1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sùi mào gà tên khoa học là Condyloma acuminata hoặc Genital Wart là
một trong những bệnh phổ biến nhất trong các bệnh lây truyền qua đường tình
dục (Sexually Transmitted Disease - STDs). Biểu hiện là các thương tổn sùi
thường khu trú ở vùng sinh dục do tăng sinh các tế bào sừng trên da, niêm mạc.
Sùi mào gà (viết tắt là SMG) được xem là một trong những bệnh gây ảnh hưởng
nhiều nhất đến chất lượng đời sống tình dục, và ảnh hưởng nhiều đến tâm lý
người bệnh [1], [8].
Nguyên nhân gây SMG là do Human Papilloma Virus, viết tắt là HPV
gây nên. Hiện nay có khoảng hơn 100 típ HPV được phát hiện về cấu trúc,
trong đó khoảng 90 % gây bệnh sùi mào gà là típ 6, 11 [2].
Tại Mỹ, khoảng 500.000 đến 1 triệu trường hợp mắc SMG mới được
chẩn đoán mỗi năm và khoảng 1% dân số trong độ tuổi quan hệ tình dục có
triệu chứng lâm sàng rõ ràng. Khoảng 57% người ở độ tuổi hoạt động tình dục
nhiễm ít nhất 1 lần HPV. Trong năm 2010, có khoảng 6 triệu ca mắc HPV sinh
dục mới [1]. Ở Việt Nam, thống kê của Bệnh viện Da liễu Trung ương, bệnh
SMG chiếm khoảng 22% các bệnh do HPV gây nên. Tại khoa Laser phẫu thuật
Bệnh viện Da liễu Trung ương trong hai năm 2011, 2012 có 1074 và 1699 lượt
bệnh nhân đến khám và điều trị SMG [3].
Bệnh sùi mào gà hiện nay chưa có một phương thức điều trị đặc hiệu.
Các phương pháp điều trị thông thường như áp lạnh, laser, đốt điện… nhằm bốc
bay tổ chức hay chấm các dung dịch acid tricloraxetic, podophyllin.. gây độc tế
bào có thể làm mất nhanh thương tổn, nhưng thường dễ tái phát, gây tâm lý lo
lắng và mệt mỏi cho bệnh nhân [1], [35].
2
* Virus Papilloma ở người là một loại siêu vi trùng dạng DNA.
* Lịch sử phát hiện HPV
Hạt cơm thường ở da được biết từ thời Hy Lạp và Roma cổ đại. Đến đầu
thế kỉ 20 SMG vẫn cho là một dạng của bệnh giang mai hay bệnh lậu [5].
Năm 1907, Ciuffo lấy phần lọc của tổn thương hạt cơm tiêm lên da để
chứng minh bản chất của virus và đã xuất hiện u nhú ở vị trí tiêm [6].
Năm 1949, bằng kính hiển vi điện tử, quan sát được một phần của virus
[7].
Năm 1966, Crawford đã giải mã được cấu trúc bộ gen HPV [7].
Năm 1972, tại Ba Lan, Stefania Jablonska đề cập mối liên quan giữa HPV
với ung thư da trong bệnh loạn sản thượng bì dạng hạt cơm[7].
Năm 1976, xác định được bốn típ HPV đầu tiên là căn nguyên gây ra hạt
cơm (bàn chân: HPV 1, 2; phẳng: HPV 3, mụn cóc: HPV 4) [6].
Năm 1978, Jablonska và Gerard Orth phát hiện HPV tuýp 5 trong bệnh EV
[8]. Năm 1980 sùi mào gà được các nhà khoa học chứng minh là do HPV 6 [5].
Năm 1983 và 1984, Harald zur Hausen và cộng sự đã chứng minh sự hiện
diện của HPV 16, 18 trong ung thư cổ tử cung [9], [10].
4
Năm 1999, kết quả xét nghiệm PCR cho thấy sự hiện diện DNA của HPV
trong 99,7% mẫu ung thư cổ tử cung được nghiên cứu [11].
