LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUY CHẾ PHÁP lý về bảo HIỂM KHÁCH DU LỊCH TRONG nước THEO PHÁP LUẬTVIỆT NAM - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH – THƯƠNG MẠI
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 34 (2008 – 2012)

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM
KHÁCH DU LỊCH TRONG NƯỚC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN

Sinh viên thực hiện:
TRẦN THỊ ÁNH THU
MSSV: 5085923
Luật Thương mại 2 - K34

Cần Thơ, 5/2012


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận


2.1.1 Đối tượng bảo hiểm .....................................................................................22
2.1.2 Phạm vi bảo hiểm ........................................................................................23
2.2 Phương thức bảo hiểm .......................................................................................26
2.3 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm ......................................................................27
2.3.1 Số tiền bảo hiểm...........................................................................................27
2.3.2 Phí bảo hiểm................................................................................................27
2.4 Giám định tổn thất và giải quyết bồi thường ......................................................29
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
2.4.1 Giám định tổn thất .......................................................................................29
2.4.2 Bồi thường tổn thất ......................................................................................32
2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch
trong nước ............................................................................................................ ..34
2.5.1 Quyền và nghĩa vụ của người được bảo hiểm...............................................34
2.5.1.1 Quyền lợi của người được bảo hiểm........................................................34
2.5.1.2 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm.........................................................36
2.5.2 Quyền và nghĩa vụ của công ty bảo hiểm ......................................................36
2.5.2.1 Quyền lợi của công ty bảo hiểm ..............................................................36
2.5.2.2 Nghĩa vụ của công ty bảo hiểm................................................................39
2.5.3 Quyền và nghĩa vụ của công ty du lịch ..........................................................40
2.5.3.1 Quyền lợi của công ty du lịch ..................................................................41
2.5.3.2 Nghĩa vụ của công ty du lịch ...................................................................42
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA BẢO HIỂM KHÁCH DU
LỊCH TRONG NƯỚC ..........................................................................................46
3.1 Thực trạng về bảo hiểm khách du lịch trong nước ở Việt Nam...........................46

trong những năm gần đây làm cho đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt,
thu nhập tăng làm nảy sinh các nhu cầu nghỉ ngơi, khám phá, giải trí, thư giãn.
Chính vì vậy, ngành du lịch ngày càng phát triển mạnh kéo theo cơ hội phát triển
cho các dịch vụ đi kèm trong hoạt động du lịch, trong đó có bảo hiểm du lịch. Với
bản chất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch, một hoạt động
đang phát triển hết sức mạnh mẽ trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm du lịch nói
chung và bảo hiểm khách du lịch trong nước nói riêng đang đứng trước một tiềm
năng và cơ hội vô cùng to lớn cho sự mở rộng và phát triển của mình.
Bảo hiểm khách du lịch trong nước chỉ được biết đến dưới góc độ là một dịch
vụ kèm theo trong các hợp đồng du lịch. Vì vậy, đa số mọi người chưa nhận thức
được hết tác dụng của loại hình bảo hiểm này trong chuyến hành trình của mình.
Còn tại các công ty bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm khách du lịch trong nước còn
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu phí và cũng chưa được quan tâm phát
triển đúng mức. Một phần là do những quy định của pháp luật về loại hình bảo
hiểm này chưa thực sự hoàn chỉnh, còn nhiều hạn chế.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,
người viết chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước
theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu về các quy định
của pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hiểm khách du lịch trong nước cụ thể trong đó
là những quy định về đối tượng, phạm vi bảo hiểm, vấn đề giám định và bồi
thường tổn thất cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia bảo hiểm
khách du lịch trong nước. Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về
loại hình bảo hiểm khách du lịch trong nước tại các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 1


