A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện nền kinh tế của nước ta ngày càng hội nhập và phát triển
như hiện nay thì trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu
quả và được sử dụng khá phổ biến. Thỏa thuận trọng tài là một yếu tố cơ bản,
xuyên suốt trong hoạt động trọng tài. Do đó, để có được một khung pháp lý phù
hợp về trọng tài thương mại thì việc xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp
lý về trọng tài thương mại là một nhu cầu bức thiết và được đặt lên hàng đầu. 1
Để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài:
“Bình luận quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng
tài thương mại” cho bài tập lớn của mình.
Với sự hiểu biết còn hạn chế, bài viết chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu
sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để bài viết có thể hoàn
thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái quát về trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài.
1. Khái quát chung về trọng tài thương mại.
Khoản 1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “Trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và
được tiến hành theo quy định của Luật này”. Phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài được lựa chọn sử dụng ngày càng nhiều. Khi nghiên cứu khái
niệm trọng tài ta thường xem xét dưới hai góc độ chủ yếu: là cơ quan giải quyết
tranh chấp (tổ chức trọng tài) và một hình thức giải quyết tranh chấp (hình thức
trọng tài).
Trọng tài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, được lập ra một cách tự
nguyện bởi các trọng tài viên để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt
động kinh doanh theo yêu cầu của các bên tranh chấp.
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại, được tiến hành bởi các trung tâm trọng tài và các trọng tài
viên với tư cách là chủ thể thứ ba độc lập, thông qua các trình tự, thủ tục nhất
1
liên quan.
Thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới hình thức văn bản. Trong các
trường hợp, thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
2
Trần Thanh Huyền, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thỏa thuận trọng tài theo Luật trọng tài thương mại
2010”, Hà Nội, 2012.
2
Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một chứng cứ xác định
ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp
xảy ra. Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ
thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong
tương lai. Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh
chấp ra giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Nội dung của thỏa thuận trọng tài: pháp luật có quy định một số điều
khoản mang tính cơ bản trong thỏa thuận trọng tài như phạm vi tranh chấp được
giải quyết bằng trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng, địa
điểm trọng tài, chi phí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng tài. Ngoài ra
các bên có thể thỏa thuận lựa chọn thêm các điều khoản khác nhằm tạo điều kiện
cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất.
Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực độc lập với hợp đồng, trong cả trường
hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng. Dù thỏa thuận trọng
tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay
dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài
thực chất là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp
đồng chính. Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy bỏ, bị hết hiệu lực
giải quyết tranh chấp của trọng tài khi: có khiếu nại liên quan đến thỏa thuận
trọng tài vô hiệu, yêu cầu các bên áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định
trọng tài viên (trọng tài vụ việc), triệu tập người làm chứng, yêu cầu cơ quan tổ
chức thu thập chứng cứ và khi có căn cứ pháp luật đề nghị Tòa án hủy phán
quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
Thỏa thuận trọng tài trao cho các trọng tài viên thẩm quyền giải quyết
tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên. Đồng thời với việc loại trừ thẩm quyền
của tòa án quốc gia, thỏa thuận trọng tài trao cho các trọng tài viên thẩm quyền
giải quyết tranh chấp và đây chính là cơ sở pháp lý cho các trọng tài viên thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình.4
II. Thỏa thuận trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành.
1. Hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng
tài.
Tại Việt Nam hiện nay, cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động của trọng tài
thương mại được tạo thành bởi quy định trong các văn bản sau đây:
4
Trần Thanh Huyền, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thỏa thuận trọng tài theo Luật trọng tài thương mại
2010”, Hà Nội, 2012.
4
Công ước New York 1958 về Công nhận và Thi hành các Quyết định của
Trọng tài nước ngoài mà Việt Nam là thành viên, nội dung cơ bản của công ước
đã được luật hóa tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2004;
Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Bộ luật Dân sự 2015;
Luật Trọng tài thương mại 2010;
phải được thể hiện dưới dạng bằng văn bản. Quy định này đã trở thành một tập
quán quốc tế chung bởi chỉ có thể được xác lập bằng văn bản mới tạo ra sự tin
tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi
phát sinh tranh chấp.
d) Điều kiện về thẩm quyền của trọng tài.