1.2. Cấu trúc của HPV và quá trình lây nhiễm
Virus sinh u nhú ở người – HPV (Human Papilloma virus)
Human Papillomavirus (HPV) là loài virus sinh u chứa vật liệu di truyền
DNA, có ái tính mạnh với tế bào biểu mô, đặc biệt là biểu mô gai lát tầng ở da
và niêm mạc.
Bất hoạt gen Rb
E1-5
Liên quan nhân đôi virus
Lớp vỏ protein gồm 2 loại: L và E. Loại L (Late-protein) có L1 và L2 có
tác dụng bảo vệ gen và luôn được duy trì ổn định, đồng thời tạo nên các phản
ứng tương tác đầu tiên của virus lên tế bào vật chủ.
Loại E (Early-protein) có từ E1 đến E7 trong đó E1 và E2 chịu trách nhiệm
nhân đôi của DNA để tạo ra các virus mới trong tế bào bị nhiễm, đồng thời tác
động lên tế bào vật chủ đáp ứng các nhu cầu nhân lên của virus [12],[13].
* Sự lây truyền
Papillomaviruses có ái tính mạnh với biểu mô và lây nhiễm chọn lọc sang
các tế bào biểu mô của da và niêm mạc. Các virus này không gây ra tình trạng
nhiễm virus hệ thống, không phá hủy các tế bào biểu mô.
Đối với sự nhiễm trùng liên tục, các hạt virus phải xâm nhập vào lớp
biểu mô sâu qua các vết xước hoặc các vi tổn thương và lây qua lớp tế bào đáy
có khả năng phân chia tế bào (tế bào mầm hay tế bào khuếch đại thoáng qua)
[14, 15]. Ở đây virus gắn intergrin α6β4 tại đáy của tế bào đáy (cơ chế chưa rõ)
và chuỗi DNA của virus đi vào tế bào vật chủ. Quá trình nhiễm diễn ra chậm,
mất khoảng 12-24h cho lần nhân bản đầu tiên. Người ta cho rằng có những
kháng thể đóng vai trò chính trong việc vô hiệu hóa virus nhưng các virion vẫn
tồn tại ở lớp màng đáy và bề mặt tế bào. Heparan sulfate và
glycosaminoglycans trên bề mặt của tế bào sừng đóng vai trò quan trọng trong
việc tiếp cận tế bào virus ban đầu. Sau khi gắn với thụ thể và phân giải protein
furin phụ thuộc vào L2, HPV thường được tiếp nhận thông qua các clathrin phụ
thuộc nội bào. Sau quá trình tháo rời lớp vỏ trong các túi nội mô, DNA virus
7
con. Nếu nghi ngờ có sự lạm dụng tình dục, trẻ cần được thăm khám bởi bác sĩ
nhi khoa và tâm lý học [15, 17].
*Chu kì sống của HPV: liên quan chặt chẽ đến tế bào bào chủ
(1) Giai đoạn xâm nhập: Thông qua receptor intergrin, virus xâm nhập vào đáy
tế bào đáy, tồn tại với số lượng ít và dưới dạng episomal.
(2) Giai đoạn tiềm tàng: DNA virus có thể tồn tại với số lượng ít, rất lâu. Có thể
không sao chép hoặc tạo hạt virus.
(3) Giai đoạn nhân bản mạnh: DNA được nhân lên trong các tế bào chủ. Các
gen E6, E7, L1 thúc đẩy quá trình nhân lên bằng tăng tổng hợp DNA của tế
bào vật chủ và ngăn hiện tượng apoptosis.
(4) Giai đoạn giải phóng: Ở các tế bào lớp sừng ngoài cùng, gen L1, L2 hình
thành vỏ capsid cho DNA của virus, giải phóng lên bề mặt lớp tế bào sừng.
