MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân là một chủ trương lớn đã được ghi nhận trong các nghị quyết của
Đảng và được Nhà nước thể chế hóa trong các quy định của Hiến pháp năm 2013.
Để xây dựng nhà nước pháp quyền thì cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn
thiện. Chính vì vậy, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong đó đề ra mục tiêu:
“Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi,
công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng
và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần
quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây
dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do,
dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại vào năm 2020.” [33]
Cùng với việc đề ra mục tiêu, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị
“về chiến lược cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020” đã đặt ra: Phải tích cực đẩy
mạnh hơn nữa công tác hệ thống hóa pháp luật mà vấn đề then chốt là chuyển
trọng tâm sang hoạt động pháp điển hóa nhằm tạo ra nhiều bộ luật, đạo luật đảm
bảo vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước.
Thực tế cho thấy, công tác hệ thống hóa pháp luật đặc biệt là pháp điển hóa
pháp luật đã bước đầu phát triển, có một số văn bản quy phạm pháp luật được
thống kê và lên danh mục, một số văn bản quy phạm pháp luật khác được pháp
điển hóa. Bên cạnh đó các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung và
được Quốc hội thông qua ngày càng nhiều. Theo thống kê của Cơ sở dữ liệu của
Văn phòng Quốc hội, trong khoảng thời gian từ tháng 9/1945 cho đến đầu tháng
02/2009, tổng số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành còn hiệu lực thi hành
1
thiết và cấp bách của việc nghiên cứu pháp điển ở Việt Nam hiện nay.
2
Như vậy, hệ thống hóa, pháp điển hóa pháp luật ở Việt Nam hiện nay là một
nhiệm vụ trọng tâm, việc tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng hoạt động pháp điển hoá ở Việt Nam là hết sức cần thiết. Từ thực tế
này khẳng định, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Pháp điển hóa - nghiên cứu
lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp điển hóa điển hình trên thế giới và
kiến nghị đối với Việt Nam” sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
2.1.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống lý
luận về vấn đề pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa; việc tổ chức, thực hiện
mô hình pháp điển hóa của các quốc gia điển hình trên thế giới và những kinh
nghiệm đối với thực tiễn pháp điển hóa ở nước ta hiện nay; nghiên cứu thực trạng
và giải pháp hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay.
2.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, Luận án cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là: Kế thừa các vấn đề lý luận về pháp điển hóa mà các công trình của
các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và các học giả đã giải quyết (như vấn đề
khái niệm, đặc điểm, kết quả của pháp điển hóa).
Hai là: Trên cơ sở kế thừa một số nội dung đã được giải quyết, luận án sẽ
Về mặt không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về các mô hình pháp điển
hóa của một số nước điển hình trên thế giới và Việt Nam. Khái niệm “điển hình”
luận án khai thác kết hợp dưới hai góc độ vừa là các quốc gia tiêu biểu của nhóm
hệ thống pháp luật chính trên thế giới vừa là sự điển hình về phương thức pháp
điển hóa cơ bản. Đó là Pháp, Đức - đại điện cho nhóm nước thuộc hệ thống pháp
luật châu Âu lục địa (Civil Law); Hoa kỳ, Canada - đại điện cho nhóm nước thuộc
hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common Law); Trung Quốc - đại diện cho nhóm
nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; Singapore - đại diện cho nhóm
nước thuộc các hệ thống pháp luật khác và Việt Nam.
Về mặt thời gian: Luận án nghiên cứu về hoạt động pháp điển hóa của các
quốc gia trong đời sống pháp lý thực tế hiện nay. Tại Việt Nam, luận án tập trung
nghiên cứu chủ yếu từ năm 1992 đến năm 2017; đặc biệt phân tích sâu sắc, chi tiết
hơn giai đoạn từ khi Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được ban
hành cho đến hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng những phương pháp chính
như: phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để lý giải những vấn đề lý luận
4
cơ bản, thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động pháp điển hóa ở
Việt Nam hiện nay.
Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng xuyên suốt trong luận án.
Các vấn đề thuộc nội dung của luận án được nghiên cứu với mối quan hệ tác động
qua lại lẫn nhau trong một tổng thể và đặt trong điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu
và mục đích quản lý nhà nước.
