Áp dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học đọc hiểu phần văn bản truyện dân gian (2016) - Pdf 45

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

======

PHẠM THỊ LƢƠNG

ÁP DỤNG PHƢƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC
ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN DÂN GIAN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Ngữ văn

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS. BÙI MINH ĐỨC

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa học và khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy
giáo PGS.TS Bùi Minh Đức - người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình
trong thời gian thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, các em học sinh trường
THPT Lạng Giang số 1 - Bắc Giang, quý bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để
tôi hoàn thành khóa học và khóa luận của mình.
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các


Phương pháp thảo luận nhóm

VB

Văn bản

PP

Phương pháp

NXB

Nhà xuất bản

BGD

Bộ giáo dục


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
7. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 4
8. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 4

truyện dân gian ở trường THPT Lạng Giang số 1 .......................................... 20
2.3.2. Sự cần thiết đổi mới PPTLN trong dạy học VB truyện dân gian ở
trường THPT Lạng Giang số 1- Bắc Giang .................................................... 29
2.4. Các nguyên tắc của việc áp dụng PPTLN trong dạy học đọc - hiểu
phần VB truyện dân gian................................................................................. 30
2.4.1. Câu hỏi thảo luận phải có tính vấn đề ................................................... 30
2.4.2. Việc thành lập nhóm dựa trên số lượng học sinh trong lớp và nội
dung bài học .................................................................................................... 31
2.4.3. Giáo viên cần quan sát, hỗ trợ học sinh trong quá trình thảo luận
nhóm ................................................................................................................ 32
2.4.4. Trình bày và đánh giá kết quả ............................................................... 33
2.5. Một số cách thức áp dụng PPTLN trong dạy học đọc - hiểu phần VB
truyện dân gian. ............................................................................................... 34


2.5.1. Áp dụng PPTLN trước khi học VB truyện dân gian............................. 34
2.5.2. Áp dụng kỹ thuật thảo luận nhóm trong giờ học. ................................. 35
2.5.2.1. Kỹ thuật đặt câu hỏi ........................................................................... 35
2.5.2.2. Kỹ thuật “Khăn phủ bàn” ................................................................... 35
2.5.2.3. Kỹ thuật dùng phiếu học tập .............................................................. 36
2.5.3. Đánh giá, rút kinh nghiệm..................................................................... 36
Chương 3: Thiết kế, thể nghiệm...................................................................... 38
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đổi mới chương trình SGK theo phát triển năng lực của người học. Thảo
luận nhóm là một trong những PP có thể phát huy được tính tích cực, chủ

thế giới quan, nhân sinh quan, góp phần giáo dục tư tưởng, hoàn thiện nhân
cách cho HS. Bởi “dạy Văn là dạy cách làm người”. Nhưng người GV không
thể trao ngay cho HS điều mình muốn dạy mà cách tốt nhất là đặt những tri
thức đó vào tình huống tích cực để HS tự mình chiếm lĩnh tri thức thông qua
những hoạt động tự giác, tích cực.
PPTLN đã được áp dụng tại Việt Nam trong thời gian qua song chưa hiệu
quả. Việc áp dụng PPTLN vào dạy học của nhiều GV còn lúng túng, chưa xác
định được những hoạt dộng cụ thể cần tiến hành. Do đó, tìm hiểu việc áp
dụng PPTLN vào dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng như thế
nào đang là vấn đề cần thiết .
Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài : “Áp dụng
phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học đọc – hiểu văn bản truyện dân
gian’’.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học phát huy tính tích cực của HS là đề tài đang được các nhà tư tưởng,
nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu. Và đặc biệt là PPTLN đã có nhiều công
trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau. Tiêu biểu như của tác giả:
- Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về chương
trình và quá trình dạy học ” đã đưa ra quan niệm về dạy học hợp tác theo
nhóm. Theo tác giả : “Dạy học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học
sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình
cũng như của người khác”. [ 6, tr.32 ]
- Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn “ Dạy học và phương pháp dạy trong
nhà trường” giới thiệu vấn đề về phương pháp dạy học trong nhà trường hiện
nay trong đó có phương pháp thảo luận nhóm . Tác giả cho rằng “ Phương

