Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khoẻ lao động trong các doanh nghiệp việt nam trong ngành xây dựng - Pdf 48

MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ
HỘI VỀ AN TOÀN, SỨC KHOẺ LAO ĐỘNG...............................2
1.1.

Một số khái niệm.....................................................................2

1.1.1.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp...............................2

1.1.2.

An toàn, sức khoẻ lao động...............................................2

1.1.3.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề an toàn,

sức

khoẻ

lao

động.....................................................................................................
........................... 2
1.2.



CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TNXH VỀ AN TOÀN, SỨC
KHOẺ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG NGÀNH XÂY DỰNG...................................................5
2.1.

Giới thiệu về ngành xây dựng Việt Nam..................................5

2.1.1.

Quá trình hình thành và phát triển....................................5

2.1.2.

Chuyên ngành và các sản phẩm của ngành......................5

2.1.3.

Đặc thù cơ bản của ngành.................................................6

2.1.4.

Vị trí của ngành xây dựng trong nền kinh tế Việt Nam.....7

2.2.

Thực trạng việc thực hiện TNXH của các DN Việt Nam trong

ngành xây dựng về an toàn, sức khoẻ lao động.................................7


Mặt đạt được...................................................................17

Việc chấp hành Pháp luật Lao động về ATVSLĐ tại các doanh nghiệp
ngành Xây dựng có nhiều chuyển biến tích cực. 14 cơ sở sản xuất
ngành xây dựng được cấp chứng nhận ISO 14001 về quản lý môi
trường. Các đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân đã quan tâm đầu tư đáng
kể về máy móc thiết bị, hệ thống biển báo xây dựng và các điều kiện
an toàn vệ sinh cần thiết cho người lao động.............................17
2.3.2.

Mặt hạn chế.....................................................................17

2.3.3.

Nguyên nhân...................................................................18

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN TNXH VỀ AN
TOÀN, SỨC KHOẺ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG NGÀNH XÂY DỰNG...........................................20
3.1.

Giải pháp...............................................................................20

3.2.

Kiến nghị...............................................................................21

KẾT LUẬN..........................................................................23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Lao động

5

NLĐ

Người lao động

6

TNXH

Trách nhiệm xã hội

Công nghiệp hoá – hiện
đại hoá


1

LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề an toàn sức khoẻ lao động luôn là vấn đề nhận được sự
quan tâm lớn của Nhà nước và đã được đề cập khá chi tiết và rõ ràng
trong Bộ Luật lao động, Pháp lệnh bảo hộ lao động và Luật bảo vệ
môi trường. Có thể khẳng định rằng, các quy định của pháp luật Việt
Nam về vấn đề an toàn, sức khoẻ lao động là khá chặt chẽ, phần lớn
phù hợp với quy định quốc tế.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu với khu vực
và thế giới, các DN Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác
nước ngoài. Để có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác này, các DN

1.1. Một số khái niệm
1.1.1.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
TNXH của DN là sự tự cam kết của DN thông qua việc xây dựng
và thực hiện hệ thống các quy định về quản lý, bằng các phương
pháp quản lý thích hợp, công khai, minh bạch trên cơ sở tuân thủ
pháp luật hiện hành; thực hiện các ứng xử trong quan hệ LĐ nhằm
kết hợp hài hoà lợi ích của DN, NLĐ, khách hàng, cộng đồng, xã hội,
người tiêu dùng và đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
1.1.2.

An toàn, sức khoẻ lao động

Là tổng hợp các quy định của nhà nước về các biện pháp bảo
đảm an toàn và vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp và khắc phục những hậu quả của tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.
1.1.3.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề an

toàn, sức khoẻ lao động
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề an toàn vệ sinh
lao động là trách nhiệm doanh nghiệp thực hiện đối với người lao
động của mình, bảo vệ lợi ích của người lao động được thể hiện trên
các nội dung:
-

Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao


gây tâm lý lo lắng.việc thực hiện trách nhiệm về ATVSLĐ , từng bước cải thiện môi
trường làm việc, nâng cao năng suất LĐ, khi vấn đề an toàn tại nơi làm việc được cải
thiện, sự thiệt hại về nguyên vật liệu và các sự cô cũng như tai nạn LĐ, bệnh nghề
nghiệp giảm xuông thì khôi lượng sản phẩm tăng lên và chất lượng sản phẩm cũng
được nâng cao.
- Khẳng định thương hiệu, vị thế của doanh nghiệp, tạo sự phát triển bền vững:
Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ cạnh tranh đặc
thù của doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn vệ sinh lao động nhằm
thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao, chất lượng tôt, tăng khả năng cạnh
tranh xây dựng thương hiệu trên thị trường cho doanh nghiệp, ngoài ra tạo ra lòng
trung thành, cam kết của người lao động đôi với doanh nghiệp, góp phần phát triển bền
vững cho doanh nghiệp.
1.2.2.

Đối với NLĐ

Đảm bảo an toàn, sức khoẻ cho NLĐ, ngăn ngừa các nguy cơ
xảy ra sự cố làm chấn thương và đe dọa tính mạng của NLĐ, hạn chế
các yếu tố có hại cho sức khỏe của người lao động trong quá trình
làm việc. Thực hiện triệt để trách nhiệm này chính là doanh nghiệp
thiết lập môi trường lao động thuận lợi, ngăn ngừa tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp.
1.2.3.

Đối với xã hội

Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường
lao động; ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; nâng



- Doanh nghiệp phải chỉ định đại diện lãnh đạo chịu trách nhiệm
về sức khoẻ và an toàn cho toàn bộ nhân viên và chịu trách nhiệm
thực hiện các yếu tố về sức khoẻ và an toàn trong tiêu chuẩn này.
1.3.3.
nghiệp

Trách nhiệm đối với NLĐ bị tai nạn, bệnh nghề


- DN cần trả đủ lương, toàn bộ các chi phí y tế, bố trí công việc
phù hợp với mức suy giảm khả năng LĐ của NLĐ, phải có bồi thường
trợ cấp cho NLĐ, đóng các loại bảo hiểm bắt buộc cho NLĐ.
- Doanh nghiệp phải đào tạo cán bộ công nhân viên về an toàn
lao động trong sản xuất, có những biện pháp và hệ thống quản lý
thích hợp đảm bảo an toàn cho cán bộ công nhân viên.
- Doanh nghiệp phải phổ biến kiến thức về ngành công nghiệp
và bất kỳ các mối nguy hiểm nào, phải cung cấp môi trường làm việc
an toàn và vệ sinh, phải có các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa tai
nạn và làm tổn hại đến sức khoẻ mà xuất hiện trong lúc có liên quan
đến hoặc xảy ra trong khi làm việc bằng cách giảm tối đa, đến khả
năng có thể được, nguyên nhân gây ra các mối nguy hiểm vốn có
trong môi trường làm việc.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TNXH VỀ AN TOÀN, SỨC
KHOẺ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG NGÀNH XÂY DỰNG
2.1. Giới thiệu về ngành xây dựng Việt Nam
2.1.1.
Quá trình hình thành và phát triển

nước, nhà máy thủy lợi điện cung cấp điện năng.

 Chuyên ngành cảng, công trình biển:
Xây dựng cảng sông, cảng biển, các công trình ven sông, ven
biển, tàu thuyền, phục vụ giao thông đường thủy.

 Chuyên ngành cầu đường:
Xây dựng cầu, đường, hầm xuyên núi, hầm sông, núi, làm nhà
máy hoặc cho các mục đích khác, đường sắt, sân bay, cầu đường
thành phố.

 Chuyên ngành dân dụng và chuyên nghiệp:
Ngành xây dựng dân dụng lại có chuyên xây dựng nhà ở,
chuyên xây dựng nhà công cộng. Mỗi loại nhà có những yêu cầu
công nghệ khác nhau nên phải có chuyên môn được đào tạo riêng.
Công trình nhà máy nhiệt điện khác với nhà máy hóa chất, nhà máy
lọc dầu khác với nhà máy xi măng.

