Thiết kế hệ thống bài tập tiếng việt 8 nhằm phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ của học sinh - Pdf 49

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NHƯ QUỲNH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: LL và PP dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS. LÊ A

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
nghiên cứu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất
kỳ hình thức nào. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách
nhiệm về nội dung luận văn của mình.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn

PHAN NHƯ QUỲNH

i

Trang bìa phụ
Lời cam đoan ................................................................................................... i Lời cảm ơn
......................................................................................................
......................................................................................................

ii

Lời
ii

cảm
Mục

ơn
lục

........................................................................................................... iii Danh mục chữ cái
viết

tắt..........................................................................

iv

PHẦN

MỞ

ĐẦU

............................................................................................. 1

2.3.1. Giới thiệu chung về hệ thống bài tập ..................................................... 31
2.3.2. Miêu tả hệ thống bài tập ........................................................................ 32
2.3.3. Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập ..................................................... 44
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM..................................................... 60
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ............................................................... 60
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm .......................................................... 60
3.3. Nội dung và cách thức thực nghiệm ........................................................ 61
3.4. Kết quả và nhận xét đánh giá .................................................................. 76
3.4.1. Kết quả thực nghiêm ............................................................................. 76
3.4.2. Nhận xét ............................................................................................... 78
PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................... 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

HS

Học sinh

THCS

Trung học cơ sở

TV

chiếm một vị trí vô cùng quan trọng: từ việc giới thiệu bài, hình thành kiến thức mới,
đặc biệt là luyện tập, giáo viên (GV) đều sử dụng các kiểu loại bài tập khác nhau.
Như vậy, bài tập là một phương tiện chủ yếu trong quá trình dạy học TV ở trường
phổ thông, nó vừa đảm đảm bảo cho việc tiếp thu lí thuyết lại giúp các em hình thành
những kĩ năng tương ứng.
1.2. Bài tập Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp bảo đảm cho quan điểm giao tiếp
được triển khai đạt hiệu quả
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp là một xu hướng hiện đại được rất
nhiều nước thực hiện và đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận. Tuy nhiên việc
dạy học ở ta còn nặng về dạy học kiến thức ngôn ngữ, quá tải với cả thầy và trò. Người ta
đã sai lầm khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là những khái niệm, tri thức và sản phẩm
của TV là hệ thống các khái niệm. Từ đó dẫn đến có một lớp người hiểu được TV
nhưng không thể sử dụng thành thạo nó trong giao tiếp. Tác giả Lê A trong bài viết “Dạy
Tiếng Việt là dạy một

1


hoạt động và bằng hoạt động” cho rằng: “Quá trình dạy học TV cho học sinh (HS) cần tổ
chức các hoạt động và nổi bật là dùng hoạt động ngôn ngữ để giao tiếp” [3, tr62]. Theo
quan điểm ấy ta xác định được nội dung dạy học TV là dạy giao tiếp, đích hướng tới là giao
tiếp và phương pháp hướng tới cho học sinh là hoạt động thông qua giao tiếp. Lí luận dạy
học hiện đại quan tâm đến năng lực của người học. Hiện nay trong công cuộc đổi mới toàn
diện trong đó có đổi mới mục tiêu môn học chương trình hướng vào năng lực. Điều đó có
nghĩa là xem học sinh phù hợp với năng lực nào, năng lực nào phù hợp với thực tế xã hội
đòi hỏi, trong đó xem năng lục nào là cần thiết, cốt lõi thì hình thành. Năng lực hoạt
động giao tiếp trở thành năng lực cơ bản trong dạy học môn TV. Lịch sử hình thành và
phát triển con người đều gắn với ngôn ngữ đặc biệt là trong các hoạt động mang tính chất
cộng đồng. Giao tiếp ở khắp mọi nơi, phổ biến rộng rãi vì vậy mà nó trở thành thứ quan
trọng thiết yếu với mọi người nói chung và với HS nói riêng. Dạy học TV theo quan điểm