Loại hình bảo hiểm khách du lịch trong nước chưa phát triển mạnh và còn khá
mới mẻ, vì vậy kết quả nghiên cứu luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và hoàn
thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm khách du lịch trong nước.
Đồng thời chỉ ra những điểm chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực
tiễn áp dụng, góp phần tạo môi trường pháp lý chuẩn mực hơn cho hoạt động bảo
hiểm khách du lịch trong nước, thúc đẩy hoạt động du lịch và bảo hiểm ngày càng
phát triển hơn phục vụ đời sống kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 2

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm và bảo hiểm du lịch.
Chương 2: Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp
luật Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm khách du lịch trong nước.
Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô.
Và đặc biệt là cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em
rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn. Đây là bài viết đầu tiên, nên không
thể tránh khỏi những sai sót, mong sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô để bài
viết của em được hoàn thiện hơn. Đồng thời, em cũng xin cảm ơn các bạn của em

nhận vì nó chỉ xem xét chung hiện tượng du lịch mà ít phân tích nó như một hiện
tương kinh tế xã hội. Theo Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức
(International Union Of Official Travel Oragnization: IUOTO) thì du lịch được
hiểu là hành động du hành đến một nơi, khác với địa điểm cư trú thường xuyên
của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề
hay một việc kiếm tiền sinh sống…Các chuyên gia Hội nghị Liên Hiệp Quốc về
du lịch họp tại Roma – Italia (21/8- 5/9/1963) thì cho rằng du lịch là tổng hợp các
mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình
và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay
ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm
việc của họ. Còn đối với L.L Pirogionic thì du lịch là một dạng hoạt động của dân
cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tin thần
nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những
giá trị về tự nhiện, kinh tế và văn hóa.
Theo Luật Du lịch số 44/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua thì định nghĩa: “Du lịch là hoạt động có liên quan
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 4

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian
nhất định”.
Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế và xã hội, của loài
người đến một giai đoạn phát triển nhất định, chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 5

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
đến 64 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 10,7% đến 14,3% so với thực hiện năm 2007 1.
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành du lịch đã khởi sắc, vươn lên đổi mới
quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng
tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình. Chỉ thị
46/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã
khẳng định: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường
lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nuớc”. Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành,
thể chế hoá bằng văn bản quy phạm pháp luật, tạo môi trường cho du lịch phát
triển, nâng cao hiệu lực quản lý. Ngành Du lịch được Đảng và Nhà nước xác định
là: “Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước” với mục tiêu: “Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở
thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực”. Quan điểm đó được kiểm
nghiệm trong thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII và đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
được nâng lên: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006 - 2010) xác định: “Phát triển du lịch, một ngành kinh tế mũi
nhọn”; phấn đấu sau năm 2010, Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành
du lịch phát triển trong khu vực. Phát triển nhanh dịch vụ du lịch chất lượng… để
góp phần tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ”. Nhiều tỉnh, thành
phố, tỉnh uỷ, thành uỷ đã có kế hoạch và nghị quyết về phát triển du lịch, xác định
vai trò, vị trí của du lịch trong cơ cấu kinh tế, đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện

không phải là nghiệp vụ ra đời sớm nhất như nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, hàng hải,
hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển đường biển… nhưng cũng có thâm niên khá
dài và trải qua một quá trình phát triển khá lâu.
Khi mới ra đời bảo hiểm du lịch và bảo hiểm khách du lịch trong nước được
triển khai cùng với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác như: bảo hiểm sinh
mạng, bảo hiểm toàn diện học sinh, bảo hiểm tai nạn 24/24.
1.1.3 Thị trường bảo hiểm du lịch trong tương lai
Du lịch không phải là nhu cầu thiết yếu của con người, nhu cầu đó chỉ nảy sinh
khi các nhu cầu thiết yếu khác được thoả mãn. Chính vì vậy, ngành du lịch phát
triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt
Nam nói riêng. Tốc độ tăng trưởng bình quân của Việt Nam trong một thập kỷ qua
là 7,3%, ấn tượng nhất đạt tốc độ tăng trưởng kỷ lục 8,5% năm 2007 sau khi Việt
Nam gia nhập WTO tháng 11 năm 2006.
Cùng với sự phát triển của đất nước đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể,
thu nhập bình quân đầu người tăng từ 480 USD năm 2003 lên 755 USD vào năm
2007. Theo đó nhu cầu du lịch trong nước cũng tăng cao. Cụ thể :
Bảng 01: Số lượng khách du lịch nội địa (1995-2008)
Năm