Phương pháp phân tích được sử dụng để xem xét, đánh giá cụ thể, sâu sắc
các vấn đề lý luận về pháp điển hóa với các khía cạnh khác nhau. Bên cạnh đó,
bảo đảm sự hoàn thiện, hài hòa pháp luật phục vụ công cuộc đổi mới đất nước.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ bổ sung, hoàn thiện và làm sâu sắc thêm
những vấn đề lý luận về pháp điển hóa. Đồng thời, góp phần tiếp tục phát triển,
hoàn thiện những tri thức lý luận về pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật Việt
Nam hiện nay.
Luận án cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động
nghiên cứu và giảng dạy đối với chuyên ngành Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật cũng như các nhà hoạt động thực tiễn.
Các giải pháp mà luận án đưa ra cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình
hoàn thiện chính sách, pháp luật về pháp điển hóa. Đồng thời, nó cũng có giá trị
tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc xây
dựng, tổ chức và thực hiện pháp luật.
7. Kết cấu của luận án
Cơ cấu của luận án bao gồm: danh mục từ viết tắt, mục lục, lời nói đầu, nội
dung luận án, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, danh mục các công
trình khoa học đã công bố. Nội dung cơ bản của luận án gồm có bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận về pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa.
Chương 3: Mô hình pháp điển hóa của một số nước và kinh nghiệm đối với
Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở Việt
Nam hiện nay.
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Pháp điển hóa – nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình pháp
điển hóa điển hình trên thế giới là một đề tài có nội dung, đối tượng, phương pháp
nghiên cứu những nội dung khái quát về pháp điển hóa và gắn pháp điển hóa vào
các lĩnh vực pháp lý khác nhau. Tác giả kết cấu thành 19 chapters (19 chương) bắt
đầu từ việc nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và lịch sử chung của pháp điển hóa
(Chapter 1: Codification, decodification anh recodification: history, politics and
procedure – tìm hiểu về lịch sử, chính trị và thủ tục của pháp điển hóa). Tuy nhiên,
vì giới hạn trong một chương của cuốn sách nên sự tiếp cận và nghiên cứu các vấn
đề lý luận chung của pháp điển hóa còn sơ sài, khái quát. Các nội dung kế tiếp của
cuốn sách gắn việc nghiên cứu pháp điển hóa với những lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn
như “pháp điển hóa của pháp luật tư nhân trong thời hậu Xô Viết”, “pháp điển hóa
luật hình sự vượt ra ngoài nhà nước quốc gia” và “pháp điển hóa mềm của pháp
luật tư nhân”… Như vậy, nhìn một cách tổng thể, những nội dung nghiên cứu về lý
thuyết và lịch sử pháp điển hóa còn ít và sơ sài, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và
luận giải sâu sắc hơn ở các công trình kế tiếp.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu thực tiễn về pháp điển hóa
Cuốn sách “Codification in East Asia” – Pháp điển hóa ở Đông Á (bao gồm
các tài liệu được lựa chọn từ Hội nghị chuyên đề IACL 2) của tác giả Wang, WenYeu (Editors), bản quyền năm 2014. Cuốn sách này nghiên cứu về pháp điển hóa ở
khu vực Đông Á. Về tổng thể, cuốn sách bao gồm 19 chương, mỗi chương có đi
sâu nghiên cứu vào hoạt động pháp điển hóa của từng quốc gia như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đồng thời cũng rút ra bài học so sánh từ hoạt động
pháp điển hóa ở Nhật Bản, Ấn Độ và Indonexia. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về
pháp điển hóa chủ yếu bị giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định như luật thương
mại, luật hành chính, luật dân sự và tư pháp quốc tế ở Đông Á nên những giá trị
mà nó đem lại không nhiều. Mặc dù vậy, cuốn sách cũng được coi là tài liệu tham
khảo quan trọng đối với tác giả luận án, cung cấp cho tác giả một vài kinh nghiệm
về pháp điển hóa ở các nước Đông Á, từ đó có những kiến nghị phù hợp với Việt
Nam hiện nay.