Bảng 1.1: Các típ HPV gây bệnh trên cảnh lâm sàng
Tuýp Virut
Thương tổn thường gặp
Thương tổn ít gặp
Hạt cơm lòng bàn tay, bàn chân
Hạt cơm thường
2, 4, 27, 29
Hạt cơm thường
13, 32
Hạt cơm của Butcher
Quá sản thượng bì trong miệng
16, 18, 31, 33,
Sẩn dạng Bowen, sùi mào gà cổ
35, 39, 40, 51, 60 tử cung
Hạt cơm hậu môn sinh
dục
8
* Sự đào thải HPV
HPV có thể sẽ tồn tại trong tế bào của người bị nhiễm trong một khoảng
thời gian nhất định, hầu hết ở trạng thái tiềm tàng, nhưng cũng có thể gây ra
triệu chứng hoặc bệnh. 70% nhiễm HPV sẽ hết sau 1 năm, 90% sau 2 năm và
hầu hết các trường hợp sẽ lành tự nhiên, những nghiên cứu lịch sử tự nhiên của
HPV cũng cho thấy rằng 90% phụ nữ sẽ có HPV-DNA âm tính trong vòng 2
năm kể từ lần phát hiện HPV- DNA ban đầu [18]. Có khoảng 5-10% trong số
phụ nữ nhiễm HPV, mắc bệnh dai dẳng, sẽ dễ phát triển tiền ung thư cổ tử cung
và ung thư xâm lấn sau đó, 10 – 20 năm. Những nghiên cứu gần đây cho thấy
HPV có thể bị diệt sạch ở những người có hệ miễn dịch tốt [7].
Nhiều yếu tố như tuổi lớn, liệu pháp thay thế hormone, các nhiễm trùng
đồng thời ở đường sinh dục, tình trạng suy giảm đáp ứng miễn dịch hệ thống,
phụ nữ đã sinh con, sự khác nhau trong bộ gen của virus HPV cũng như sự
nhiễm nhiều típ HPV và các biến thể của HPV đã được báo cáo liên quan đến
sự tồn tại HPV dai dẳng, giảm khả năng đào thải HPV. Tuy nhiên, ở những
9
Sự đào thải virus này không tạo ra miễn dịch bền vững, nếu như có sự tái
nhiễm hay người bệnh tiếp xúc với nguồn lây liên tục thì người bệnh vẫn có khả
năng nhiễm virus với có/không lâm sàng [8].
* Phân loại
HPV được phân nhóm polyomaviruses và virus chứa không bào thuộc
giống khỉ trong họ Papovaviridae. Theo Ủy ban quốc tế về phân loại virus,
Papillomavirus được coi là một họ riêng biệt của Papillomaviridae [15], [7].
Hiện nay, có thể phân loại HPV theo 3 cách khác nhau:
- Phân loại theo sự tương đồng trình tự nucleotid gen E6, E7, L1:
Theo Tổ chức phân loại virus quốc tế, Human Papillomavirus thuộc họ
Papillomaviridae gây bệnh trên người và là một trong những virus có nhiều
genotype nhất. Có khoảng 200 genotype nhưng có khoảng 100 genotype được
biết về cấu trúc và có khoảng 40 genotype có khả năng lây truyền qua đường
tình dục. Việc xác định các genotype không dựa vào huyết thanh như các virus
khác mà dựa vào mức độ giống nhau của các thành phần nucleotid và mức độ
tương đồng giữa các acid amin trên chuỗi E6, E7, L1 do đó, các típ của HPV
hay được gọi là các genotype [22], [23].
Khi một genotype HPV có ít nhất 10% gen vùng E6, E7, L1 khác với các
genotype trước thì được xác định là một genotye mới. Một subtype trong
genotype được xác định là một phân nhóm mới khi bộ gen của chúng khác từ 210% so với phân nhóm khác trong genotype đã biết. Nếu các subtype có vùng
mã hóa khác nhau 1-2% hoặc khác 5% ở vùng không mã hóa thì được xem là
các biến thể [23].