Khách nội địa( người)

Mức tăng trưởng(%)

1995

5.546.000

-

2000


/>
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 7

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
2007

19.289.000

9,7

2008

21.200.000

9,9

(Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam)
Có thể thấy rằng lượng khách nội địa tăng gấp 4 lần từ năm 1995 đến năm
2007 và có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, tăng mạnh vào năm 2007, 2008
lượng khách du lịch nội địa lên tới 21,2 triệu khách. Lượng khách nội địa là lượng
khách chủ yếu của thị trường du lịch cũng là bộ phận chính trong số khách mua
bảo hiểm du lịch tại các công ty bảo hiểm.3
Từ những số liệu và phân tích trên cho thấy du lịch trong nước là một thị
trường tiềm năng và sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa. Tuy nhiên, việc mua bảo

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
Theo Dr.David Bland - Insurance Principles and Practice, nhà xuất bản Tài
chính, 1998 thì cho rằng: “Bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên (gọi là công
ty bảo hiểm) bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm) cam kết thanh
toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm), một khoản tiền hoặc hiện vật tương
đương với khoản tiền đó khi xảy ra một sự cố đi ngược lại quyền lợi của người
được bảo hiểm”.
Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm do Bảo Việt phát hành năm 2002 định
nghĩa: “Bảo hiểm (insurance) là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu
quả của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẽ rủi ro cho nhiều người cùng
gánh chịu”. 4
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 của Việt Nam thì “kinh doanh bảo hiểm
là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh
nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua
bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm”. 5
Trong đó phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo thỏa
thuận trong hợp đồng để nhận được cam kết bồi thường.6
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc do pháp
luật quy định, mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiển
bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.7
Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các
góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau. Bảo hiểm là một kỹ thuật nghiệp vụ đặc
trưng nên rất khó tìm ra được một định nghĩa hoàn hảo thể hiện được tất cả những
khía cạnh đó. Trên phương diện lý thuyết cơ bản, bảo hiểm là phương pháp
chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo

Đầu tư tài chính nguồn vốn nhàn rỗi có ý nghĩa quan trọng cho sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp bảo hiểm.
Các công ty bảo hiểm với rất nhiều sản phẩm bảo hiểm hầu như đã đáp ứng
được những nhu cầu bảo hiểm phong phú từ khách hàng. Hiện các công ty bảo
hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các công ty bảo
hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm
thu lợi nhuận.9 Các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia tích cực vào đầu tư, tài trợ dự
án, giải ngân vốn cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế vay vốn. Và với lợi
thế ngành, các doanh nghiệp bảo hiểm còn tư vấn cho các khách hàng vay vốn của
mình nên mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro và cũng là giảm thiểu rủi ro cho các
doanh nghiệp bảo hiểm.
Như vậy, sự phát triển của các loại hình tài chính trung gian đã tạo ra một
lượng cung vốn dồi dào cho các doanh nghiệp, có tác dụng thúc đẩy sản xuất, tăng
trưởng kinh tế.
 Là một ngành dịch vụ đặc biệt
Đặc biệt vì thứ nhất sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, bản chất của nó
là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với
khách hàng. Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi
trả trong tương lai. Tâm lý người mua hàng thường không muốn tiêu dùng dịch vụ
này. Người mua bảo hiểm không muốn có sự kiện bảo hiểm xảy ra để được nhận
quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số
phí phải đóng. Thứ hai, bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược, tức là doanh
nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn ra trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của
người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
 Bảo hiểm vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của ngành bảo hiểm. Khi tham gia bảo hiểm,
người mua sẽ đóng góp một số tiền (phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm, ngược lại
người bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền (tiền bảo hiểm) cho người nhận bảo
9

kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến người tham gia bảo hiểm. Phân phối trong bảo
hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn. Tính bồi hoàn thể
hiện ở chỗ có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thì mới được phân phối khi sự
kiện bảo hiểm xảy ra. Còn tính không bồi hoàn là dù có tham gia đóng góp nhưng
tổn thất không xảy ra thì không được phân phối lại từ quỹ bảo hiểm.11
Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm. Môi trường pháp lý ổn định,
phù hợp chặt chẽ sẽ giúp cho bảo hiểm ngày càng phát triển.
1.2.3 Vai trò của bảo hiểm thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bảo hiểm có vai trò hết sức to lớn. Vai
trò đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

10
11

Theo Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Trường đại học công nghiệp TPHCM
Nguyễn Viết Vượng, Giáo trình kinh tế bảo hiểm, NXB lao động, 2006.

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 11

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
 Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng
xuất phát từ nhu cầu này mà bảo hiểm ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả
năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung

toàn xã hội.
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 12

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua
bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình. Đồng thời, họ
cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ
giao thông, an toàn lao động. Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm
cho người bảo hiểm nên các cơ quan, xí nghiệp thường có các quy tắc, quy định
cho an toàn lao động, các quy định về phòng cháy, chữa cháy, các thiết bị chống
trộm, báo cháy.
 Tăng thu cho ngân sách nhà nước
Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành
kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi lỗ lãi rõ ràng. Vì vậy, các công ty bảo
hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi doanh nghiệp khác
hoạt động trong nền kinh tế. Hằng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã
đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp
phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn
chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những
thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để
bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng,
công trình. Ngoài ra, một thị trường phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các
cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước, góp phần
tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.12
 Bảo hiểm góp phần tạo việc làm cho xã hội

tàu hoả, tàu thuỷ và các phương tiện đi lại khác.
Do phải di chuyển nhiều nơi như vậy mà rủi ro khách du lịch có thể gặp phải là
rất lớn mặc dù có thể đã có những biện pháp tự bảo vệ, tuy nhiên rủi ro thì không
thể lường trước xảy ra khi nào và hậu quả ra sao. Nói chung khách du lịch thường
gặp những rủi ro sau: Thứ nhất là nhóm rủi ro ảnh hưởng tới sinh mạng, sức khoẻ
của du khách gây ra chết người hoặc thương tật. Thứ hai là nhóm rủi ro gây thiệt
hại về tài sản của du khách như : mất mát, hư hỏng tài sản, giấy tờ tuỳ thân. Và thứ
ba là nhóm rủi ro liên quan đến trách nhiệm của du khách đối với người thứ ba (cá
nhân hoặc địa điểm du lịch ).
Khi gặp những rủi ro như trên khách du lịch thường thấy lúng túng, khó khăn
cho dù những tổn thất xảy ra là nặng hay nhẹ. Nếu tổn thất nhẹ họ có thể tự xoay
xở được nhưng vẫn phải bỏ ra chi phí tiền của và thời gian để khắc phục tổn thất,
đặc biệt du khách đều là những người từ nơi khác đến nên họ sẽ gặp rất nhiều khó
khăn trong việc giải quyết những tình huống tưởng chừng đơn giản và đương
nhiên với những tổn thất lớn, nặng nề thì sẽ gây thiệt hại rất lớn về tài chính đối
với bản thân họ và gia đình mà đôi khi những thiệt hại này họ cũng không thể
gánh vác nổi. Chính những lúc như vậy họ rất cần được hỗ trợ, được giúp đỡ. Và
từ đó bảo hiểm du lịch ra đời.
Bảo hiểm khách du lịch trong nước là cần thiết khách quan để đáp ứng nhu cầu
bảo vệ của khách du lịch, để đảm bảo cho chuyến hành trình của họ được diễn ra
một cách suôn sẻ. Bảo hiểm du lịch là nghiệp vụ nằm trong nhóm bảo hiểm con
người, tiền thân là bảo hiểm tai nạn khách du lịch. Trong quá trình triển khai loại
hình bảo hiểm này, một nhu cầu mới đặt ra là tài sản và vật dụng mà du khách
mang theo có giá trị ngày càng lớn, do đó cần có thêm sản phẩm bảo hiểm cho
những vật dụng cá nhân đó, vì vậy đối tượng bảo hiểm du lịch ngày càng được mở
rộng và nghiệp vụ này được gọi chung là bảo hiểm du lịch.
1.3.1 Đối với cá nhân và xã hội
Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm du lịch nói riêng góp phần đề phòng hạn chế
tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt
nỗi lo lắng cho cá nhân, gia đình và xã hội.