Tiếp theo, cuốn “Codification in the united states: An address delivered
before the graduating classes at the sixtieth anniversary Yale law school” (Pháp
phần nội dung chương 3 nghiên cứu so sánh pháp điển của các nước trên thế giới
(bao gồm nghiên cứu cả về hoạt động pháp điển hóa của nước Pháp)
Báo cáo về “Kinh nghiệm so sánh về pháp điển hóa ở Cộng hòa Pháp và
một số nước Châu Âu” của Bà Elisabeth Catta - Chuyên gia Cộng hòa Pháp (Các
nguồn dẫn chiếu được sử dụng để soạn thảo Báo cáo này xuất phát từ một nghiên
9
cứu được thực hiện vào tháng 8 năm 2007 bởi Tổng vụ pháp luật của liên minh
châu âu, và một số được tìm từ trang web của các nước thành viên liên minh - Bản
dịch của Nguyễn Hữu Huyên, Chuyên viên Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ Tư pháp). Tại
báo cáo, bà Elisabeth Catta cũng đã có sự phân tích chi tiết về hệ thống pháp luật
của một số nước châu Âu nói chung và Cộng hòa Pháp nói riêng; bà cũng đưa ra
một cách tiếp cận về pháp điển hóa, đó là một thủ tục theo đó các văn bản cần
được pháp điển hoá sẽ bị bãi bỏ, sau đó được thay thế bằng một văn bản duy nhất
nhưng không làm thay đổi các văn bản gốc. Tuy nhiên, theo bà để tiến hành pháp
điển hóa được như nội dung nêu trên thì đòi hỏi trước tiên phải có sự cập nhật các
văn bản khác nhau bằng cách đưa vào các sửa đổi, bổ sung, sau đó làm việc lại trên
một văn bản duy nhất nhằm đạt được một văn bản cuối cùng đảm bảo tính liên kết
và dễ hiểu. Như vậy, có thể thấy báo cáo của bà Elisabeth đã có phần nào tiếp cận,
diễn giải khá chi tiết về cách thức, thủ tục tiến hành pháp điển hóa của Cộng hòa
Pháp và của Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, cách tiếp cận đó mới chỉ giúp chúng
ta hiểu về cách thức pháp điển hóa của một châu lục và rõ ràng sự điển hình cũng
chưa bao trùm phạm vi thế giới cũng như kinh nghiệm cho Việt Nam thì báo cáo
của bà chưa đề cập tới.
Nghiên cứu về pháp điển hóa ở Trung Quốc, Tiến sĩ Kong Qingjiang – Giáo
sư Luật, Khoa Luật, Đại Học Zhejiang Gongshang, Trung Quốc với báo cáo “Mâu
thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật và việc xử lý chúng ở Trung Quốc”
(báo cáo tại Hội thảo rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tổ chức
năm 2006, 2007 tại Nhà pháp luật Việt – Pháp, Đại học Luật Hà Nội). Tại báo cáo,
trên đã giải quyết được một số nội dung như vai trò, ý nghĩa, thực tiễn pháp điển
hóa tại một số khu vực, quốc gia đơn lẻ.. Tuy nhiên, còn khá nhiều vấn đề cần tiếp
tục nghiên cứu để hoàn thiện lý thuyết về pháp điển hóa cũng như mô hình pháp
điển hóa như khái niệm về pháp điển hóa, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt
động này; khái niệm mô hình pháp điển hóa, xây dựng các mô hình pháp điển hóa
điển hình trên thế giới … cần được giải quyết trong cuốn Luận án này.
1.2.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. Nhóm công trình nghiên cứu lí luận về pháp điển hóa
Nghiên cứu về vấn đề pháp điển hóa, tác giả đã có dịp tiếp xúc với một số
công trình nghiên cứu quan trọng, có giá trị cao trong khoa học pháp lý. Với tính
chất khá gần với hoạt động xây dựng pháp luật, hơn nữa với mục tiêu của hoạt
động pháp điển hóa là hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong quá trình
11
triển khai đề tài, khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học về hệ thống pháp luật,
về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được các tác giả tiếp cận với
nhiều khía cạnh khác nhau:
Cuốn sách của GS.TS. Lê Minh Tâm Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, năm 2003 đã gợi mở khá nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến nội dung của
luận án. Cuốn sách được tác giả phân tích sâu sắc về bản chất, giá trị và hình thức
của pháp luật làm tiền đề để luận giải những vấn đề cơ bản của xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật. Theo tác giả, pháp luật là sự biểu hiện của văn minh và
văn hóa; là cơ sở để đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm, bảo vệ
quyền, tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, bảo đảm công
bằng, bình đẳng trong xã hội, là nhân tố quan trọng bảo đảm phát triển bền vững
Nam do PGS.TS Phan Trung Lý chủ biên năm 2011, cũng đã tiếp cận và lý giải các
vấn đề liên quan đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tác giả đã tiếp cận về tính
thống nhất cũng như các điều kiện để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp
luật Việt Nam từ yêu cầu và thực trạng bảo đảm tính thống nhất; các giải pháp
nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và so
sánh với việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật một số nước. Có thể
nói, những giải pháp được nhóm tác giả nghiên cứu về bảo đảm tính thống nhất
của hệ thống pháp luật sẽ giúp ích khá nhiều cho luận án trong việc đề xuất các
giải pháp và xây dựng mô hình pháp điển hóa phù hợp với Việt Nam.