2


pháp thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) đã được


- Đối tượng nghiên cứu:
+ PPTLN.
+ Hoạt động dạy học VB truyện dân gian.
- Phạm vi nghiên cứu:
Các VB truyện dân gian lớp 10 ở trường THPT.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- PP phân tích, tổng hợp lý thuyết.
- PP khảo sát, kiểm tra.
- PP thực nghiệm.
7.Đóng góp của khóa luận
-Lí luận: Khóa luận tiếp tục hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về PPTLN.
-Thực tiễn: Khóa luận xác định được điều kiện và giải pháp thực hiện PPTLN
trong dạy học đọc – hiểu văn bản truyện dân gian ở THPT.
8. Bố cục của khóa luận
Phần MỞ ĐẦU
Phần NỘI DUNG gồm 3 chương:
- Chương 1:Những vấn đề lý luận chung về phương pháp thảo luận nhóm.
- Chương 2: Thực trạng và biện pháp áp dụng PPTLN trong dạy học đọc-hiểu
VB truyện dân gian.
- Chương 3: Thiết kế, thực nghiệm.
Phần KẾT LUẬN
Ngoài ra còn có phần phụ lục, danh mục chữ viết tắt và tài liệu tham
khảo.

4


NỘI DUNG
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về phƣơng pháp thảo luận nhóm

đo trình độ lao động. Dưới cái nhìn của C.Mác, PP có tính độc lập tương đối
với nội dung sự vật.
Cách tiếp cận của C.Mác về PP và phương tiện gợi cho ta hai bài học cực kỳ
quý báu về PP luận trong dạy học:
+ Thứ nhất: Có thể tách một cách tương đối giữa nôi dung dạy học và PP
dạy học, tức là giữa cái (đối tượng dạy học) và cách (phương pháp dạy học).
+ Thứ hai: Trình độ và hiệu quả của hoạt động dạy học được quyết định
bởi PP và phương tiện dạy học.
Hệ quả từ cách tiếp cận của C.Mác: Có nhiều PP triển khai một nội dung dạy
học, trong đó có mộtPP tốt nhất. Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học
phải trả lời được câu hỏi: Phương pháp nào là tối ưu nhất để chuyển tải nội
dung dạy học đến người học? Phương tiện nào là tốt nhất?
1.1.2. Quan niệm về phương pháp dạy học
PPDH là cách thức tiến hành hoạt động nghề nghiệp mà nhà giáo thiết kế
và thực hiện dựa trên cơ sở khoa học cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp để
tác động trực tiếp đến người đọc và các hoạt động của người học trong quá
trình giáo dục nhằm gây ảnh hưởng thuận lợi và hỗ trợ cho việc học theo mục
đích hay nguyên tắc dạy học đã quy định hoặc mong muốn.
Mỗi PPDH cụ thể phải chứa đựng đầy đủ các thành tố sau đây:
+ Hạt nhân lí luận, phản ánh bản chất của PPDH.
+ Hệ thống kĩ năng làm việc của nhà giáo thích hợp và đáp ứng được
việc thực thi lí luận, triết lí, nguyên lí đó trong thiết kế dạy học và tiến hành
dạy học theo thiết kế đó.

6


+ Các nguồn lực (phương tiện, học liệu, học cụ, các yếu tố hoàn cảnh cụ
thể…) làm chỗ dựa vững chắc cho các kĩ năng nói trên, giúp nhà giáo tác
động đến người học và việc học.