đồng thời cũng là sự bảo đảm an toàn cho xã hội vì mỗi cá nhân là một đơn vị của
xã hội, từng cá nhân riêng rẽ được bảo vệ tức là cả xã hội được an toàn.
1.3.2 Đối với ngành bảo hiểm
Bảo hiểm du lịch nằm trong hệ thống các sản phẩm của công ty bảo hiểm và vì
vậy cũng giống như các loại hình bảo hiểm khác đem lại doanh thu cho doanh
nghiệp bảo hiểm. Đặc biệt, đây là loại hình mang lại tỷ lệ lợi tức khá cao cho các
công ty bởi lẽ thông thường khi đi du lịch du khách đều thực hiện những biện pháp
tự bảo đảm an toàn. Tuy nhiên, họ vẫn muốn mua bảo hiểm để đảm bảo về mặt tài
chính và đặc biệt là về mặt tinh thần để họ có một tâm lý thoải mái nhất trong
chuyến hành trình của mình. Vì vậy mà tỷ lệ bồi thường đối với nghiệp vụ này là
tương đối thấp, và tỷ lệ lợi tức trên doanh thu cao.
Thực tế cho thấy ở các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh, Trung
Quốc, Hà Lan… thì bảo hiểm khách du lịch là một nghiệp vụ quan trọng. Tại Việt
Nam, tuy chưa được các công ty chú trọng nhưng nghiệp vụ này được đánh giá có
tiềm năng phát triển vì số lượng khách du lịch trong những năm gần đây tăng
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 15

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
nhanh do đời sống của người dân ngày càng cao, và Chính phủ cũng đã chú ý đến
việc xây dựng các điểm du lịch hấp dẫn, vì vậy doanh thu phí từ nghiệp vụ này có
xu hướng tăng lên đáng kể trong thời gian tới. Các công ty bảo hiểm nói riêng và
ngành bảo hiểm nói chung sẽ có thêm một nghiệp vụ chiến lược đóng góp vào sự
phát triển của toàn ngành.
1.3.3 Đối với ngành du lịch
Bảo hiểm du lịch ra đời góp phần hoàn thiện sản phẩm du lịch. Do nhu cầu an


