TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ các tập đoàn KINH tế NHÀ nước ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 47

1

TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thực hiện thí điểm hoạt động các tập đoàn kinh tế trong thời gian qua chính
là đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng vào cuộc sống. Tiếp
tục nghiên cứu và hoàn thiện mô hình này là đòi hỏi khách quan để xây dựng
những tập đoàn kinh tế mạnh ở Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu
vực và quốc tế, thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1. Chủ trương phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Việc mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đặt ra yêu cầu cần phải
tổ chức sắp xếp các doanh nghiệp nhỏ, manh mún thành những doanh nghiệp
lớn để đủ khả năng cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, tăng cường vị trí
của doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Cạnh tranh dẫn đến tích tụ và tập trung vốn, vì vậy tất yếu sẽ
hình thành doanh nghiệp lớn, tức các tập đoàn kinh tế. Các tập đoàn này hoạt
động có hiệu quả sẽ làm nòng cốt trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX) đã xác định: Hình thành
một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham
gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh
doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế
quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài nước, có
trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại, đào tạo, nghiên cứu triển khai với
sản xuất kinh doanh. Thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực
có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh
tế quốc tế có hiệu quả như: dầu khí, viễn thông, điện lực, xây dựng…
Triển khai thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng thí
điểm mô hình tập đoàn kinh tế từ đầu năm 2005 nhằm thực hiện các mục tiêu:
(1) Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có
quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, phát triển, nâng cao khả năng

nước chứ không phải với các gia đình riêng biệt như ở Hàn Quốc.
Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, tập đoàn kinh tế là nhóm
các công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức


3

quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế. Đến nay, Chính phủ đã thành lập 12
tập đoàn kinh tế nhà nước theo hai mô hình, đó là:
- Tổ chức lại các tổng công ty nhà nước (các tổng công ty 90 và 91): gồm
10 tập đoàn: Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Công
nghiệp Cao su Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, Tập đoàn
Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt
Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Bảo
Việt, Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.
- Tổ hợp các doanh nghiệp độc lập có cùng lĩnh vực hoạt động: gồm 2 tập
đoàn là Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ
hợp các doanh nghiệp độc lập hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng và cơ
khí chế tạo, bao gồm: Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Sông Hồng, Tổng
công ty Cơ khí Xây dựng, Tổng công ty Đầu tư phát triển xây dựng, Tổng công
ty Lắp máy Việt Nam và Tổng công ty Xây dựng và Phát triển hạ tầng. Tập
đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ hợp từ:
Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng, Tổng
công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng, Tổng
công ty Đầu tư xây dựng cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam.
* Đặc trưng của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam:
Một là, được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các
tổng công ty nhà nước theo quyết định của Chính phủ.
Hai là, hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn

quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ
khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.
Sáu là, quan hệ giữa tập đoàn với bộ, ngành và Chính phủ: Nhà nước là
chủ sở hữu của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam. Chính phủ thống nhất thực
hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ và đối với phần vốn nhà
nước tại tập đoàn kinh tế nhà nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
công ty mẹ, quyết định tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ theo
đề nghị của bộ quản lý ngành và ý kiến của các bộ, ngành có liên quan; Thủ
tướng Chính phủ giao bộ quản lý ngành, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc


5

Chính phủ và hội đồng quản trị tập đoàn thực hiện một số quyền của chủ sở hữu
theo pháp luật hiện hành, theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của từng tập đoàn.
Bảy là, quản lý, giám sát đối với tập đoàn kinh tế nhà nước được thực
hiện theo các phương thức: Thông qua chế độ báo cáo của hội đồng quản trị
công ty mẹ; thông qua thực hiện kiểm toán tại công ty mẹ và các đơn vị thành
viên; thông qua thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của công ty mẹ;
thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá của các cơ quan theo quy định
của pháp luật.
3. Vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Trong vòng 7 năm, kể từ ngày đề án thí điểm tập đoàn kinh tế nhà nước
đầu tiên được Thủ tướng phê duyệt, Việt Nam đã nhanh chóng xây dựng được
12 tập đoàn. Các tập đoàn này đang nắm lượng tài sản khổng lồ của quốc gia và
đóng vai trò nòng cốt trong việc thực hiện một số chính sách lớn về phát triển.
Do vậy, hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước có ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe của cả nền kinh tế nói chung. Vai trò tích cực của các tập đoàn
kinh tế thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh

4. Thành tựu đạt được trong những năm vừa qua.
Sau khi được hình thành và đi vào hoạt động, các tập đoàn kinh tế đã tích
cực đầu tư, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động; cơ cấu lại và đa dạng hóa sở
hữu các đơn vị thành viên; kinh doanh đa ngành, trong đó tập trung vào ngành
nghề chính; huy động được các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu trọng điểm,
các chiến lược phát triển quan trọng; tích cực nghiên cứu, triển khai ứng dụng
và chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh, chú trọng nâng cao
năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật, tay nghề của
đội ngũ công nhân kỹ thuật và người lao động trong các doanh nghiệp, tạo điều
kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu xây dựng thành tập đoàn kinh tế mạnh, có
tầm cỡ trong khu vực, làm nòng cốt để Việt Nam chủ động và thực hiện có hiệu
quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhìn vào Danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500), có
thể thấy các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đang chiếm những vị trí
dẫn đầu, chứng tỏ đó là những tổ chức kinh tế thực sự lớn về quy mô. Năm


7

2006, tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước
sở hữu gần 400.000 tỉ đồng, chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại các doanh
nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố
định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn
vay nước ngoài và tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước. Bước sang
năm 2009, trong bảng xếp hạng VNR500, có 100% số các tập đoàn kinh tế cùng
với 60% số các tổng công ty hiện tại đã góp mặt, với tỷ trọng về doanh thu
chiếm tới 41.85%. Năm 2011, trong tốp 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt nam, các
tập đoàn, các tổng công ty nhà nước chiếm 41,6% doanh thu với sự góp mặt của
những cái tên như: Tập đoàn Dầu khí VN đứng đầu tiên trong bảng xếp hạng,
VNPT xếp thứ 3, Tập đoàn Viễn thông Quân đội xếp ở vị trí thứ 7, Tập đoàn

tập đoàn như dệt may, trồng và khai thác chế biến cao su, đầu tư bất động sản.
Vì những ngành nghề kinh doanh này đã có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân
đang kinh doanh khá hiệu quả đồng thời cũng không phải là những ngành có vai
trò then chốt.
- Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của các tập
đoàn kinh tế chưa được hoàn thiện, chưa tách bạch rõ chức năng quản lý hành
chính nhà nước với chức năng của chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn
kinh tế; cơ chế quản lý tập đoàn còn nhiều bất cập.
Các tập đoàn kinh tế nhà nước về bản chất thuộc sở hữu toàn dân. Chính
phủ là người đại diện thực hiện quyền sở hữu toàn dân đó nhưng không trực tiếp
thực hiện quyền của chủ sở hữu mà cử ra hội đồng quản trị làm đại diện. Tuy
nhiên, hiện không có quy định nào thể hiện sự giám sát tập thể của chủ sở hữu
nhà nước đối với đại diện chủ sở hữu trong quá trình hoạt động của tập đoàn.
Nhân dân chỉ có thể giám sát kết quả hoạt động nếu kết quả ấy được báo cáo
công khai theo một quy định chặt chẽ. Trong khi hội đồng quản trị - người đại
diện chủ sở hữu nhà nước, chỉ lập báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo yêu cầu của
Thủ tướng, nhưng cũng có rất nhiều trường hợp các báo cáo này đã được “xử lý”.
Tiếp theo là thành phần hội đồng quản trị. Hiện thành phần này phần lớn
là cán bộ quản lý doanh nghiệp có lợi ích gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp
và thường là những lợi ích ngắn hạn sẽ chi phối quyết định của họ. Việc này sẽ


9

có ảnh hưởng lớn đến khả năng thực hiện những mục tiêu chiến lược dài hạn và
trong nhiều trường hợp là xung đột với lợi ích của chủ sở hữu. Trong thành
phần hội đồng quản trị của những tập đoàn quan trọng có một số thành viên từ
các bộ ngành. Sự tham gia của các thành viên này cũng dẫn đến hai hệ lụy: Một
là xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và lợi ích của chính doanh nghiệp; hai là
thiên vị doanh nghiệp, làm méo mó chính sách quản lý.

tỉ đồng. Tập đoàn Sông Đà thiếu vốn do chưa được chủ đầu tư thanh toán công
nợ lên đến trên 5.500 tỉ đồng.
Báo cáo cũng cho biết, xét về hiệu quả kinh doanh, ngoài những doanh
nghiệp nêu trên dự kiến lỗ, thì tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của hầu hết
các đơn vị thuộc lĩnh vực sản xuất, thương mại dịch vụ, xây dựng đều giảm sút
so với năm 2010. Một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực vận tải, xây dựng, xi
măng, sắt thép có tỷ lệ lợi thuận trên vốn chủ sở hữu đạt thấp, khoảng dưới 5%.
- Việc thực hiện huy động vốn, nguồn lực của các thành phần kinh tế khác
vào sản xuất, kinh doanh thông qua cổ phần hóa, tiếp nhận doanh nghiệp thành
viên, cùng các thành phần kinh tế khác thành lập các công ty cổ phần mới tạo ra
cơ cấu đa sở hữu ở một số tập đoàn triển khai còn chậm; dẫn tới hạn chế về thu
hút thêm vốn, kinh nghiệm quản lý, điều hành và sự giám sát của xã hội đối với
hoạt động của tập đoàn kinh tế.
- Một số tập đoàn chưa phát huy được vai trò chi phối trong lĩnh vực hoạt
động, tỷ lệ nợ trên vốn còn quá cao, dẫn đến độ rủi ro lớn, khả năng thanh toán
nợ thấp. Việc xử lý các tồn tại về tài chính còn chậm do nhiều nguyên nhân
nhưng chưa được khắc phục. Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96
tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm
2007 nhưng rất may là vẫn trong vòng có thể kiểm soát được. Tỷ lệ nợ vay trên
vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất cao. Theo báo cáo tháng
12/2011 vừa qua của Bộ Tài chính, có 30 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ nợ phải
trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó, có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ
này trên 10 lần, có 9 tổng công ty từ 5-10 lần, có 14 tổng công ty từ 3-5 lần, cá
biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn
chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì tỷ lệ này là
một qua ngại lớn cho nền kinh tế. Tính đến cuối năm 2010, tổng nợ phải trả của