 Chuyên ngành xây dựng nông nghiệp:
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp từ quá trình sản xuất
đến chế biến sản phẩm nên xây dựng nông nghiệp cũng rất đa dạng:
trại chăn nuôi, cơ sở chế biến…

 Chuyên ngành cấp thoát nước đô thị:
Xây dựng hệ thống cấp nước đô thị, khu dân cư cũng như hệ
thống thoát và xử lý nước đã dùng, bảo đảm môi trường nước được
sạch sẽ.

 Chuyên ngành môi trường:
Bảo đảm môi trường sinh hoạt và sản xuất đô thị và khu dân cư,

xây dựng làm cho công trình chắp vá, thiếu đồng bộ.
2.1.4.

Vị trí của ngành xây dựng trong nền kinh tế Việt

Nam
Nhìn vào diện mạo đô thị Việt Nam hôm nay phần nào cho thấy
vị trí quan trọng và sức lớn mạnh của ngành xây dựng trong nỗ lực
suốt nửa thế kỷ qua để khẳng định vị trí của một nền kinh tế mũi
nhọn trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Ngành xây dựng là ngành có mức tăng trưởng bền vững hàng
năm và đóng góp tỷ trọng lớn và cơ cấu tăng trưởng GDP của cả
nước. Theo tổng cục thống kê, năm 2016 ngành xây dựng có mức
tăng trưởng khá với mức tăng 10.1% và đóng góp 0.6 điểm phần


trăm vào mức tăng trưởng kinh tế của cả nước.Với vị thế của một
ngành luôn tăng trưởng trong những năm gần đây và có tốc độ tăng
trưởng đứng thứ 3 khu vực châu Á năm 2015 (thống kê của ngành
xây dựng Việt Nam), tiếp tục đà tăng trưởng trong năm 2016, Ngành
Xây dựng Việt Nam có triển vọng phát triển rất lớn trong các năm tới.
2.2. Thực trạng việc thực hiện TNXH của các DN Việt Nam
trong ngành xây dựng về an toàn, sức khoẻ lao động
Những năm gần đây, ngành xây dựng không chỉ là một trong
những ngành tạo ra nhiều việc làm (với hơn 3,3 triệu NLĐ) mà còn là
lĩnh vực để xảy ra các nguy cơ mất ATVSLĐ và các vụ tai nạn lao
động chết người nhiều nhất. Vì thế, thay đổi hành vi của người sử
dụng lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp trong công tác
ATVSLĐ tại các công trình xây dựng và doanh nghiệp xây dựng sẽ
mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.

với các yếu tô độc hai như bụi (70,3%), tiếng ồn (70,1%) và nóng (66,2%), chưa kể
các yếu tô khác như phóng xa, hoá chất 1.
Trong ngày xây dựng, ô nhiễm bụi tại các nhà máy xi măng và các công trường
đang thi công là nghiêm trọng nhất. Ô nhiễm bụi thường phát sinh trong quá trình sản
xuất xi măng, đặc biệt là trong bụi chứa hàm lượng silic tự do cao, chính vì vậy NLĐ
mắc bệnh phổi bụi rất nhiều, hàm lượng tại các doanh nghiệp ngành xây dựng vượt
quá tiêu chuẩn cho phép.

Bảng 1: Nồng độ bụi tại các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
(Khảo sát thực hiện năm 2015)

STT

Địa điểm đo

Hàm lượng SiO2

Bụi toàn phần

Bụi hô hấp

(%)

(mg/m³)

(mg/m³)

1 “Thực trạng điều kiện lao động và tình hình sức khoẻ người lao

động

Xi măng Hải
Phòng
Xi măng Bỉm
Sơn
Xi măng Sông
Đà
Mỏ Đá Hoà An
Xi măng Nghi
Sơn
Mỏ Đá trắng
Nghệ An
Bê Tông xây
dựng Hà Nội