Nghiên cứu một cách cụ thể về pháp điển hóa từ những góc độ lý luận chung
cho đến các nội dung cụ thể về đặc điểm, cấp độ, nguyên tắc, truyền thống, GS.TS.
Lê Minh Tâm với bài viết Mấy vấn đề lý luận về pháp điển hóa trên Tạp chí Luật
học, số 7/2006. Với bài viết này, GS đã giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản
như khái niệm - thuật ngữ pháp điển, pháp điển hóa; nội dung các cấp độ của pháp
điển; hình thức pháp điển hóa; một số điều kiện và tiền đề tiến hành pháp điển hóa.
Đặc biệt, trong bài viết tác giả khẳng định để tiến hành pháp điển hóa thành công
cần chuẩn bị tốt các tiền đề, điều kiện cần thiết về chính sách pháp luật, triết lý
pháp luật, các nguồn luật, các phương pháp, kinh nghiệm và kĩ thuật pháp lý. Mặt
khác, tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các điều kiện về tổ chức, về cơ sở
pháp lý, về tài chính, về nhân lực … để bảo đảm cho việc tiến hành pháp điển hóa
thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của một bài tạp
chí, tác giả chưa có điều kiện để triển khai vấn đề và phân tích nội dung một cách
cụ thể, sâu sắc về pháp điển hóa. Mặc dù vậy, nó được coi là một tài liệu tham
13
khảo giá trị đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu các nội dung có tính lý
luận về pháp điển hóa.
Dưới góc độ truyền thống, coi pháp điển hóa là một hình thức của hệ thống
hóa pháp luật, tác giả TS. Nguyễn Thị Hồi với bài viết Một cách tiếp cận về hệ
chí Quản lý nhà nước, số 10/2011. Với bài viết này, các tác giả muốn nhấn mạnh
vai trò quan trọng của pháp điển hóa trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
và coi trọng các nguyên tắc tiến hành hoạt động này. Bài viết nêu ra một số nguyên
tắc tại Việt Nam như đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp
chế, thực tiễn, khoa học, sử dụng kinh nghiệm pháp lý – quản lý, dân chủ, kĩ thuật
pháp lý. Các tác giả bài viết quan niệm pháp điển hóa như một hoạt động sáng tạo
pháp luật và các nguyên tắc nêu trên là cơ sở quan trọng để thực hiện hoạt động
sáng tạo pháp luật. Tuy nhiên, với việc coi pháp điển hóa là hoạt động sáng tạo
pháp luật, có thể có những ý kiến trao đổi thêm bởi vì sáng tạo pháp luật là một
hoạt động rất rộng hay nói cách khác chính là hoạt động xây dựng pháp luật theo
nghĩa rộng, còn pháp điển hóa thì được hiểu theo nghĩa hẹp hơn nhiều. Mặc dù
vậy, bài viết cũng là tài liệu tham khảo cung cấp một cách nhìn khác về ý nghĩa
của pháp điển hóa.
Năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường thuộc Trường Đại học
Luật Hà Nội, Kiểm tra, rà soát, xử lý, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật
với mã số LH-09-08/ĐHL-HN do TS. Bùi Thị Đào làm chủ nhiệm. Đề tài được
nhóm tác giả nghiên cứu công phu với cách tiếp truyền thống về pháp điển hóa với
tư cách là một hình thức của hoạt động hệ thống hóa. Với cách tiếp cận đó, nhóm
tác giả đã luận giải một vài nội dung của pháp điển hóa từ khái niệm, đặc điểm cho
đến đánh giá sơ lược thực trạng pháp điển hóa ở Việt Nam và đề xuất giải pháp,
trong đó tác giả nhấn mạnh việc phải coi trọng hơn nữa hoạt động pháp điển hóa.