11


12

6. Phương hướng, giải pháp củng cố và phát triển các tập đoàn kinh
tế nhà nước hiện nay.
* Phương hướng củng cố và phát triển
Đại hội XI khẳng định: “Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề
kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, tập trung vào
một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế”

(Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 208)

Thời gian tới cần tập trung vào một số định hướng như sau:
.- Trước hết, cần xác định lại mục tiêu thành lập tập đoàn và các quy định
về đầu tư. Trong thời gian tới, các tập đoàn kinh tế nhà nước cần tập trung vào
mục tiêu thứ nhất. Như vậy, những ngành nghề mà khu vực tư nhân đã phát
triển mạnh, Nhà nước không cần chiếm cổ phần chi phối, thậm chí là không cần
tham gia nữa. Đồng thời, cũng nên đặt các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào
môi trường cạnh tranh quốc tế, kiểm soát chặt chẽ độc quyền tự nhiên.
- Sớm hoàn thiện và kịp thời có những hướng dẫn cụ thể các căn cứ pháp
lý bảo đảm cho hoạt động của các tập đoàn kinh tế, có các chính sách linh hoạt
phù hợp với từng thời kỳ để tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế nhà nước
hoạt động bình đẳng trong sân chơi cạnh tranh.
- Phải tăng cường cơ chế và tổ chức quản lý các tập đoàn, chẳng hạn như
tăng số lượng thành viên độc lập trong hội đồng quản trị; thiết lập cơ chế đánh
giá tập thể của Chính phủ về hoạt động của hội đồng quản trị của các tập đoàn;
quy định lại tỷ lệ nợ trên vốn sở hữu; xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả
cho từng tập đoàn kinh tế theo mục tiêu dài hạn, nhằm phục vụ cho chính sách

nhanh chóng, không để lỡ những cơ hội sản xuất, kinh doanh; thường xuyên sửa
đổi, bổ sung Điều lệ tổ chức và hoạt động, Quy chế tài chính của tập đoàn cho
phù hợp với thực tiễn hoạt động của tập đoàn theo từng giai đoạn, từng thời kỳ.
- Đẩy mạnh tập trung và tích tụ vốn, khuyến khích các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư đan xen (trên cơ sở bảo đảm kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo ở những lĩnh vực, ngành nghề then chốt) thông qua
việc đẩy mạnh cổ phần hóa, cơ cấu lại nguồn vốn, tiếp nhận doanh nghiệp thành
viên, cùng các thành phần kinh tế khác thành lập các công ty mới… để tạo cơ


14

cấu đa sở hữu nhằm phát huy thế mạnh và tăng cường khả năng cạnh tranh của
các tập đoàn kinh tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng. Đồng thời với đó là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn
đầu tư của các tập đoàn, kiên quyết dừng hoặc cắt giấy phép đầu tư đối với
những dự án lớn chưa thật sự cần thiết, không hiệu quả.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý DN, kiên quyết loại
bỏ những cán bổ, Đảng viên, người lao động không đủ khả năng trình độ
chuyên môn ra khỏi các tập đoàn. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa người quản lý
và người lao động, luôn tôn trọng và khuyến khích tính tự chủ sáng tạo của lực
lượng lao động tạo ra sức mạnh tổng hợp phát huy hiệu quả của các yếu tố sản
xuất, đặc biệt là yếu tố con người. Cần tăng cường chuyên môn hoá, kết hợp đa
dạng hoá cùng với những phương án quy mô hợp lý cho phép khai thác tối đa
lợi thế quy mô giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Tổ
chức, phối hợp với các hoạt động kinh tế thông qua các hình thức tổ chức liên
doanh, liên kết nhằm phát huy sức mạnh chung, tăng khả năng cạnh tranh và
tiêu thụ trên thị trường.
- Vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vận dụng vào sản xuất
để giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh, sản lượng và khả năng

IX, XI, Nxb CTQG, H.2001 và 2011




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status