3–9

4 – 124

6 – 37

3.8 – 13.8

3.3 – 31.8

3 – 35

3.6 – 7.2

3.5 – 14.2


ồn trong ngành xây dựng chủ yếu phát sinh từ nhà máy sản xuất, các công trường xây
dựng, từ các phương tiện vận tải, trong các doanh nghiệp này, âm lượng thường vượt
quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt ở các hoạt động xây dựng thường được tiến hành
24/24 nên ảnh hưởng rất lớn đến NLĐ và đời sông dân cư xung quanh (phụ lục bảng
2).
Khảo sát tại một sô DN, cho thấy NLĐ đã được trang bị các biện pháp kiểm soát
tiếng ồn ở mức cao nhất (ví dụ như: phương tiện bảo vệ cá nhân), trong khi đó hầu hết
1/3 sô lao động còn lại phơi nhiễm với rung lại không được cung cấp bất kỳ một biện
pháp kiểm soát nào.
Ngoài ra, điều kiện làm việc, sinh hoạt của công nhân xây dựng thường diễn ra
ngoài trời. Vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ NLĐ. Do đặc thù của ngành xây
dựng, nên NLĐ thường phải ở lại các công trường, tại đây công nhân dựng lán trại để
ở, các lán trại này thường là nơi tạm bợ, điều kiện sinh hoạt không đảm bảo. Vào mùa


đông các lán trại thường ẩm thấp, kèm theo là chăn màn không được giặt dũ thường
xuyên nên tạo ra nhiều muỗi. Vào mùa hè, các lán trại thường rất nóng nực và khó
chịu. Hơn nữa sau một ngày làm việc nặng nhọc, vất vả các công nhân không thể ngủ
do nóng atnh hưởng sức khoẻ làm giảm nặng suất lao động, trên thực tế NLĐ phải
chịu nhiều thiệt thòi, vất vả như vậy, nhưng các doanh nghiệp ngành xây dựng lại đa
sô họ không quan tâm đến chỗ ở, chỗ ngủ, chỗ làm việc của NLĐ. Doanh nghiệp chỉ
quan tâm về năng suất lao động, về thời gian hoàn thành chỉ tiêu mà không để tâm
chăm lo sức khoẻ cho NLĐ.
2.2.2.

Thực trạng thực hiện trách nhiệm đảm bảo sức

khoẻ cho NLĐ
Thực hiện trách nhiệm này, các doanh nghiệp cần tổ chức huấn
luyện, hướng dẫn thông báo cho NLĐ quy định, biện pháp làm việc

luyện bổ sung kịp thời sẽ dẫn đến người lao động thiếu kiến thức an
toàn trong thi công ở những vị trí, hạng mục, công đoạn cụ thể;
người lao động vi phạm quy trình, quy chuẩn an toàn lao động chiếm
11,9% tổng số vụ, bao gồm: người lao động thực hiện sai các quy
định vận hành thiết bị, quy định thi công, quy chuẩn an toàn đối với
vận hành, sử dụng các thiết bị và các phương tiện, công cụ lao động
tại nơi làm việc; người sử dụng lao động không trang bị phương tiện
bảo vệ cá nhân trong lao động chiếm 4% và người lao động không sử
dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 1,5% số vụ 2.
Ngành xây dựng hiện là ngành có tỷ lệ cung cấp các buổi tập
huấn cho người lao động thấp nhất, với khoảng 2/3 người lao động
cho biết họ được tham dự một vài lớp tập huấn (chiếm 61%) so với
75% ở các ngành công nghiệp ưu tiên khác, ¼ người lao động làm
việc trong ngành xây dựng cho biết họ không được tham dự bất kỳ
một khóa tập huấn nào về sức khỏe và an toàn trong suốt khoảng
thời gian 12 tháng, thấp hơn con số do người sử dụng lao động cung
cấp.
Theo kết quả điều tra về các doanh nghiệp thuộc 5 ngành, tình trạng DN chưa bao
giờ huấn luyện cho NLĐ vẫn còn xảy ra, có 5% sô ý kiến ngành Da Giầy – Dệt May;
2 Hải Hà (2017), “Ngành xây dựng tiếp tục dẫn đầu về số vụ tai nạn

lao động”. Được lấy về từ: http://baodautu.vn/nganh-xay-dung-tieptuc-dan-dau-ve-so-tai-nan-lao-dong-d62392.html


3,1% - ngành Thuỷ sản; 6,3% - ngành Xây dựng và 3,9% - ngành Dịch vụ – Thương
mại khẳng định DN của mình chưa bao giờ huấn luyện AT-VSLĐ cho NLĐ.

