Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn tại huyện sơn động tỉnh bắc giang và biện pháp phòng trị - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN
ĐƯỜNG TIÊU HÓA, ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH
GIUN LƯƠN Ở LỢN TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG HẢI NAM

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN
ĐƯỜNG TIÊU HÓA, ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH
GIUN LƯƠN Ở LỢN TẠI HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 64 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan

THÁI NGUYÊN - 2017


Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện
giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Hải Nam


1
11

MỤC LỤC
LỜI
CAM
ĐOAN
.........................................................................................................i
LỜI
CẢM
ƠN..............................................................................................................ii
MỤC
LỤC
.................................................................................................................
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................................. v
DANH
MỤC
CÁC
BẢNG

2.4.1. Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa
của lợn tại Sơn Động ........................................................................................ 25


1

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn .......... 27
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun lươn cho lợn ...... 29
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu ...................................................................... 32
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.............................................................. 33
3.1. Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại Sơn Động ...
33
3.1.1. Kết quả điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho
lợn tại Sơn Động. .............................................................................................. 33
3.1.2. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn........................ 35
3.1.3. Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số địa phương thuộc
huyện Sơn Động ............................................................................................... 36
3.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn qua xét
nghiệm phân...................................................................................................... 39
3.2. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn....................................... 41
3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn .............................. 57
3.3.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện hẹp .......... 57
3.3.2. Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho lợn trên diện rộng ........ 58
3.3.3. Xác định khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng, ấu trùng giun
lươn của phương pháp ủ hiếu khí ..................................................................... 59
3.3.4. Nghiên cứu số lần dùng thuốc tẩy dự phòng bệnh giun lươn cho lợn. ... 61
3.3.5. Đ ề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh giun lươn cho lợn ....... 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ..................................................................................... 67
1. Kết luận ............................................................................................................. 67
2. Đề nghị .............................................................................................................. 68


Milimet

Nxb:

Nhà xuất bản

A.suum:

Ascaris suum

O. dentatum:

Oesophagostomum dentatum

S. ransomi:

Strongyloides ransomi

T. suis:

Trichocephalus suis


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun sán cho lợn tại Sơn
Động… ................................................................................................... ….33
Bảng 3.2. Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa
của lợn tại Sơn Động, tỉnh Bắc Giang......................................................... 35



1

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi
chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong
cơ cấu kinh tế của nước ta nói chung. Chăn nuôi góp phần giải quyết công ăn việc
làm, tạo ra các sản phẩm có giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thuận lợi
cho nhiều loại mầm bệnh phát triển, trong đó có các loài ký sinh trùng gây bệnh cho
vật nuôi. Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh truyền
nhiễm do vi khuẩn, vi rút, song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mạn tính,
làm lợn sinh trưởng, phát triển chậm, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí như thuốc
điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng. Nguy hiểm hơn, ký sinh trùng ký sinh còn làm
giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở đường cho nhiều loại vi khuẩn, vi rút
xâm nhập gây bệnh
Sơn Động là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang có lợi thế về đất đai và
có khí hậu khá phù hợp với chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Chăn nuôi
lợn góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo cho bà con nông dân trong
huyện. Nhiều hộ gia đình đã vươn lên làm giàu bằng nghề chăn nuôi lợn. Song,
trong nhiều năm qua dịch bệnh vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại đáng kể cho ngành
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng. Ngoài những bệnh truyền nhiễm
thường gặp ở lợn như bệnh dịch tả, bệnh tụ huyết trùng, bệnh phó thương hàn.... còn
phải kể đến các bệnh do ký sinh trùng đường ruột gây nên, trong đó có các bệnh do
giun tròn gây ra. Lợn bị nhiễm giun tròn thường gầy yếu, còi cọc, giảm sức đề
kháng và dễ mắc các bệnh khác. Mặt khác, theo nhiều tác giả, giun lươn ký sinh làm
lợn tổn thương nặng ở ruột non, đặc biệt là phần tá tràng, gây rối loạn nghiêm trọng

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856)
Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata,
1930) Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Acaris suum Goeze, 1782.
1.1.1.2. Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
Phạm sỹ lăng và cs (2011) [18] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở
đường tiêu hóa của lợn gồm:
TT

Loài

1

Trichocephalus suis Schrank, 1788

Ruột già

2

Ascaris suum Goeze, 1782

Ruột non



8

Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922

Ruột non

9

Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803)
Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et Alicata,
1930)

10

Vị trí ký sinh

Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925)
Baurgelatia diducta Railliet, Henry et Bauche, 1919

Ruột già

Ruột


1.1.1.3. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa
của lợn.
Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của lớp
giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes. Song, mỗi loài giun tròn đều có
những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài. Căn cứ vào những đặc điểm đó khi