Không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài,
ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự thỏa thuận. Đó là
khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết tranh chấp đó
thông qua hình thức trọng tài. Trong thương mại quốc tế, Việt Nam đã tuyên bố
bảo lưu đối với Công ước New York 1958 tại Quyết định số 453 QĐ/CTN của
Chủ tịch nước ngày 17/7/1995, không cho phép thỏa thuận trọng tài đối với tất
cả các vấn đề liên quan đến trật tự công cộng.
e) Nội dung của thỏa thuận trọng tài không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội.5
2.2. Hình thức của thỏa thuận trọng tài.
Hình thức của thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống
nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương mại. Phù hợp với thông lệ trọng
tài thương mại thế giới, LTTTM quy định thỏa thuận trọng tài có thể được xác
lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa
thuận riêng (Khoản 1 Điều 16). Thỏa thuận trọng tài dù là một điều khoản của
hợp đồng hay một văn bản riêng biệt đều giống nhau về bản chất và đều có giá
trị pháp lý như nhau.
Khoản 2 Điều 16 LTTTM 2010 đã khắc phục được sự không rõ ràng về
các dạng tồn tại của thỏa thuận trọng tài quy định trong Pháp lệnh trọng tài
thương mại 2003. Bởi, Khoản 1 Điều 9 PLTTTM 2003 quy định: “Thỏa thuận
trọng tài phải được lập thành văn bản. Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, thư
5
Trần Thanh Huyền, “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thỏa thuận trọng tài theo Luật trọng tài thương mại
2010”, Hà Nội, 2012.
với hợp đồng chính. Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy bỏ, bị hết
hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị.
6
Mỵ Thị Phương, “Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”, Hà Nội, 2012.
7
2.4. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trường hợp các bên thỏa thuận về việc giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng thỏa thuận đó không được công nhận hiệu
lực. PLTTTM 2003 đã liệt kê các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị coi là vô
hiệu, tuy nhiên một số quy định không hợp lý và mâu thuẫn với các quy định
khác của Pháp lệnh này cũng như thông lệ của pháp luật quốc tế: “Thỏa thuận
trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức
trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên có thỏa
thuận bổ sung”.
LTTTM 2010 đã khắc phục hạn chế trên của PLTTTM. Điều 18 LTTTM
2010 có quy định cụ thể về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu như sau:
a) Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của
Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
Pháp luật luôn tôn trọng sự tự do thỏa thuận giữa các bên về việc đưa
tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên dù giữa các bên có tồn tại thỏa
thuận trọng tài xuất phát từ sự tự do thỏa thuận nhưng tranh chấp giữa họ phát
sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài thì thỏa thuận
trọng tài cũng vô hiệu và dẫn đến hậu quả là trọng tài không có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp. Theo Điều 2 của Luật, phạm vi thẩm quyền của trọng tài được
mở rộng, không chỉ bao gồm tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hiểu
đình,...do đặc trưng việc tham gia quan hệ pháp luật của các chủ thể này phải
thông qua người đại diện hợp pháp nên khi xem xét năng lực hành vi dân sự của
các chủ thể này phải căn cứ vào năng lực hành vi dân sự của người đại diện hợp
pháp. Nếu người đại diện không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì thỏa
thuận trọng tài sẽ bị vô hiệu.
d) Hình thức của thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại
Điều 16 của Luật này.
Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định thỏa thuận
trọng tài phải được thể hiện bằng văn bản, nghĩa là thỏa thuận trọng tài có giá trị
chứng cứ xác định ý chí của các bên khi muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài. Các hình thức khác của thỏa thuận trọng tài như lời nói hay hành vi đều dẫn
tới hận quả pháp lý là thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
9
e) Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập
thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là
vô hiệu.
Thỏa thuận trọng tài là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các bên dựa
trên nguyên tắc tự do, bình đẳng. Sự thống nhất ý chí ấy không thể bị ràng buộc,
tác động hay áp đặt bởi pháp luật hay bất kỳ một cá nhân, cơ quan hay tổ chức
nào. Chính vì thế sự lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép giữa các bên tham gia ký kết
thỏa thuận trọng tài là những hành động đi ngược lại với nguyên tắc tự do thỏa
thuận và hệ quả tất yếu dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
f) Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Khoản 6 Điều 18 LTTTM và Khoản 6 Điều 3 NQ 01/2014/ NQ – HĐTP
quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi “vi phạm điều cấm của pháp luật”.
Theo đó, thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 128 BLDS được coi là
thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.7
được.
2.6. Thỏa thuận trọng tài được kí giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và
người tiêu dùng.
Lần đầu tiên, LTTTM 2010 ghi nhận quyền lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp của người tiêu dùng tại Điều 17 như sau: “Đối với các tranh
chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, mặc dù điều
khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng
hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn thỏa thuận trọng tài thì người tiêu dùng
vẫn được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà
cung cấp hàng hóa, dịch vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được
người tiêu dùng chấp thuận”. Theo đó, đối với các tranh chấp giữa doanh
nghiệp và người tiêu dùng thì điều khoản trọng tài đã được ghi nhận trong các
điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn, thỏa
thuận trọng tài chỉ có hiệu lực với điều kiện nhà cung cấp phải thông báo trước
và được người tiêu dùng chấp thuận bằng một văn bản riêng.
