BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------------------
VÕ VĂN HIỀN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẾN
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------
VÕ VĂN HIỀN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐẾN
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRƯƠNG ĐĂNG THỤY
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
1.5. KẾT CẤU LUẬN VĂN .......................................................................................... 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ............................................................................... 5
2.1. LÝ THUYẾT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN .............. 5
2.1.1. Một số khái niệm ............................................................................................... 5
2.1.1.1. Nghề và đào tạo nghề ..................................................................................... 5
2.1.1.2. Lao động và lao động nông thôn .................................................................... 6
2.1.2. Đặc điểm của lao động nông thôn ..................................................................... 6
2.1.3. Ý nghĩa của đào tạo nghề .................................................................................. 7
2.2. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ........................................................................... 8
2.2.1. Lý thuyết về vốn con người............................................................................... 8
2.2.2.Mô hình quyết định đi học ................................................................................. 9
2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÀM .............................................. 11
2.3.1. Điều kiện tự nhiên của địa phương ................................................................. 11
2.3.2. Nhân tố thuộc về cơ chế chính sách ................................................................ 12
2.3.3. Nhân tố thuộc về đầu tư, nguồn lực tài chính ................................................. 13
2.3.4. Nhân tố thuộc về cung lao động ...................................................................... 14
2.4. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI................................................ 14
2.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước ............................................................................. 14
2.4.1.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc ........................................................................... 14
2.4.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc ......................................................................... 15
2.4.1.3. Kinh nghiệm Philipin.................................................................................... 15
2.4.1.4. Kinh nghiệm ở Malaysia .............................................................................. 16
2.4.2 Nghiên cứu trong nước ..................................................................................... 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.............................................................................................. 19
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................. 20
3.1. KHUNG PHÂN TÍCH ........................................................................................... 20
3.1. MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU ......................................................... 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
DANH MỤC VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
DIỄN GIẢI
LĐTB&XH
Lao động –Thương binh và Xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
QĐ-TTg
Quyết định Thủ tướng chính phủ
GDTX
Giáo dục thường xuyên
SL
Số lượng
Đào tạo nghề là một yêu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay,
nhất là trong quá trình hội nhập và định hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn. Đòi hỏi người lao động cần được trang bị kỹ năng nghề nghiệp nhất định, là
điều kiện cần thiết để “đánh thức” khu vực tiềm năng nhằm thúc đẩy nhanh phát
triển kinh tế - xã hội. Kéo giảm khoảng cách chênh lệch trình độ lao động giữa khu
vực thành thị và nông thôn.
Dựa theo công thức Yamane (1967), với sai số cho phép 8%, tác giả đề tài
chọn cỡ mẫu cần điều tra là 200 lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng có việc làm và thay đổi thu nhập của lao động nông thôn. Giả
thiết ban đầu có 10 biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc bao gồm giới tính,
tuổi, dân tộc, trình độ văn hóa, hộ nghèo, tham gia hội đoàn thể, nghề đã học, thời
gian học nghề và cơ sở đào tạo nghề. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có 7 nhân
tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm bao gồm giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, hộ
nghèo, nghề đã học, thời gian học nghề và cơ sở đào tạo nghề và 6 nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng thay đổi nghề của lao động nông thôn gồm giới tính, tuổi, tham
gia hội đoàn thể, nghề đã học, thời gian học nghề và cơ sở đào tạo nghề.
Từ kết quả trên, tác giả luận văn đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu
quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các chính sách về giải quyết việc làm,
góp phần giúp lao động nông thôn nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống hộ gia
đình.
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo lao động chất lượng cao cho các
ngành, lĩnh vực có tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông
dân, thanh niên nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, lao động trong các khu công
nghiệp, khu du lịch trên địa bàn tỉnh, gắn đào tạo với phát triển các cơ sở sản xuất
kinh doanh và dịch vụ giải quyết việc làm.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của đào
tạo nghề đến lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”. Với kết quả
nghiên cứu tôi mong có thể ứng dụng kết quả vào thực tiễn nhằm giúp lao động
nông thôn nhìn nhận rõ hơn vai trò đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm một cách
tích cực, đảm bảo ổn định thu nhập nâng cao chất lượng cuộc sống.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận văn là đánh giá tác động đào tạo nghề đối với lao
động nông thôn, thông qua đó, gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao khả năng tìm
kiếm việc làm, cải thiện thu nhập của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên
Giang.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện các mục tiêu chung, đề tài thực hiện các mục tiêu cụ thể như
sau:
Một là, đánh giá thực trạng tác động của đào tạo nghề đến khả năng có việc
làm và chuyển đổi nghề của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Hai là, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng có việc làm và chuyển
đổi nghề của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Từ đó, đề xuất các chính sách nhằm nâng cao cơ hội tìm kiếm việc làm cho
lao động nông thôn, cải thiện mức sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên
Giang.