Tuy nhiên, với sự giới hạn của một công trình khoa học cấp cơ sở, hơn nữa lại
nghiên cứu về nhiều nội dung mà pháp điển hóa chỉ là một nội dung nghiên cứu
trong phần về hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật nên về cơ bản công trình
chưa đi sâu giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa.
Bên cạnh đó, cuốn sách Pháp điển hóa – những vấn đề lý luận và thực tiễn
do tác giả Đặng Văn Chiến chủ biên năm 2015. Nội dung cuốn sách nghiên cứu
một số vấn đề lý luận về pháp điển hóa, hoạt động pháp điển hóa của một số quốc
gia trên thế giới bằng các phương thức khác nhau, có thể bằng cách xây dựng bộ
luật mới, hoặc có khi là xây dựng bộ pháp điển theo chủ đề …Tuy nhiên, chính
vì sự giới hạn của một bài tạp chí không cho phép tác giả có thể triển khai mọi vấn đề
về pháp điển hóa trong bài viết của mình. Cũng tiếp mạch nghiên cứu về kinh nghiệm
nước ngoài, Th.s. Cao Xuân Phong có bài viết Pháp điển hóa kinh nghiệm nước ngoài
và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 6/2006.
16
Khác với các tác giả nêu trên nghiên cứu hoạt động pháp điển hóa của rất
nhiều quốc gia thì đến tác giả Nguyễn Phước Thọ với bài viết Một số kinh nghiệm
pháp điển hóa, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Cộng hòa Liên bang
Đức, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2011. Tác giả đã tập trung nghiên cứu
về hoạt động pháp điển hóa của nước Đức, trong đó chủ yếu khai thác về quy trình
tiến hành pháp điển hóa của nhà nước này, qua đó rút ra một số kinh nghiệm đối
với Việt Nam. Kinh nghiệm lớn nhất từ việc nghiên cứu về hoạt động pháp điển
hóa tại Đức mà tác giả bài viết nêu ra là cần phải coi pháp điển hóa là một nội dung
quan trọng của cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động này phải được
làm một cách thường xuyên, liên tục. Hơn nữa, mục tiêu, yêu cầu và các phương
thức tiến hành pháp điển hóa cần được thể chế hóa bằng các quy định của pháp
luật. Tác giả bài viết nhận định “đây là bài học quan trọng nhất rút ra từ kinh
nghiệm pháp điển hóa của Cộng hòa liên bang Đức, mà cốt lõi là không ngồi chờ
đến khi hệ thống pháp luật trở nên quá cồng kềnh, phức tạp, quá sức chịu đựng
của xã hội mới tiến hành pháp điển hóa, mới thay đổi quan niệm, cách tiếp cận
trong thực hiện pháp điển hóa” [102, tr.29].
Tiếp mạch nghiên cứu đó, GS.TS Phan Trung Lý và Lê Thanh Hoàn với bài
viết Quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 11/2010. Có thể thấy, bài viết là sự nghiên cứu khá chi tiết các vấn đề thuộc về
kỹ thuật, quy trình lập pháp và pháp điển hóa ở Canada. Nghiên cứu về hoạt động
pháp điển hóa tại Canada, các tác giả thấy về cơ bản việc pháp điển hóa cũng tiến
hành tương tự như Hoa kì, tuy nhiên ở Canada, họ thực tế hơn bởi họ không cố
gắng xây dựng các bộ luật hoành tráng như Hoa Kì. Thậm chí, việc pháp điển hóa
Tiếp cận dưới góc độ lịch sử, truyền thống pháp điển của Việt Nam, tác giả
Nguyễn Đình Lộc có bài viết Truyền thống pháp điển hóa qua các triều đại phong
kiến Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14/2008. Tác giả bài viết cho
rằng, hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam đã được tiến hành từ khá lâu – ngay từ
các triều đại phong kiến và sản phẩm chính là sự ra đời của các Bộ luật thời phong
kiến như Bộ Hình thư triều Trần, Bộ Quốc triều hình luật triều Lê ….Từ thực tế
lịch sử đó, tác giả khẳng định Việt Nam đã có một truyền thống pháp điển hóa bắt
nguồn từ các triều đại phong kiến cho đến hiện nay, đó chính là sự tiếp nối truyền
thống của cha ông qua các triều đại, thế hệ. Như vậy, bài viết đã cung cấp một cái
nhìn lịch sử về hoạt động này ở Việt Nam để từ đó đúc rút những kinh nghiệm cho
việc triển khai hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay.