Ngoài ra, có thể phân loại HPV theo khả năng gây bệnh và vị trí gây
bệnh [24].
- Phân loại theo khả năng tác động của HPV lên tế bào chủ (gây ung thư)
11
tình dục đầu tiên thường bắt đầu vào thời điểm giữa đến những năm cuối thiếu
niên, sự phơi nhiễm với HPV thường xảy ra ngay sau đó [25], [26].
Gần đây một số báo cáo cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV sinh dục nam giới và
nữ giới là tương đương trong cùng bối cảnh nghiên cứu [26]. Theo Luisa
Barzon và cộng sự (2010) tỉ lệ nhiễm HPV ở cả hai giới tham gia nghiên cứu là
40%, trong đó tỉ lệ nam 41,7% và đối với nữ là 38,7% [27]. Trong báo cáo
Carrie M. Nielson và cộng sự (2007) trên 463 nam từ 18-40 tuổi thấy tỉ lệ
nhiễm HPV là 65,4%, trong đó tỉ lệ HPV dương tính cao nhất thuộc về nam
giới dưới tuổi 25 (13,6%) và tỉ lệ thấp nhất ở từ 40 trở lên (6,0%) [28], [29].
Ngoài ra, cùng với sự ra đời của vắc-xin HPV, khuyến cáo việc tiêm
phòng trước khi bắt đầu hoạt động tình dục là rất quan trọng vì hầu hết các bệnh
nhiễm trùng xảy ra trong một thời gian ngắn sau lần đầu tiên đó [25].
Trên các nghiên cứu về tình hình nhiễm HPV cho thấy sự khác biệt từ 6
đến 8 lần tỉ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ trẻ so với nhóm nhiều tuổi hơn. Tỷ lệ này ở
nữ giới dưới 21 tuổi dao động từ 12% đến 56% so với ở phụ nữ trên 35 tuổi chỉ
2-7%. Nhiều nghiên cứu dịch tễ học khác nhau đã cho thấy những yếu tố nguy
cơ khiến cá nhân dễ dàng nhiễm HPV và tình trạng nhiễm trùng dai dẳng phụ
thuộc vào giới, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, hành vi tình dục, số lượng bạn
tình trong đời cũng như những bạn tình của họ, việc dùng thuốc uống tránh thai
và thói quen hút thuốc lá. Ngoài ra việc đồng nhiễm Chlamydia trachomatis và
Herpes simplex cũng là yếu tố nguy cơ tăng nhiễm HPV [10], [30], [11], [28],
[31], [19], [32].
Nghiên cứu của Hoy T và cộng sự (2004) thì mỗi năm nước Mỹ có
khoảng 340.000 ca đến khám và điều trị về sùi mào gà. Trung bình mỗi bệnh
nhân phải dành khoảng thời gian là 95,4 ngày (nam 116,3 ngày; nữ 69,7 ngày)
cho điều bệnh này, và mỗi bệnh nhân mất khoảng 1,5 - 1,9 lần khám ngoại trú,
với ít nhất 1 lần kê đơn cho mỗi đợt điều trị. Người ta cũng ước tính thấy chi
13
+ Thương tổn sẩn dạng mụn cơm: các sẩn nổi cao màu hồng hoặc màu
xám, bề mặt thô và có các khứa múi nhỏ.
+ Ngoài ra thương tổn có thể dạng chữ C ngược hoặc phẳng.
1.4.2 Thương tổn dưới lâm sàng:
Thương tổn không nhìn thấy hoặc chỉ một vùng thô mất bóng, nếu bôi
acid acetic 3-5% sau 5 phút sẽ thấy màu trắng xuất hiện.
1.4.3. Không có biểu hiện da:
Trên da/niêm mạc không có tổn thương nhưng có chứa virus: virus không
có biểu hiện lâm sàng nhưng vẫn tồn tại ở thượng bì.