* Loài Strongyloides papillosus
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], loài
Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:
- Con đực chưa được mô tả.
- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 0,078 mm. Lỗ miệng có 4 môi. Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm. Lỗ sinh dục có
rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm. Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục. Các
buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp. Đuôi mảnh, thon
nhỏ dần ở phía sau.
Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036
mm, trong trứng có ấu trùng.
1.1.3.3. Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết, các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía
trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi
đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
Trương Quốc Dũng (2011) [4] cho biết: Loài Oesophagostomum dentatum là
loài giun tròn nhỏ, nang miệng hình trụ, dài 0,017 - 0,023 mm, rộng 0,024 - 0,037
mm. Vành tia ngoài có 10 tia, vành tia trong kém phát triển. Thực quản không có
phần mở rộng phía trước. Hai núm bên phân bố đối xứng nhau.
Con đực: cơ thể dài 6,2 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm..
Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm. Trứng kích có
thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm.
1.1.3.4. Giun tóc (Trichocephalus suis)
Đối với đặc điểm hình thái của giun tóc Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18],
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: giun có màu trắng đục, giống một sợi
tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, thực quản có các tế bào xếp


thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột


* Vòng đời phát triển của giun đũa lợn
Đối với vòng đời phát triển của giun đũa lợn (Ascaris suum): hầu hết các tác
giả đều kết luận vòng đời phát triển của loài này không cần ký chủ trung gian.
Theo Phan Lục và cs (2003) [22], giun đũa ký sinh ở ruột non. Sau khi thụ
tinh, giun cái đẻ trứng, số lượng trứng từ 10.000 - 150.000 trứng/ngày. Tuy nhiên,
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết: giun
cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng.
Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24°C và độ ẩm
thích hợp, sau 2 tuần trong trứng hình thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột
xác. Lúc đó trứng đã trở thành trứng có sức gây bệnh. Lợn nuốt phải trứng này thì
ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít
chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, lột
xác thành ấu trùng kỳ II. Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày, hầu hết ấu trùng di hành tới
phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ờ phổi. Khi tới
phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III. Ấu trùng này từ mạch máu phổi chui
vào phế bào, qua khí quản rồi cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu, được nuốt
xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trường thành. Trong khi di
hành, một số ấu trùng có thể vào lách, tuyển giáp trạng, não... Hoàn thành vòng đời
cần 54 - 62 ngày. ( Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [15])
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng
của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hoá, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ
chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng. Nhưng nếu điều
kiện sống bất lợi ( ví dụ như ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ của giun ngắn hơn. Nguyễn
Thị Kim Lan, 2012 [15] cũng có kết luận tương tự.
* Vòng đời phát triển của giun lươn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho biết: giun lươn cái đẻ trứng ở ruột
non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong. Trứng ra ngoài sẽ phát
triển theo hai hướng:
- Trực tiếp: Vào mùa hè ấm áp, sau 5 - 6 giờ trứng nở ra ấu trùng giun lươn, 2

hậu môn vào hệ tuần hoàn, qua phổi rồi về ruột non.
- Nhiễm qua sữa: Ấu trùng ky III có thể xâm nhập vào tuyến sữa và theo
sữa gây nhiễm cho lợn con bú mẹ, ấu trùng này qua ruột non rồi phát triển thàn h
giun trưởng thành.


- Nhiễm qua nhau thai: Ấu trùng gây nhiễm sau khi vào cơ thể gia súc mang
thai ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước
khi sinh.
Lora R. Ballweber (2015) [46] cũng cho rằng ngoài đường tiêu hóa, da ấu
trùng giun lươn còn lây nhiễm qua bào thai, qua sữa đầu do đó lây nhiễm cho lợn
con trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
* Vòng đời phát triển của giun kết hạt
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15] cho biết:
Vòng đời phát triển của giun kết hạt thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung
gian. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp 25 - 27°C, sau 1 0 - 1 7 giờ
nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày phát triển thành ấu trùng gây
nhiễm. Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới
ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén. Trong u kén, ấu
trùng lột xác lần thứ 3, tới ngày 6 - 8 thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm
mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn
thành vòng đời tùy từng loài giun: O. coumbianum cần 32 ngày, O. venulosum cần
24 - 30 ngày, O. radiatum và O. dentatum cần 32 - 43 ngày.
* Vòng đời phát triển của giun tóc
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, vòng đời phát triển của giun
tóc diễn ra như sau:
Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ. Trứng theo phân ra ngoài, gặp
điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh.
Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ, ấu trùng được
nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành.

hố ủ phân nhiệt sinh học.
Nguyễn Trọng Kim (2001) [11] cho rằng: trứng giun lươn có thể sống ở nơi
đất ẩm 2 tháng.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: trứng giun lươn có khả năng phát
triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 30oC. Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển. Ở
trên 50oC và - 9oC trứng bị chết. Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2
tháng, không sống được ở nơi khô hạn.
Nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng giun tóc ngoài môi trường chăn nuôi
Sengupta M. E. và cs. (2011) [53], Liu G. H. và cs. (2012) [47], Nejsum P. và cs.