pháp này hiện được sử dụng khá phổ biến ở tất cả các môn học trong trường
THPT, trong đó có môn Ngữ văn.
Thảo luận nhóm là PP dạy học trong đó người dạy (người điều khiển) tổ
chức và điều khiển các thành viên trong lớp học trao đổi ý kiến và tư tưởng
của mình về nội dung học tập, qua đó đạt được mục đích dạy học.
1.2.3. Bản chất của phương pháp thảo luận nhóm
Mục đích của việc thảo luận nhóm là làm tăng tối đa cơ hội để các thành
viên được làm việc và thể hiện khả năng của mình; phát huy tinh thần hiểu
biết, hợp tác, thi đua và đoàn kết giữa các thành viên trong lớp.
Làm việc và thảo luận nhóm là hình thức học tập hợp quy luật tâm lí của
con người. Mọi cá nhân, từ nhỏ đến lớn đều có xu hướng thích sinh hoạt,
quan hệ và làm việc trong các nhóm. Ở đó cá nhân không những được thỏa
mãn nhu cầu giao tiếp, có cảm giác an toàn, mà còn xuất hiện nhiều hứng
khởi, làm tăng hiệu suất hoạt động.
Về phương diện tâm lí học, trong thảo luận theo nhóm giữa các thành
viên thường diễn ra các hiện tượng: Có sự tương tác mặt đối mặt giữa các
thành viên (do cự li của các thành viên trong nhóm gần nhau); có sự phụ
thuộc lẫn nhau một cách tích cực; trách nhiệm phải giải thích vấn đề thuộc về
từng cá nhân trong nhóm. Và hình thành các kĩ năng hợp tác nhóm và kĩ năng
xử lí tình huống trong nhóm.
1.2.4. Phân loại thảo luận nhóm
Có rất nhiều hình thức thảo luận nhóm. Hiệu quả của chúng tùy thuộc
vào ý đồ và tính chất sử dụng của người dạy. Dưới đây là một số hình thức
phổ biến:
* Nhóm nhỏ thông thường: GV chia lớp học thành các nhóm nhỏ (3-5 người)
để thảo luận một vấn đề cụ thể nào đó và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể
về vấn đề đó. Hình thức này thường được sử dụng kết hợp với các kĩ thuật

8



9


theo nhóm phù hợp hoặc cũng có thể lựa chọn nhiều hình thức thảo luận
nhóm kết hợp với nhau một cách linh hoạt.
1.2.5. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp thảo luận nhóm
1.2.5.1. Ưu điểm
Qua nghiên cứu quan niệm của các nhà giáo dục, dạy học bằng phương
pháp thảo luận nhóm có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất: Học theo nhóm bao giờ cũng sôi nổi. Nó tạo cơ hội tối đa cho
mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ hiểu biết và quan điểm của mình về
nội dung và PP học tập, cũng như các lĩnh vực khác; giúp họ có nhiều cơ hội
rèn luyện các khả năng diễn đạt cách thức tư duy và ý tưởng của mình. Điều
này đặc biệt có ích đối với những học sinh nhút nhát, ngại ngùng, ít phát biểu
trong lớp.
Thứ hai: Tạo cơ hội thuận lợi để các thành viên học hỏi lẫn nhau. Đây
chính là hình thức dạy học đa dạng và hiệu quả, nhất là đối với các lĩnh vực
tri thức, PP tư duy và kĩ năng diễn đạt. Do vậy các thành viên trong nhóm đều
phải nâng cao trách nhiệm và sự nỗ lực của mình trước nhóm. Dân gian có
câu: “Học thầy không tầy học bạn” .
Thứ ba: Tạo cơ hội thuận lợi để các thành viên trong lớp học làm quen,
trao đổi và hợp tác với nhau. HS tập lắng nghe ý kiến của người khác một
cách kiên nhẫn và lịch sự, thể hiện quan điểm của mình cũng như nhận xét
đánh giá ý kiến của bạn, điều chỉnh tư duy của mình. Góp phần làm tăng bầu
không khí hiểu biết, tin cậy thân thiện và đoàn kết giữa các thành viên.
Thứ tư: Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và
giữa các nhóm, đặc biệt là trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao,
rèn luyện, phát triển các kĩ năng tư duy phân tích, tổng hợp…
Thứ năm: Tạo nhiều cơ hội cho GV có thông tin phản hồi về người học.

dùng lời của giáo viên. Vì vậy, làm việc và thảo luận theo nhóm sẽ rất thích
hợp với các mục tiêu và nội dung dạy học mang tính phát triển và sáng tạo cá
nhân, tập thể, còn các nội dung học tập có tính khuôn mẫu thì hiệu quả của
phương pháp này bị suy giảm.