Cơ năng: có thể ngứa, ít đau, gây cảm giác khó chịu. Có thể dễ gây chảy
máu khi thương tổn lan rộng trong khi quan hệ tình dục hay khi cọ xát.
Vị trí: thường gặp ở các mô ẩm ướt của vùng sinh dục.
Nam: miệng sáo, quy đầu, rãnh quy đầu, thân dương vật, da bìu.
Nữ: môi lớn, môi bé, âm vật, lỗ tiểu, âm đạo, cổ tử cung, đáy chậu tầng
sinh môn.
Nam + nữ: quanh hậu môn, hậu môn, miệng, họng.
Hình 1.3: Một số dạng biểu hiện lâm sàng [3].
14
1.5. Cận lâm sàng
Chẩn đoán sùi mào gà chủ yếu dựa vào lâm sàng. Trong một số trường hợp
có thể làm một số xét nghiệm bổ trợ.
+ Sinh thiết, nhuộm HE: có thể thấy một số điểm bất thường do nhiễm virus.
- Ung thư tế bào gai.
- Ung thư cổ tử cung.
- Nhiễm trùng, loét, chảy máu.
- Khi SMG kết hợp với nhiễm HIV tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho bạn
tình.
1.8 Điều trị
Virus HPV có thể ẩn nấp lâu ở lớp đáy của da và niêm mạc và có thể
không loại trừ bằng bất kỳ phương pháp điều trị nào. Việc sử dụng các kháng
sinh kháng virus dường như không có hiệu quả. Các phương pháp điều trị hiện
nay có sự khác nhau về lịch trình điều trị, thời gian điều trị, tác dụng phụ, chi
phí điều trị...và hiệu quả tổng thể. Hiện tại, có rất ít bằng chứng cho thấy một
phương pháp nào đó có hiệu quả trong việc diệt trừ lâu dài SMG cũng như việc
ngăn ngừa khả năng tái phát.
Sau đây là một số phương pháp điều trị nhằm đạt đến một số mục đích về
lâm sàng và xã hội như sau:
A. Các thuốc bôi hoặc tiêm có tính chất gây độc tế bào và kích thích tạo
miễn dịch
- Podophylotoxin dung dịch, gel 0,05%; 0,15% cream: Bản chất là
podophyllin tinh chế với nồng độ chuẩn. Thuốc có tính gây độc tế bào. Có tác
16
dụng hiệu quả và an toàn hơn podophyllin. Bôi thuốc 2 lần/ngày trong 3 ngày
liên tiếp, sau đó nghỉ 4 ngày. Quá trình điều trị có thể kéo dài khoảng 4 tuần tới
khi hết thương tổn. Nếu không đỡ nên đổi sang phương pháp khác [35].
- Sinecatechins 15% dạng mỡ: Chiết xuất từ thực vật (trà xanh), được
FDA phê duyệt sử dụng điều trị SMG vào năm 2006. Các thành phần thuốc có
chứa hoạt chất sinecatechins, được xem là chất chống oxy hóa, kháng virus và
các hiệu ứng chống khối u. Cơ chế tác dụng chưa rõ ràng nhưng được cho là
ứng viêm, đáp ứng miễn dịch sau đó là quá trình hoại tử tổ chức sùi. Ngoài ra,
sự đông kín các mạch máu, là nguồn nuôi các thương tổn được xem như cơ chế
chủ đạo.
Phương pháp này được thực hiện tại nhiều cơ sở y tế, do tính rẻ tiền và
hiệu quả cao. Có thể sử dụng bình xịt hoặc tăm bông. Khoảng 79 - 88 % thương
tổn được làm sạch sau 3 – 5 chu kì điều trị. Khoảng cách từ 1 -2 tuần thực hiện
một lần. Tuy nhiên kết quả điều trị tùy thuộc vào nhiều yếu tố, như nhiệt độ sử
dụng, thời gian tiếp xúc, .. Ngoài ra, các biến chứng trong quá trình điều trị
thường gặp như: phồng rộp, đau đớn, viêm loét, nhiễm trùng, sẹo vĩnh viễn hay
mất sắc tố... Ngoài ra việc thường xuyên cần tới kiểm tra khám lại cũng gây sự
khó chịu cho bệnh nhân… [38].