18
Gắn việc nghiên cứu pháp điển hóa với các quy định pháp luật hiện hành, tác
giả PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Vân với bài viết Quan điểm tiếp cận về pháp điển
trong pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Tạp chí Quản lý nhà
nước số 224 tháng 9/2014. Bài viết bàn về các quy định trong Pháp lệnh Pháp điển
hệ thống quy phạm pháp luật năm 2012 và có gợi mở một số vấn đề thực tiễn đặt
ra cho hoạt động pháp điển hóa ở Việt Nam như vấn đề về kỹ thuật, hình thức, nội
dung pháp điển hóa.
Dưới góc độ một hoạt động mang tính kỹ thuật, tác giả Mai Văn Minh có bài
viết “Pháp điển hóa Pháp lệnh Tổ chức Viện kiểm sát quân sự vào Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân” trên Tạp chí Kiểm sát, số 9/2013. Bài viết chủ yếu nghiên
cứu pháp điển hóa với tính cách như hoạt động mang tính kỹ thuật và mục đích chủ
yếu là làm cho các quy định pháp luật trong lĩnh vực tổ chức Viện kiểm sát được
tinh gọn, hiệu quả cao hơn bằng việc tạo ra một văn bản duy nhất. Như vậy, bài
viết mặc dù không có giá trị nhiều trong việc tìm hiểu về pháp điển hóa nói chung
từ lý luận đến thực tiễn, nhưng ít nhiều xét trong một lĩnh vực cụ thể thì cũng đem
lại những giá trị nhất định.
vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn” của TS. Lê Hồng Sơn – Cục trưởng Cục kiểm
tra văn bản, Bộ Tư pháp, trình bày vắn tắt các quan điểm về pháp điển hóa của các
nước thuộc hệ thống pháp luật khác nhau và đưa ra quan điểm của tác giả về hoạt
động pháp điển hóa tại Việt Nam; Hoặc bài “Một số suy nghĩ bước đầu về pháp điển
hóa – từ góc nhìn lý luận và thực tiễn lịch sử” của TS. Nguyễn Đình Lộc - Ủy ban
pháp luật của Quốc hội, nghiên cứu về pháp điển hóa ở Việt Nam qua các giai đoạn
lịch sử khác nhau; Hoặc bài “Pháp điển hóa – thực chất, nội dung những giới hạn và
điểm dừng cần thiết” của GS.TS. Lê Minh Tâm – Hiệu trưởng trường Đại học Luật
HN …Tuy nhiên, cơ bản các bài viết tham gia Tọa đàm khoa học mới dừng lại ở
việc gợi mở các vấn đề về lý luận và thực tiễn về pháp điển hóa tại Việt Nam để các
nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và làm sâu sắc thêm.
Tiếp đến, cuốn Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Hà với nhan đề
“Pháp điển hóa pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
hiện nay” thực hiện tại Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 2008. Luận án đã giải
quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp điển hóa như khái niệm, quy trình …
đặc biệt luận án cũng có sự phân biệt khá sâu sắc sự khác nhau giữa pháp điển hóa
với tập hợp hóa, với xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, luận án
cũng ít nhiều đánh giá thực trạng và đề xuất các phương hướng, giải pháp về pháp
điển hóa gắn với pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
20
hiện nay. Tuy nhiên, vì phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào Việt Nam và
trong một lĩnh vực là pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho nên
những nhận định mà tác giả đưa ra chưa có tính bao quát mà luôn gắn với lĩnh vực
pháp luật về ban hành văn bản qui phạm pháp luật cho nên các vấn đề như nguyên
tắc, tiền đề, điều kiện … của pháp điển hóa thì không được nghiên cứu trong luận
án. Mặc dù vậy, ở một góc độ nào đó công trình vẫn đem lại những giá trị tham
khảo nhất định đối với tác giả luận án, cung cấp một bức tranh về pháp điển hóa
pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật những năm 2008 ở Việt Nam,
là tài liệu tham khảo quan trọng trong việc tác giả đề xuất những giải pháp để nâng
cao chất lượng pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay. Nhìn chung có khá nhiều công
trình nghiên cứu về phương hướng, giải pháp cho hoạt động pháp điển hóa ở Việt
Nam hiện nay. Tuy nhiên, về cơ bản sự đóng góp cũng như ý nghĩa mà chúng
mang lại chưa cao. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để tìm ra những phương
hướng, giải pháp để thiết lập mô hình pháp điển hóa phù hợp với Việt Nam là điều
thực sự cần thiết.