11


Thứ ba: Hiệu quả học tập của nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần
tham gia của các thành viên trong nhóm. Nếu trong nhóm thảo luận chỉ có
một vài người tham gia tích cực sẽ dẫn đến tình trạng có một vài người là chủ
nhân còn các thành viên khác là khách ngồi nghe, để mặc cho người khác dẫn
dắt và quyết định. Khi đó thảo luận nhóm trở thành sự độc diễn cá nhân, hệt
như PP thuyết trình của GV. Còn các thành viên khác trở thành “người ngoài
cuộc” – một hiện tượng khá phổ biến trong thảo luận hiện nay.
Thứ tư: Làm việc theo nhóm gây hưng phấn hoạt động rất cao cho các
thành viên và cho nhóm. Mặt khác nó cũng dễ tạo ra trạng thái mệt mỏi, trì
trệ. Vì vậy, làm việc theo nhóm không thích hợp với những buổi thảo luận
dài, thường xuyên và nhiều nội dung. Thiếu những yếu tố này, nhóm trở nên
kém hiệu quả.
Thứ năm: PPTLN đòi hỏi người GV phải có khả năng chuyển những tri
thức trong sách giáo khoa, tài liệu thành những tri thức dạy học dưới dạng
tình huống có vấn đề. Song điều này không hề đơn giản đối với mọi GV và
mọi bài học.
Thứ sáu: Khi tiến hành thảo luận nhóm, học sinh tích cực trao đổi, bàn
bạc nên thường gây ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp khác.
Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, thảo luận nhóm là một trong những
PP dạy học có thể phát huy được tính tích cực, tự giác của người học. Đó là
môi trường thuận lợi, là nơi phát huytrí tuệ tập thể, là nơi thể nghiệm vai trò
hoạt động xã hội của cá nhân. Những khó khăn, trở ngại chỉ là nhất thời nếu

tình cảm của mình trong VHDG, một loại nghệ thuật không chuyên. Về loại

13


hình nghệ thuật: Tính nguyên hợp của VHDG biểu hiện ở chỗ: VHDG không
chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện
nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác
phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó, không chỉ
có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…
Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. VHDG có ba
dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian), tồn tại cố
định (tồn tại bằng văn tự), tồn tại hiện (tồn tại thông qua diễn xướng). Tồn tại
bằng diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của VHDG. Tuy nhiên, không thể
phủ nhận hai dạng tồn tại kia : bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về
VHDG và công việc giảng dạy VHDG trong nhà trường. Trở lại vấn đề chính,
trong biểu diễn các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm VHDG mới có điều
kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp này
một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính
nguyên hợp.
2.1.2.2. Tính tập thể của văn học dân gian
VHDG là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác
giả của VHDG. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập
thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm VHDG.
Quá trình sáng tác tác phẩm VHDG diễn ra như sau:
+ Lúc đầu một người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể
tiếp nhận.
+ Sau đó những người khác (có thể ở những địa phương khác nhau hoặc
những thời đại khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm
biến đổi dần phong phú hơn, hoàn thiện hơn cả về nội dung lẫn hình thức.

tiếp tục kể cả khi tác phẩm VHDG đã được ghi chép lại.