chỉ mô phỏng kiến thức lí thuyết mà không thực hiện được mục tiêu dạy học TV trong
nhà trường. Trong quá trình dạy học, quan điểm giao tiếp phải được thấm nhuần trong
các khâu từ việc chuẩn bị bài, việc dạy lí thuyết và hướng dẫn HS thực hành luyện tập.
Đồng thời quan điểm giao tiếp cũng chi phối trực tiếp từ mục tiêu, nội dung, phương pháp
và khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập TV của HS. Thực tế cho thấy những nội dung vừa
trình bày chưa có sự hiện diện trong hệ thống bài tập TV 8, GV chỉ chú ý dạy lí thuyết, hệ
thống bài tập cũng được tuyệt đối triển khai giống như trong SGK mà không có sự bổ
sung, sáng tạo và linh hoạt. Phương pháp giao tiếp không được phát huy tác dụng trong
khi GV hướng dẫn HS thực hành luyện tập, các em không được trải nghiệm những tình
huống giao tiếp cụ thể, gần gũi trong cuộc sống cho nên giờ học chưa đạt được mục
tiêu quy chuẩn của giờ học. Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp GV phải đưa HS của
mình vào các tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các bài tập thực
hành

3


giao tiếp thì mới giúp các em phát triển được năng lực giao tiếp, đáp ứng nhu cầu của xã
hội hiện đại.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Tiếng Việt 8 từ các tài liệu dạy học đến cách dạy, cách học,
cách đành giá kết quả học tập cũng như kết quả học tập Tiếng Việt của học sinh.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống bài tập và việc triển khai hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếp trong
quá trình dạy học Tiếng Việt ở lớp 8.
3. Lịch sử nghiên cứu
3.1. Những nghiên cứu về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Tiếng Việt, với vai trò là một phân môn quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ

mạng để trình bày những vấn đề cần truyền đạt). Sau khi trình bày về các vấn đề trên, tác
giả nhấn mạnh: “Tri thức về tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực sự
vận dụng vào hoạtđộng giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ” [3,
tr65]. Có thể nói bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức các hoạt động dạy học,
lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học tiếng Việt theo quan điểm
giao tiếp. Cũng trong tạp chí Ngôn ngữ số
4/2001, Nguyễn Minh Thuyết trao đổi về Mấy quan điểm cơ bản trong việc biên soạn
SGK TV (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở. Bài viết này giới thiệu một số
quan điểm cơ bản trong việc biên soạn hai bộ sách trên: Quan điểm dạy giao tiếp; Quan
điểm tích hợp; Quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS. Mặc dù bài viết trên
đã được công bố cách đây nhiều năm, nhưng những quan điểm ấy vẫn còn có giá trị và
có thể áp dụng vào việc biên soạn SGK Ngữ văn, định hướng cho việc giảng dạy TV đúng
với mục tiêu

5


của phân môn này. Vấn đề giao tiếp cũng được Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San đề
cập trong giáo trình Tiếng Việt (tập 3, Nxb Giáo dục, 2002) với các nội dung cụ thể như:
Các chức năng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp: những sự biến đổi và chuyển
hóa. Vai trò của các quan hệ hệ thống trong hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc hệ thống và
quan điểm giao tiếp trong dạy - học tiếng Việt. Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San khẳng
định: “Quan điểm giao tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc trưng
bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. (…) Ngôn ngữ (…) cần phải hoạt động để
thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp, ngôn ngữ vừa là phương tiện,
vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao tiếp” [31, tr.231 - 232]. Bàn về “độ phổ
biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng: “Quan
điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học”
[27, tr114]. Về nội dung dạy học, quan điểm giao tiếp được thể hiện ở “Cách bố trí thời

bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn. Một trong số những người nghiên cứu về dạy
TV trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp – Lê Thị Bích Hồng – đã khẳng định sự
cần thiết phải sử dụng tình huống giao tiếp trong dạy Tiếng Việt: “Trong dạy học, để giúp
HS tích cực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt
động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy
nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, GV cần xây dựng
các tình huống giao tiếp” [10, tr32]. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra những định nghĩa
tương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định các đặc điểm cơ bản cũng
như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó,
tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy TV.
Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng

7


cho GV và sinh viên ngành giáo dục tiểu học) (Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị Ân, Nxb Giáo
dục, 2008) có đề cập đến vấn đề dạy học nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản theo quan
điểm giao tiếp. Do mục đích và giới hạn của giáo trình, những vấn đề về dạy nghĩa của từ,
câu, đoạn văn, văn bản ở đây chỉ dừng lại ở giới hạn dạy học cho HS tiểu học. Tuy nhiên,
người quan tâm vẫn có thể tìm thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạy
học các đơn vị mang nghĩa theo quan điểm giao tiếp cho HS trung học. Hoạt động giao
tiếp với dạy học Tiếng Việt ở tiểu học (Nxb Đại học Sư Phạm, 2009) là một giáo trình có
ích cho những GV, những người nghiên cứu quan tâm đến việc dạy TV trong nhà trường
như thế nào để có hiệu quả. Phan Phương Dung và Đặng Kim Nga đã nghiên cứu khá sâu
và rõ ràng những vấn đề về hoạt động giao tiếp trong việc dạy học TV ở tiểu học. Giáo
trình gồm ba chương: Chương một đề cập đến vấn đề giao tiếp và hoạt động giao tiếp;
chương hai xoáy sâu vào từ và câu trong hoạt động giao tiếp; chương ba – phần trọng
tâm, có ý nghĩa thực tiễn – Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Giáo trình đã
vạch ra hướng đi cụ thể cho hoạt động dạy học TV trong nhà trường theo quan điểm giao
tiếp: từ việc lựa chọn các tri thức TV, xác lập các quy tắc sử dụng TV đến việc xác định

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết về quan điểm giao tiếp và thực tiễn dạy học Tiếng Việt, kế
thừa những thành quả đã đạt được, luận văn xậy dựng và hướng dẫn thực hiện hệ thống
bài tập Tiếng Việt ở lớp 8 theo quan điểm giao tiếp nhằm góp phần nâng cao năng lực giao
tiếp của học sinh
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và triển khai hệ thống bài

tập

9


- Bài tập và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8
-

Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra và đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả

của hệ thống bài tập
5. Các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết là phương pháp phân chia các tài liệu
lí thuyết thành các đơn vị kiến thức, giúp nhà khoa học nắm được bản chất từng đơn vị
kiến thức và toàn bộ vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở kiến thức đã được phân tích, ta tổng
hợp chúng lại thành một hệ thống để thấy được mối quan hệ biện chứng của chúng với
nhau, từ đó giúp ta hiểu đầy đủ sâu sắc về lí thuyết đang nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tổng hợp lí thuyết trong chương 1, chương

điểm giao tiếp trong quá trình dạy học .Từ những nghiên cứu lí thuyết và việc khảo sát
thực tế chúng tôi lấy đó làm tiền đề vững chắc để bước vào nghiên cứu, thiết kế hệ thống
bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh.
Chương 2: Thiết kế và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo quan
điểm giao tiếp.
Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu nguyên tắc thiết kế bài tập, thiết
kế mô phỏng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài
tập ấy.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trong chương này chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 trường: Trung học
cơ sở (THCS) Bắc Sơn và THCS Phúc Thuận để kiếm chứng phần nội dung đã nghiên cứu ở
chương 2. Qua quá trình thực nghiệm chúng tôi đã thu được một số kết quả tương đối
khả quan: đa số học sinh học tập hăng hái, tích cực chủ động trong học tập; các em đã
thực sự thích thú khi được trải nghiệm những tình huống giao tiếp trong thực tế, kết quả
mà các em đạt được sau khi dạy học thực nghiệm nhìn chung là tương đối. Điều đó khẳng
định, việc

11


thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh là
đúng đắn, cần thiết và vô cùng hợp lí.
7. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Về lí luận: Góp phần làm sáng tỏ cho việc xây dựng và triển khai bài tập Tiếng
Việt theo quan điểm giao tiếp
- Về thực tiễn: Gợi ý cho giáo viên cách xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
Tiếng Việt ở lớp 8 có hiệu quả.