3
4
cứu, kiểm định sự khác biệt giữa hai nhóm tham gia và đối chứng, đánh giá tác
động của đào tạo nghề đến việc làm và chuyển đổi nghề của lao động nông thôn
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Chương 5. Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết
quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm giúp lao động nông thôn nâng
cao khả năng tìm kiếm việc làm, cải thiện đời sống, đồng thời chỉ ra các hạn chế của
đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
5
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. LÝ THUYẾT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1. Nghề và đào tạo nghề
Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động
xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để có thể
thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định
(Giáo trình Kinh tế lao động, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2002).
Theo Luật dạy nghề 2006, Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà
trong đó, nhờ được đào tạo, con người có những tri thức, những kỹ năng để làm ra
các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của
xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản
xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra
những giá trị vật chất như: thực phẩm, lương thực, công cụ lao động hoặc giá trị
tinh thần như: sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ. Với tư cách là những phương
hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn.
Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia
hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông
thôn.
2.1.2. Đặc điểm của lao động nông thôn
Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên có thể thấy
lao động nông thôn có một số đặc điểm sau:
Lao động nông thôn có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn
rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu
nhập của lao động nông nghiệp.
Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý
hay thói quen làm việc một cách không liên tục.
7
Lao động nông thôn có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất
khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều
độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động.
Thu nhập của người lao động nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc
biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
Trình độ lao động nông thôn thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực
tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động
trong các ngành kinh tế khác.
2.1.3. Ý nghĩa của đào tạo nghề
Ý nghĩa về phát triển kinh tế:
Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta còn khoảng 30% lao động làm
nông nghiệp, còn lại chuyển sang ngành nghề phi nông nghiệp. Đào tạo nghề cho
Mincer (1974) cho rằng, cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con
người phải đầu tư để tích lũy thông qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc
về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Mức vốn con
người được tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng
và kinh nghiệm mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động.
Chúng thường được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường
lao động.
Becker (1993), khẳng định không có đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn hơn
như đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Vốn con
người là sự tích lũy đầu tư trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân
tố khác để làm tăng năng suất lao động. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất
lao động đều được xem là đầu tư vào vốn con người. Đầu tư vào vốn con người
không chỉ những chi phí cho giáo dục và đào tạo chính thức mà còn cả về sức khỏe,
cho di cư, tìm việc và chăm sóc trẻ trước khi đi học. Về mặt lợi ích cá nhân, người
có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn; người có kinh
nghiệm, thâm niên công tác cao hơn có mức thu nhập cao hơn; người có trình độ
học vấn và nghề nghiệp cao hơn ít bị thất nghiệp hơn.
Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến
mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với giả thiết cơ bản trong kinh tế
9
học – mọi người đều tối đa hóa lợi ích. Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng giống
như quyết định đầu tư vào vốn hữu hình khi đó người ta phải xem xét dòng thu
nhập quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học ngành nghề
nào đó hay không đi và giữa các ngành nghề với nhau. Phương án đi học và học
ngành nghề nào sẽ được lựa chọn khi nó đem tới dòng thu nhập cao nhất có thể.
2.2.2.Mô hình quyết định đi học
Nguyễn Bác Ngọc (2008) cho rằng, khi tham gia học tập, chúng ta phải trả
vùng (I) + vùng (II).
Như vậy, giáo dục làm tăng thu nhập cho người lao động giúp cải thiện cơ
hội nghề nghiệp của họ theo 3 hướng:
Tích lũy vốn con người với kiến thức, kỹ năng và phẩm chất từ môi trường
giáo dục mang lại.
Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định cũng như
khả năng tay nghề được trang bị từ trường học.
Tích lũy thông tin (vốn kiến thức) giúp họ có thể tìm được công việc phù hợp
hơn.