Trang 16

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
1.4 Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm khách du lịch trong nước
Ngày 28/2/1987 quyết định số 69/TC-BH về việc triển khai bảo hiểm khách du
lịch trong nước và quyết định số 65/TC-BH ngày 7/4/1989 về việc ban hành quy
tắc nghiệp vụ bảo hiểm người nước ngoài du lịch tại Việt Nam. Quy tắc này đã tạo
điều kiện cho các công ty bảo hiểm mở rộng đối tượng khách hàng từ đó tăng
nguồn thu cho công ty bảo hiểm. Tuy nhiên nghiệp vụ bảo hiểm du lịch lúc này
vẫn chưa có được sự đồng nhất. Phải đến 02/01/1993 Bộ Tài chính ban hành quy
tắc thống nhất với đầy đủ các điều khoản qui định về biểu phí cho tất cả các đối
tượng khách gồm khách du lịch nội địa, khách nước ngoài du lịch tại Việt Nam và
khách Việt Nam du lịch ở nước ngoài. Tuy nhiên cho đến lúc này hoạt động kinh
doanh bảo hiểm vẫn còn yếu kém, doanh thu thấp và Bảo Việt độc quyền thị
trường.
Từ khi nghị định 100/NĐ-CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm, thị
truờng bảo hiểm Việt Nam đã có những bước tiến mới cùng với sự xuất hiện của
nhiều công ty bảo hiểm và nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới. Và bảo hiểm du lịch
cũng đã bắt đầu có những bước tiến đáng kể, lúc này thì bảo hiểm du lịch đã được
tách riêng độc lập với bảo hiểm con người, đáp ứng nhu cầu lớn của khách du lịch
cũng như tiềm năng phát triển của ngành du lịch trong tương lai.
Sau đó, tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI Luật Du lịch 2005 được thông
qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2006.
Tiếp theo đó, chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 92/2007/ND-CP ngày
01/6/2007 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch. Ở văn bản này quyền và
nghĩa vụ của công ty kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành và vấn đề mua bảo hiểm

đúng mức. Yêu cầu phải có một văn bản mới phù hợp với tình hình hiện tại quy
định những vấn đề liên quan đến bảo hiểm trong du lịch không chỉ đối với khách
du lịch trong nước mà còn cả khách quốc tế.
1.5 Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước
Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 và các Nghị định hướng dẫn, Thông tư hướng
dẫn thi hành luật đã quy định tương đối hoàn chỉnh về các nội dung của hợp đồng
bảo hiểm. Cụ thể như sau:
1.5.1 Hình thức hợp đồng
Theo Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự,
theo đó một hợp đồng dân sự có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết
bằng một hình thức nhất định. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng
phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký
hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó.
Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước phải lập thành văn bản. Việc quy
định như vậy nhằm ý nghĩa:
Thứ nhất, bảo hiểm khách du lịch trong nước là một hoạt động quan trọng có
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bên mua bảo hiểm cũng như
quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, nên những nội dung
quy định về nghĩa vụ cũng như quyền lợi của hai bên cũng như những điều khoản
khác phải được quy định một cách rõ ràng trong hợp đồng.
Một ý nghĩa khác, hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước được lập thành
văn bản giúp cho các bên làm căn cứ đối chiếu xác định trách nhiệm và quyền lợi
của họ khi xảy ra rủi ro hay hành vi vi phạm.
1.5.2 Chủ thể hợp đồng
Các bên tham gia trong hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng. Hợp đồng bảo
hiểm khách du lịch trong nước được ký kết trên sự thỏa thuận của hai bên, là
GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 18

Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước là tính mạng, sức
khỏe của khách du lịch. Theo đó, trong quá trình du lịch, khách du lịch gặp tai nạn
hay những tổn thương hay ốm đau trong phạm vi được bảo hiểm sẽ được doanh
nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bồi thường.
1.5.4 Nội dung hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và các doanh
nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho

13

Điều 3 khoản 5 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

GVHD: Đoàn Nguyễn Minh Thuận

Trang 19

SVTH: Trần Thị Ánh Thu


Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. 14 Hình thức hợp đồng bảo hiểm
phổ biến hiện nay là việc cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
Theo đó, hợp đồng bảo hiểm du lịch là sự thoả thuận giữa khách du lịch hoặc
các công ty du lịch với doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó du khách hoặc các công ty
du lịch có trách nhiệm đóng phí và các doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ trả tiền
bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm đối với những chi phí cần thiết và hợp lý
do hậu quả của tai nạn, ốm đau thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Theo quy định chung của Luật kinh doanh bảo hiểm, tại điều 13 thì hợp đồng
bảo hiểm phải có các nội dung sau:


Trang 20

SVTH: Trần Thị Ánh Thu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status