(2012) [49] cho biết: trứng Trichocephalus suis vẫn có thể phát triển trong nước thải
chăn nuôi chưa được xử lý tốt trong nhiều năm. Nếu nước thải này được sử dụng
tưới cho cây trồng sẽ là điều kiện tốt để trứng giun Trichocephalus suis phát tán ra
ngoại cảnh, nguy cơ lây nhiễm cho lợn và con người là rất cao.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [18], ấu trùng Oesophagostomum dentatum
có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở -19oC -29oC qua 10 ngày vẫn sống và sẽ chết
cũng để ở nhiệt độ -19oC - 29oC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu
trùng có thể sống 1 năm. Ấu trùng rất nhạy cảm với điều kiện khô ráo. Ở nhiệt độ
35oC trứng bị chết.

1.1.2. Những hiểu biết về bệnh giun
lươn
1.1.2.1. Những thiệt hại do bệnh giun lươn gây ra
Bệnh giun lươn (Strongyloidosis) là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở lợn,
bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở các tỉnh
phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập,1966 [20]; Nguyễn Hữu
Bình, 1996 [1]; Phan Thế Việt, 1977 [37]).
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa ở lợn nói chung và bệnh giun lươn nói
riêng không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, không làm cho lợn chết đột ngột, song

ransomi chỉ thấy ở lợn con dưới 01 tháng tuổi. Lợn con có thể nhiễm ấu trùng giun
lươn ngay từ 4 ngày tuổi qua sữa đầu.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15], bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật
non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun
trưởng thành. Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh.
Lora R. Ballweber (2015) [46] cho biết: Bệnh giun lươn là một bệnh ký sinh
trùng khá phổ biến của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ. Đồng thời tác giả cũng cho
biết, lợn ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới mắc bệnh nhiều.
Khi nghiên cứu về tỷ lệ lợn mắc bệnh giun lươn theo mùa vụ, đại đa số các tác
giả đều cho rằng bệnh xảy ra quanh năm, nhưng tập trung nhiều hơn ở mùa ấm
(xuân, thu, hè), bởi vào những mùa này thời tiết ấm áp, độ ẩm không khí tương đối
cao, thuận lợi cho ấu trùng giun phát triển và lây nhiễm cho súc vật non.
Điều kiện vệ sinh thú y không những liên quan mật thiết đến sự tồn lưu của
mầm bệnh ngoài môi trường chăn nuôi mà còn quyết định tỷ lệ lợn mắc bệnh.


Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [11], những cơ sở chăn nuôi có điều
kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp.
Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá
cao (30 - 65%).
Yếu tố strees: Các yếu tố strees (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh
dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi...) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và
tốc độ lây lan bệnh giun lươn ở lợn.
1.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh
Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng (trong trứng đã có ấu trùng)
qua phân ra ngoài ngoại cảnh. Chính vì vậy trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự
nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các ấu trùng có sức gây bệnh.
Đường xâm nhập vào cơ thể:
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [10], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15],
cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian. Ấu trùng có sức

tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì. Khi ấu trùng giun lươn xuyên qua da
để lại các vết đỏ trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ môi trường ngoài xâm
nhập vào cơ thể, gây nên các bệnh ghép với ký sinh trùng (Nguyễn Thị Kim Lan,
2012) [15].
1.1.2.4. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun lươn

* Triệu chứng:
Johanes Kaufmaun (1996) [44] cho biết: Những lợn bị nhiễm nhẹ thì không có
triệu chứng lâm sàng, những lợn bị nhiễm nặng có triệu chứng ỉa ra máu, thiếu máu,
gầy yếu và có thể chết đột ngột (đặc biệt là ở lợn con). Trong thời gian ấu trùng di
hành, con vật có triệu chứng ho, khó thở ảnh hưởng đến cơ làm cho con vật mệt
mỏi, vận động khó khăn, nặng có thể bị viêm cơ, cơ bị đau nhức, bụng đau và có
hiện tượng nôn mửa.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [17], khi bị ấu trùng giun lươn xâm nhập vào
phế nang, gây viêm phổi, lợn bị sốt (40 - 41,5oC), ho nhiều, khó thở.
Khi giun trưởng thành ký sinh ở niêm mạc ruột, vật chủ thường bị viêm ruột
non cấp. Vật bệnh ỉa chảy, trong phân có dịch nhày do niêm mạc ruột bị tróc ra và
có máu do xuất huyết. Khi bị bệnh nặng, súc vật non có thể bị chết do mất nước, rối
loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp. Tỷ lệ chết của lợn bệnh rất cao, có
thể tới 75% số lợn ốm.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15] cho rằng: Súc vật non nhiễm bệnh thể
hiện triệu chứng rõ rệt. Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần nhiễm bệnh rất nặng, chết tới
50%, con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm
da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng
viêm phổi (con vật ho). Triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày. Nếu nặng có thể chết.
Khi nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ rệt.


Lora R. Ballweber (2015) [46] cho biết: nếu ấu trùng xâm nhập theo đường da
có thể tìm thấy ấu trùng trong các mô trong cơ thể lợn, lợn bệnh có các triệu chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status