15


Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và
sinh động. Người ta có thể kể, nói, hát, diễn tác phẩm VHDG.Tính truyền
miệng làm nảy sinh một hệ quả đó là tính dị bản của tác phẩm VHDG.
Qua các đặc trưng vừa nêu ta thấy rằng tính tập thể và tính truyền miệng
là những đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo và lưu
truyền VHDG, thể hiện sự gắn bó mật thiết của VHDG với các sinh hoạt khác
nhau trong đời sống cộng đồng.
2.2. Văn bản truyện dân gian
2.2.1.Khái niệm
Văn bản truyện dân gian là những câu chuyện được người lao động đúc
kết từ cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, những truyện xảy ra xung quanh được
truyền lại qua nhiều thế hệ bằng miệng hay chữ viết.
Để tìm hiểu đặc trưng của VB truyện dân gian ta cần tìm hiểu đầy đủ và
chính xác về VB văn học dân gian. Bởi VB truyện dân gian là một trong
những thể loại tiêu biểu của văn học dân gian.
2.2.2. Đặc trưng của VB truyện dân gian.
Trong dạy đọc - hiểu VB truyện dân gian, GV chỉ là người hướng dẫn,
dìu dắt, nêu vấn đề để HS trao đổi, thảo luận; là người dạy về phương pháp
đọc chứ không phải đọc thay, đọc giùm, biến HS thành thính giả thụ động của
mình. Giáo án của GV chủ yếu phải là giáo án về phương pháp đọc cho HS.
Cái nhầm chủ yếu của người thầy hiện nay là giáo án nội dung dùng cho
người dạy chứ không phải là giáo án để dạy phương pháp đọc cho người học.
Môn Văn trong nhà trường trung học, nhất là THPT của ta đã có truyền
thống lâu đời, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và có nhiều thành tựu. Tuy
nhiên trong bối cảnh đổi mới nội dung và phương pháp dạy học hiện nay vẫn

giá bằng năng lực nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin từ các văn bản
khác nhau. Mà muốn thế trước hết họ phải biết đọc, không phải chỉ biết đọc

17


chữ, đọc diễn cảm, mà trước hết phải biết đọc hiểu, qua một văn bản phải biết
đâu là chỗ quy tụ thông tin, đâu là khâu then chốt thể hiện tư tưởng của tác
giả.
Ấy thế nhưng cho đến nay ở nước ta hầu như chưa có khái niệm đọc - hiểu
văn bản. Các từ điển hầu như không có mục từ ấy, các giáo trình PP giảng dạy
môn Văn nói nhiều tới “dạy người”, “dạy cảm thụ”, “dạy năng lực tư duy đọc
diễn cảm”… Nhưng ít ai nói tới việc dạy đọc, tức là dạy cho học sinh một
hoạt động phải làm việc với con chữ, với câu văn, với dấu phẩy, dấu chấm
của văn bản để hiểu đúng, hiểu sâu văn bản đó. Cứ cầm bài văn lên đọc là học
sinh tự động hiểu. Cái khó của học sinh chỉ là chưa biết cảm thụ cái hay, cái
đẹp nữa mà thôi.
Nhược điểm trên là một biểu hiện của quan niệm thiên lệch, xem trọng
giáo dục tri thức mà coi nhẹ giáo dục trí năng, coi trọng việc dạy mà xem nhẹ
việc học. Môn Tiếng Việt thì trở thành một môn Ngữ học thu nhỏ. Môn Làm
văn thì học đủ các kiểu bài, đặc biệt là nghị luận văn học để ứng với nội dung
văn học nghệ thuật của phân môn văn. Coi trọng tri thức là đúng, nhưng trong
thời lượng có hạn mà chương trình chỉ chú trọng tri thức thì có nghĩa là lấn át
việc đào tạo trí năng. Cái gọi là nặng tri thức hàn lâm mà thiếu thực hành là
biểu hiện của quan điểm coi nhẹ đào tạo trí năng cho học sinh đó.Bản thân
việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông, đọc thuộc, không vấp váp về ngữ
âm, nghĩa từ, biết ngừng giọng đúng chỗ là một trình độ. Để đọc – hiểu một
VB truyện dân gian ta cũng lần lượt thực hiện các bước sau:
Bước một là đọc thông và hiểu sơ qua về VB đó.
Bước hai là đọc kỹ, đọc sâu để nắm được các ý, nội dung chính của VB


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status