- Đốt điện: Sử dụng sóng cao tần trong các hình thức quang đông nhiệt
hoặc bốc bay tổ chức để đốt cháy và phá hủy thương tổn hạt cơm. Sau đó có thể
loại bỏ thương tổn bằng nạo hay chùi thương tổn. Kỹ thuật này được khuyến
cáo cho các tổn thương nằm sâu trong các vị trí như trực tràng, âm đạo…tuy
nhiên trong các thương tổn diện tích lớn nên hạn chế vì tăng nguy cơ gây sẹo
vĩnh viễn. Đây là một kỹ thuật hiệu quả cao, với khoảng 94% làm sạch thương
18
tổn sau 6 tuần điều trị. Tuy nhiên, có một tỷ lệ cao tái phát sau 3 tháng điều trị.
Ngoài ra, đây là một thủ thuật xâm lấn gây đau đớn, cần phải gây tê hay gây mê
dẫn đến những nguy cơ rủi ro cao hơn. Ngoài ra phương pháp này chống chỉ
định cho những người có bệnh lý tim mạch như đặt điện cực, rối loạn nhịp
tim... [1], [39].
- Phẫu thuật: Liên quan đến phương pháp điều trị loại bỏ thương tổn
bằng dao kéo, sau đó thì đóng da bằng chỉ khâu. Phương pháp này cho phép quá
trình lành vết thương diễn ra nhanh, và loại bỏ được nhanh và nhiều tổ chức sùi
mà ít gây nên sẹo co kéo sau điều trị. Ngoài ra các vị trí đặc biệt như miệng sáo,
4. Giảm nguy cơ tạo nên các biến chứng.
5. Phục hồi lại cấu trúc giải phẫu và chức năng.
Điều trị hiện nay chủ yếu tập trung vào loại bỏ mụn cóc bên ngoài hơn là
tấn công các tế bào nhiễm virus cơ bản và do đó đã chứng minh phần nào về
việc khó đạt kết quả lâu dài và bền vững. Rất ít bằng chứng cho thấy có một
tiêu chuẩn vàng trong điều trị bệnh lí này. Lựa chọn phương thức điều trị phù
hợp thường phụ thuộc vào nhu cầu và mong muốn của bệnh nhân. Do đó, cung
cấp thông tin cũng như đa dạng hóa phương thức điều trị, đưa ra các biện pháp
và lợi ích cũng như những hạn chế của từng phương pháp là mục tiêu cần
hướng đến.
1.9 Cơ chế của imiquimod trong đáp ứng miễn dịch và chống virus [40], [41]
Đáp ứng miễn dịch là một phương thức quan trọng giúp bảo vệ tính toàn
vẹn của cơ thể, thông qua việc loại bỏ các yếu tố lạ. Đáp ứng miễn dịch được
phân biệt hai dạng:
20
-Miễn dịch không đặc hiệu: miễn dịch bẩm sinh, đáp ứng miễn dịch tự
nhiên. Đây là các đáp ứng miễn dịch mang tính sẵn có, có tính di truyền và
không cần quá trình mẫn cảm.
- Đáp ứng miễn dịch đặc hiệu: bao gồm miễn dịch dịch thể và miễn dịch
tế bào là kết quả của quá trình mẫn cảm.
Từ khi phát hiện ra hệ thống Toll like receptor, và tìm hiểu vai trò của hệ
miễn dịch không đặc hiệu, chúng ta nhận thấy nó có các chức năng: nhận biết
các cấu thành của yếu tố gây bệnh, hoạt hóa hệ thống miễn dịch không đặc
hiệu, kết nối miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc hiệu.
