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng,
Sở, Tỉnh...)
Kết quả
đánh
giá xếp
loại
(A,B
hoặc C)
Năm học đánh
giá xếp loại
1
Một số kinh nghiệm nâng cao chất
lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4
tuổi.
2011-2012
4
Một số biện pháp phối kết hợp giữa
gia đình và trường trong việc chăm
sóc giáo dục trẻ trong trường mầm
non.
Phòng
GD&ĐT
C
2012-2013
5
Giải pháp mang dân ca gần hơn đến
với trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi trong
trường MN Nga Yên.
Phòng
GD&ĐT
Sở
GD&ĐT
A
2013-2014