Bảng 3: Thời gian giữa các lần huấn luyện về ATVSLĐ cho
NLĐ phân theo ngành năm 2016
Đơn vị tính: %


may

g mại

1

6 tháng

29,1

6,3

15,5

23,6

45,1

2

1 năm

64,6

87,5

84,5

71,2


6,3

3,1

-

3,5

3,9

100

100

100

100

100

Chưa bao
5

giờ huấn
luyện
Tổng

Nguồn: Số liệu tổng hợp của Bộ LĐTBXH
Xét tổng thể, có thể khẳng định ngành Khai thác mỏ là ngành

cạnh các hệ lụy như ô nhiễm môi trường, giao thông… thì tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp đang là vấn đề nhức nhối trong ngành
xây dựng hiện nay. Mà điều này một phần lớn là do sự thiếu trách
nhiệm của các doanh nghiệp đến sự an toàn của NLĐ.
Theo số liệu tổng hợp của Bộ LĐTBXH, năm 2016, cả nước xảy
ra hơn 7.900 vụ tai nạn lao động , làm 8.251 người bị nạn, trong đó
có 862 người chết, 1.952 người bị thương nặng. Năm 2015, số vụ tai
nạn lao động thuộc lĩnh vực xây dựng chiếm 33,1% tổng số vụ tai
nạn lao động trong cả nước với tỷ lệ người chết chiếm tới 39%. Sang


năm 2016, các con số này đã giảm nhưng vẫn đứng đầu lần lượt là
28,6% và 25%

3

(phụ lục biểu 4 ).

Qua đây ta có thể thấy, trách nhiệm thực hiện của các DN trong
ngành xây dựng về an toàn, sức khoẻ lao động cho NLĐ còn kém,
tình trạng tai nạn lao động xảy ra thường xuyên tại các công trình
với những yếu tố gây chấn thương, chết người có tỷ lệ cao là rơi ngã,
vật rơi, vùi rập hoặc điện giật… Bên cạnh tình trạng đáng báo động
về bệnh nghề nghiệp thì tình trạng tai nạn lao động cũng đang báo
động mà một trong những nguyên nhân chính là do sự thò ơ, vô
trách nhiệm của các doanh nghiệp.

Bảng 5: Những yếu tố chấn thương gây chết người có tỷ lệ
cao
(thống kê năm 2016)


Rơi ngã

420

133

151

163

Điện

225

73

77

35

582

60

73

196

1870

nhiều vô kể. Bên cạnh đó, tai nạn lao động xảy ra do điện giật khá
nhiều chiếm 225 vụ, do thiết bị máy móc không đảm bảo, mạch điện
hở, dây điện không có phích cắm hoặc bị hỏng... đa số đều là nguyên
nhân xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ phía NSDLĐ, từ
thực trạng trạng thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn vệ sinh lao
động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiều yếu kém.
Thống kê của Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH) về nguyên
nhân số vụ tai nạn lao động chết người năm 2016 cho thấy, nguyên
nhân do người sử dụng lao động chiếm tới 52,8%.

Bảng 6: Nguyên nhân số vụ tai nạn chết người do NSDLĐ năm
2016
Đơn vị tính: %
STT
1
1.1