1.9.1 Toll like Receptor [42]
Toll like Receptor (TLR) là một tập hợp gồm 11 protein đơn lẻ khác nhau
ở người. Đây là những protein xuyên màng type I, chúng được nhóm với nhau
kích thích các Toll-like Receptor, được đặt trên bề mặt hoặc trong các tế bào
trình diện kháng nguyên, để nhận biết và bảo vệ chống lại tác nhân gây bệnh
xâm nhập. Imiquimod liên kết với TLR-7, 8 (nằm trong thụ thể Endosome) gây
ra quá trình tổng hợp và vận hành một số cytokine viêm nội sinh từ các tế bào
Langerhans ở da, bạch cầu đơn nhân / đại thực bào và tế bào đuôi gai, dẫn đến
tương tác với phần tế bào chất của các thụ thể với cấu trúc MyD88 (protein đáp
ứng tế bào tủy biệt hóa sơ cấp 88 - myeloid differentiation primary response
protein 88). Con đường tín hiệu thông qua TLR có tính tương đồng cao với con
đường của họ IL-1 receptor. Cả TLR và IL-1 receptor đều tương tác với
MyD88 trong các domain của chúng. Sự liên kết của MyD88 với IL-1 thụ
thể liên quan đến kinase (Irak), với chuỗi từ 1-4 do đó diễn ra sự
phosphoryl hóa, sự hoạt hóa này kích hoạt thụ thể TNF-kích hoạt 6, dẫn đến
sự kích thích của tín hiệu NF-kB gây ra tổng hợp và vận hành một số
cytokine viêm nội sinh. Chúng bao gồm interferon-α (IFN-α), khối u yếu tố
hoại tử α (TNF-α) và interleukin (IL) 1, 6, 8, 10 và 12, lần lượt kích hoạt và
duy trì đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào chủ yếu qua trung gian
CD4 + và tế bào lympho T CD8.
Đặc biệt, imiquimod kích thích các tế bào giết tự nhiên của hệ thống
miễn dịch bẩm sinh và kích hoạt loại tế bào T helper 1 và gây độc tế bào
lympho T chịu trách nhiệm giết chết các tế bào bị nhiễm virus và khối u, cũng
như thiết lập bộ nhớ miễn dịch. Như vậy, rất quan trọng là việc gây ra một phản
ứng viêm khi sử dụng imiqimod sẽ thúc đẩy quá trình làm sạch thương tổn
SMG. Quá trình này có thể diễn ra sau vài giờ khi tiếp xúc với virus, tuy nhiên,
phản ứng của hệ miễn dịch bẩm sinh thường đến muộn hơn.
23
Ngoài ra, imiquimod trong điều trị các bệnh nhân SMG được chứng minh
là có làm giảm tải lượng virus bằng cách đo số lượng HPV DNA, giảm mARM
các phương pháp can thiệp mang lại.
25
Việc sử dụng imquimod để điều trị SMG được thực hiện tại nhiều quốc
gia, trong nhiều nghiên cứu khác nhau, và cho thấy hiệu quả tương đối khác
nhau. Theo nghiên cứu của Edwards và cộng sự, năm 1998 khi thử nghiệm bôi
imiquimod 5% cream cho thấy khoảng 56% sạch thương tổn. Trong đó nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ nữ đạt hiệu quả tốt hơn nam (77% so với 40%). Và thời gian
điều trị của nữ cũng ngắn hơn nam (8 tuần so với 12 tuần). Và tỷ lệ tái phát
cũng rất thấp [45].
Năm 2003, trong nghiên cứu của Senatori và cộng sự trên 57 bệnh nhân
nữ có thương tổn sùi mào gà ở sinh dục ngoài và quanh hậu môn, sau 16 tuần
bôi thuốc 3 lần/ 1tuần cho kết quả khả quan với 64% bệnh nhân đã hết hoàn
toàn của SMG trong vòng 16 tuần. Việc thuyên giảm lâm sàng trong thời gian
ngắn (6/8 tuần) ( χ² = 1.42; p