Như vậy, động lực để người lao động quyết định đi học hay tham gia học
ngành nghề gì đều mở ra cơ hội nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm và khả năng tạo ra
thu nhập cao hơn người có trình độ học vấn thấp. Ngoài ra, học nghề giúp cho lao
động có điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp, sẵn sàng rời bỏ khu vực nông nghiệp
(khi nông nghiệp không còn là nguồn thu nhập chính hoặc những hộ bị giải tỏa, thu
hồi đất) để tìm kiếm việc làm với một công việc mới, đó là điều kiện thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn.
11
2.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÀM
2.3.1. Điều kiện tự nhiên của địa phương
Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc
làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có
sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện về đất đai, các nguồn
khoáng sản trong rừng, dưới biển, địa hình, khí hậu, hệ thống giao thông. Đây là
những điều kiện vô cùng quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã
hội.
Với những thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, hệ thống giao thông sẽ tạo môi
Cơ chế chính sách là hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về việc làm,
chính sách lao động việc làm, các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
trong tạo việc làm cho người lao động, chính sách của chính quyền địa phương và
quy định của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Đây là một nhân tố quan trọng có
ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm cho người lao động.
Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm,
đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền
kinh tế trong từng thời kỳ. Có rất nhiều chính sách tác động đến việc làm như chính
sách tạo vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đào tạo nghề hợp thành
một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng
vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp
với nhau. Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.
Khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thích hợp sẽ tạo ra nhân
tố, môi trường, động lực khuyến khích các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động
mở rộng đầu tư nhằm thu lợi nhuận, tạo việc làm, khai thác tối ưu mọi nguồn lực
vào mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh. Ngược lại, khi các chính sách vĩ mô
của Nhà nước không phù hợp, nó sẽ kìm hãm và tạo nên tâm lý chán nản trong đầu
tư kinh doanh, quy mô sản xuất thu hẹp dẫn đến việc làm giảm sút.
Vì vậy, số lượng, chất lượng việc làm, khả năng tạo việc làm chính là một
trong những thước đo quan trọng biểu hiện trình độ hoạch định và tính khả thi của
13
hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế - xã
hội.
Tạo việc làm cho người lao động là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu
tiên trong toàn bộ các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
2.3.3. Nhân tố thuộc về đầu tư, nguồn lực tài chính
Các hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư của người dân là một
Ngược lại, lao động có chất lượng cao sẽ thu hút đầu tư, đáp ứng yêu cầu về nhân
lực của các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam, tạo cơ hội tăng thêm việc làm, tăng
thêm thu nhập cho người lao động.
Đối với các địa bàn, lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, dư
thừa lao động, thiếu việc làm trong lao động nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ khá cao;
Chất lượng lao động còn thấp, tay nghề chưa cao. Hơn nữa, việc làm ở địa bàn hiện
nay nằm ở khu vực phi kết cấu, làng nghề vẫn còn nhiều.
Chất lượng lao động là trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng tay nghề của
người lao động. Chất lượng lao động thể hiện qua tâm lực, trí lực và thể lực của
người lao động. Chỉ khi người lao động đảm bảo về sức khỏe, thể lực tốt và có trình
độ tay nghề tốt mới đáp ứng được yêu cầu về việc làm. Vậy nâng cao chất lượng lao
động đồng nghĩa với tạo thêm việc làm.
2.4. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước
2.4.1.1 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước lớn về nông nghiệp, dân số nông thôn chiếm đến
80%, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là mấu chốt nhằm thực
hiện hiện đại hóa Trung Quốc. Thành tựu nổi bậc trong đổi mời ở Trung Quốc là
xuất phát từ đổi mới trong nông nghiệp và cơ cấu lại kinh tế nông thôn.
Trong những năm đầu của đổi mới, cải cách trong nông nghiệp đi kèm với
phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp Hưng trấn ở Trung
Quốc. Sở dĩ công nghiệp Hưng trấn của Trung Quốc phát triển mạnh do trong thời
kỳ đầu hội đủ các yêu cầu về phát triển và đặc biệt là có thị trường tiêu thụ rộng lớn,
tuy nhiên, về sau công nghiệp Hưng trấn gặp phải nhiều khó khăn nhất là về thị
trường tiêu thụ do yêu cầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường tăng cao trong
khi điều kiện về đổi mới công nghệ của công nghiệp nông thôn không đáp ứng kịp.
15