Nguyên nhân
Do NSDLĐ
Không xây dựng quy trình, biện
pháp làm việc an toàn

1.2

Thiết bị không đảm bảo ATLĐ

1.3

Không huấn luyện ATLĐ


tác giám sát, huấn luyện, trang bị kiến thức về an toàn lao động cho
người lao động trong bối cảnh phần lớn lao động trong ngành xây
dựng là lao động phổ thông, trình độ văn hóa thấp, ý thức kỷ luật lao
động kém và ít được đào tạo bài bản, không được trang bị kiến thức
cũng như những kỹ năng cơ bản khi làm việc trong môi trường nguy
hiểm. Trong khi đó, công tác quản lý Nhà nước về an toàn lao động
tại các công trình còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Bên cạnh đó, vai trò
giám sát công trình, trong đó có giám sát về công tác an toàn lao
động của tư vấn giám sát, nhà thầu lại chưa làm hết trách nhiệm của
mình nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân người lao động và chính
doanh nghiệp.
Kết quả một đợt thanh tra liên ngành về việc chấp hành các quy
định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo hiểm
xã hội tại 16 nhà thầu đang thi công các công trình xây dựng trên địa


bàn TP Hà Nội (diễn ra từ ngày 5.5 – 2.6.2016) đã phát hiện thấy các
nhà thầu có nhiều sai phạm trong việc chấp hành các quy định của
pháp luật về lĩnh vực này. Cụ thể, đoàn thanh tra đã phát hiện 147
sai phạm tại các DN. Trong đó, có 9 doanh nghiệp chưa thực hiện
Báo cáo định kỳ 6 tháng và hằng năm về tình hình tại nạn lao động
với cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương; 7 DN chưa xây dựng
thang lương, bảng lương, định mức lao động theo quy định; 4 DN
chưa xây dựng kế hoạch ATVSLĐ và cải thiện điều kiện lao động
hằng năm; 10 DN chưa đo, kiểm tra môi trường lao động tại nơi làm
việc theo quy định; 5 DN chưa đậy kín những giếng, hầm, hố trên
mặt bằng và những lỗ trống trên các sàn tầng hoặc rào ngăn chắc
chắn; chưa phân công cụ thể người ra tín hiệu cẩu tháp... 4
Đoàn Thanh tra cũng phát hiện 6 doanh nghiệp chậm nộp tiền
bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối

70.000 lượt cán bộ quản lý, trên 15.000 lượt chủ doanh nghiệp, trên
700.000 cán bộ làm công tác ATVSLĐ, y tế tại doanh nghiệp và hàng
triệu NLĐ được huấn luyện về ATVSLĐ. Đây là những chuyển biến
tích cực trong ngành xây dưng cả về nội dung lẫn phương pháp huấn
luyện, qua đó có nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ, bảo đảm
an toàn, sức khoẻ lao động cho NLĐ tại các DN ngành xây dựng, giúp
cải thiện điều kiện làm việc, tăng năng suất lao động, và bảo đảm an
toàn cho người lao động.
Các doanh nghiệp đã và đang thực hiện đầy đủ các chính sách
bảo hiểm xã hội cho người lao động, bồi thường thiệt hại khi có tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuy nhiên mức độ bồi thường nhiều
khi chưa được thỏa đáng, chưa bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
2.3.2.

Mặt hạn chế

Số vụ tai nạn lao động chết người và số người chết vì tai nạn lao
động đã giảm hơn các năm trước nhưng vẫn ở mức cao. Theo báo
cáo của các công đoàn trực thuộc, năm 2015, các đơn vị đã để xảy
ra 13 vụ tai nạn lao động, làm 15 người chết. Đến năm 2016, số vụ
tai nạn đã giảm xuống, nhưng vẫn ở mức cao nhất trong các ngành.
Tình trạng bệnh nghề nghiệp cũng đang có những diễn biến
phức tạp, Việt Nam hiện có 30 bệnh nghề nghiệp (BNN) đã được đưa
vào danh mục bệnh BNN được thanh toán BHYT và đã có gần 29
nghìn người lao động được Bảo hiểm xã hội Việt Nam thanh toán vì


mắc bệnh nghề nghiệp. Trong đó, hơn 75% là trường hợp là mắc các
bệnh phổi do có liên quan tới bụi phổi silic; bệnh do tiếng ồn nghề
nghiệp khoảng 10% số còn lại là các bệnh do nhiễm hóa chất. Tuy

các phương án, biện pháp thi công chưa đúng theo quy định; tổ chức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status