8
Trần Quỳnh Anh, “Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện Luật trọng tài thương mại”, Tạp chí Luật học số
7/ 2012.
11
Quy định này dựa trên một thực tế thông thường là người tiêu dùng bị đặt ở
một vị thế có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản
trong hợp đồng in sẵn của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, nên cần thiết
cần có những quy định để bảo vệ người tiêu dùng trong các tình huống cần
thiết. Đây là một quy định mang tính tiến bộ của LTTTM 2010. 9
3. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa
án và trọng tài. Điều khoản này đặt ra câu hỏi về bản chất của cơ chế giải quyết
tranh chấp do các bên lựa chọn. Điều khoản quy định nhờ đến một hội đồng
trọng tài haymột tòa án quốc gia? Hay điều khoản đơn thuần chỉ quy định nhờ
đến hòa giải trước khi có sự can thiệp của một tòa án có thẩm quyền? Để tạo
điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp cũng như trọng tài thương mại và tòa
án khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, pháp luật Việt
Nam cũng nên bổ sung quy định làm rõ nội dung cơ bản phải có trong thỏa
thuận trọng tài.
III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận trọng tài.
1. Các quy định pháp luật cần sửa đổi, bổ sung.
Những quy định của LTTTM khá tương đồng với hệ thống các văn bản
pháp luật trong nước và phù hợp với pháp luật trọng tài quốc tế nhưng để văn
bản luật này được áp dụng thuận lợi hơn thì Chính phủ cần ban hành một số văn
bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để hướng dẫn cụ thể hơn một số vấn
đề về thỏa thuận trọng tài mà Luật chưa đề cập rõ:
Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, Luật cần có văn bản hướng dẫn thi
hành Điều 2 LTTTM để có cách hiểu rõ ràng và chi tiết hơn về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp của trọng tài.
Thứ hai, pháp luật cần có quy định về nội dung chủ yếu của thỏa thuận
trọng tài nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các bên tranh chấp cũng như trọng tài và
tòa án khi xác định thông tin được đưa ra có phải là thỏa thuận trọng tài hay
không?
Thứ ba, hiện nay hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới đều quy
định rõ các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài quan hệ hợp
đồng đều được giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, theo định nghĩa về thỏa
thuận trọng tài mà LTTTM 2010 đưa ra thì vẫn chưa quy định rõ ràng các tranh
chấp phát sinh từ quan hệ thuộc phạm vi giải quyết tranh chấp của Trọng tài
thương mại là quan hệ hợp đồng hay quan hệ ngoài hợp đồng. Thiết nghĩ cần
phải có quy định rõ ràng về vấn đề này để tránh khó khăn khi áp dụng.
Luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp: khi thực hiện hợp đồng các bên
cần phải biết luật nào áp dụng cho hợp đồng và luật nào áp dụng cho tố tụng
trọng tài. Nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này thì Hội đồng trọng tài
14
sẽ quyết định áp dụng luật phù hợp nhất với quan hệ hợp đồng. Điều này cũng
đã được ghi nhận tại Điều 14 LTTTM 2010. Tuy nhiên, khi soạn thảo điều khoản
trọng tài các bên cần quyết định trước luật áp dụng cho hợp đồng để giúp chủ
động hơn trong việc thực hiện hợp đồng.
Về ngôn ngữ trọng tài, để có được một thỏa thuận trọng tài ngắn gọn,
chính xác và đầy đủ thì tốt nhất các bên nên theo thông lệ chung khi lựa chọn
ngôn ngữ trọng tài, ngôn ngữ dùng trong xét xử trọng tài là ngôn ngữ thường
được các bên sử dụng để giao tiếp, liên lạc với nhau và là ngôn ngữ được dùng
trong quá trình đàm phán và soạn thảo hợp đồng.10
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Qua những vấn đề đã phân tích trên đây, có thể khẳng định vị trí vai trò
quan trọng của thỏa thuận trọng tài đói với phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài. Thỏa thuận trọng tài đóng vai trò là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt và là
“hòn đá tảng” đặt nền móng cho sự tồn tại và hoạt động của trọng tài.
11
Tuy
LTTTM 2010 ra đời đã mang đến nhiều quy định mới, tiến bộ để điều chỉnh về
trọng tài thương mại nhưng để đảm bảo khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt
động giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại tại Việt Nam, những quy
định của LTTTM vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.