Tóm lại: Nghiên cứu ở phạm vi trong nước, cũng có khá nhiều công trình
nghiên cứu về pháp điển hóa, tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận pháp điển
hóa dưới góc độ so sánh các mô hình pháp điển điển hình và đề xuất kiến nghị cho
Việt Nam. Mỗi công trình nghiên cứu nêu trên về cơ bản chỉ dừng lại ở việc tiếp
cận từng góc độ đơn lẻ, hoặc là về nguyên tắc, hoặc là đưa ra khái niệm nhưng còn
khá nguyên sơ chưa toát lên bản chất của pháp điển hóa… Thiết nghĩ, vì giới hạn ở
những cấp độ khác nhau, phạm vi tiếp cận khác nhau nên nhìn chung các công
trình trên vẫn còn những hạn chế nhất định. Liên quan đến pháp điển hóa còn rất
nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ. Chẳng hạn, các yếu tố ảnh
hưởng tới việc xây dựng mô hình pháp điển hóa, so sánh một vài mô hình pháp
điển tiêu biểu trên thế giới … Đặc biệt, việc nghiên cứu, so sánh các mô hình pháp
điển hóa điển hình trên thế giới và đề xuất kiến nghị đối với Việt Nam là việc làm
quan trọng, đem lại ý nghĩa lớn đối với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 - 2020.
1.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Từ thực tế các công trình nghiên cứu về pháp điển hóa nêu trên, với đề tài
luận án “Pháp điển hóa - nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh các mô hình
pháp điển hóa điển hình trên thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam”, cần phải
tiếp tục một số công việc sau:
22
Tiếp tục kế thừa một số vấn đề lý luận về pháp điển hóa mà các công trình
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những lý thuyết, quan điểm khoa học nào là nền tảng
cho việc nghiên cứu pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa?
23
Câu hỏi nghiên cứu 2: Bản chất và những nội dung cơ bản của pháp điển
hóa và mô hình pháp điển hóa. Dựa vào đâu để xác định các mô hình pháp điển
hóa điển hình trên thế giới?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Thực tiễn mô hình pháp điển hóa của một số nước
(điển hình) trên thế giới như thế nào và đem lại những kinh nghiệm gì đối với thực
tiễn pháp điển hóa ở Việt Nam hiện nay?
Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam hiện
nay ra sao và cần thực hiện các giải pháp cơ bản nào để hoàn thiện mô hình pháp
điển hóa ở nước ta hiện nay?
1.4.2. Giả thuyết khoa học
Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và
những câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã xác định giả thuyết khoa học của luận án là:
Trong những năm qua, hoạt động pháp điển hóa của Việt Nam còn chưa được quan
tâm đúng mức. Công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền và hoàn thiện hệ thống
pháp luật đòi hỏi cần thiết phải có sự nghiên cứu đúng đắn về pháp điển hóa, xây
dựng và hoàn thiện mô hình pháp điển hóa ở nước ta hiện nay. Cho đến nay, nhiều
vấn đề lý luận về pháp điển hóa và mô hình pháp điển hóa chưa được làm rõ nên
còn nhiều cách nhận thức, tiếp cận khác nhau. Do vậy, vần đề đầu tiên và cấp bách
là cần có một công trình nghiên cứu toàn diện, tổng thể về vấn đề này.
Bên cạnh đó, vấn đề mô hình pháp điển hóa và việc hoàn thiện mô hình pháp
điển hóa ở Việt Nam hiện nay còn nhiều lúng túng; các qui định của pháp luật về
vấn đề này đã có nhưng còn nhiều bất cập, lỗ hổng pháp lý và chưa mang tính dự
báo. Việc xây dựng và thực hiện các yếu tố của mô hình pháp điển hóa ở Việt Nam
còn nhiều vướng mắc, hiệu quả chưa cao. Thực tế Việt Nam hiện nay, cần có
những quan điểm và phương hướng phù hợp để xây dựng, hoàn thiện mô hình
25