12


nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết. Câu hỏi được sử dụng phổ
biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong dạy học. Trong dạy học, câu hỏi mà giáo
viên đưa ra là vấn đề mà giáo viên đã biết, học sinh đã học hoặc dựa trên cơ sở những
kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh sáng tạo. Vì vậy câu hỏi trong dạy học
thường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng
cách cho học sinh tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra cách giải
quyết mới. Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là một nhiệm vụ đặt ra cho
HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả nhận thức
rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho học sinh. Về mặt hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu mà học
sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu cầu để giải quyết
bài tập. HS phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm ra yêu cầu xác đáng.
Môn học nào cũng vậy, để cụ thể hóa lí thuyết thì phải có thực hành. Đúng như cha
ông ta từ thời xa xưa đã có câu “học đi đôi với hành”, điều đó quả không sai. Trong quá
trình dạy học bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc và bền vững hơn; có tác dụng rèn
luyện, hình thành và phát triển kĩ năng kĩ xảo cho các em; đây là phương tiện giáo dục tốt,
có khả năng phát triển trí tuệ, tình cảm cho học sinh. Nếu chỉ có diễn xuông phần lí thuyết
thì GV không thể nào giúp cho HS hiểu được bản chất của vấn đề cần truyền tải. Trên
thực tế chúng ta cũng nhận thấy rõ ràng là tất cả các môn học người GV đều phải cụ thể
hóa phần lí thuyết mình dạy bằng bài tập hay một vài ví dụ cụ thể.
VD: Dạy bài: Trợ từ, thán từ
Để hình thành khái niệm về trợ từ, SGK đã trình bày và hướng dẫn học sinh thực
hiện các bài tập:
(1) Nghĩa của các câu dưới đay có gì khác nhau? Vì sao có sự khác nhau đó?
- Nó ăn hai bát cơm.

14


- Nó ăn những hai bát cơm.
- Nó ăn có hai bát cơm.

cách thuần thục trong hoạt động giao tiếp hằng ngày.
1.1.2. Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập.
1.1.2.1.Quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của
ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho HS. Dạy học TV dưới
ánh sáng của quan điểm giao tiếp được thể hiện ở việc vận dụng lý thuyết của quan điểm
giao tiếp vào quá trình dạy học.
Theo tác giả Lê A quan niệm:“Dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao tiếp, trong
và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh” [3, tr62].
Định nghĩa này đã đề cập tới ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học TV thể hiện ở “dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt
động giao tiếp” bởi TV là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để giao tiếp, khi nói tới
ngôn ngữ là nói tời hoạt động giao tiếp và ngược lại.
Thứ hai, bàn về cách thức dạy học ở trường phổ thông: “dạy học Tiếng Việt là
trong và bằng giao tiếp”. Xác định môi trường dạy học TV phải là môi trường giao tiếp vì
thế ngữ liệu và bài tập phải được lấy ra từ thực tiễn cuộc sống, là sản phẩm của giao tiếp
trong môi trường thực tiễn. Khi GV dạy học nên cho HS quan sát cụ thể tình huống, cho
các em thực hiện chính sự giao tiếp đó để HS trải nghiệm và tự rèn luyện TV cho mình. Dạy
học TV không phải nhiệm vụ độc tôn của phân môn TV, mà nó nằm ở trong tất cả các
môn học trong nhà trường. Môi trường giao tiếp thực tế là điều kiện vô cùng quan trọng,
GV cần phải phát huy kĩ năng sư phạm của mình để giờ dạy TV phải là giờ giao tiếp.
Dạy TV chính là hoạt động giao tiếp của HS, GV phải sử dụng TV tạo ra hoạt động giao
tiếp thực tế và môi trường giao tiếp đó phải tạo được hứng thú cho HS trong quá trình
học. Ngoài giờ học kiến thức trên lớp, GV cho

16


HS thực hành ngay tại lớp học hoặc trong môi trường giao tiếp cụ thể từ các buổi ngoại
khóa của trường.

đoạn văn sau:
Buổi sáng tinh mơ ngày chủ nhật Lan theo mẹ ra đồng gặt lúa. Cánh đồng
lúa vàng óng ả trong sương sớm. Gió thổi bông lúa đung đưa làm cho những hạt sương
dần rớt xuống. Xa xa, mấy bác nông dân lom khom gặt lúa.Trong làn sương mờ ảo Lan
nghe thấy người ta tíu tít nói chuyện với nhau.Tiếng cười hahả, hô hố từ xa vang
lại.Tiếng chim hót thánh thót.Lan thấy tâm hồn thật nhẹ nhàng.
Việc GV đã đưa học sinh vào một tình huống giao tiếp cụ thể có nhân vật giao tiếp có
đích giao tiếp từ phân tích giá trị của các từ tượng thanh, từ tượng hình trong tình huống
ấy giúp học sinh thấy Tiếng Việt đơn giản và gần gũi với các em hơn.
Hai là, quan điểm giao tiếp thể hiện trong cách thức xây dựng nội dung ngữ liệu
của bài tập gắn với thực tế giao tiếp
Khi thiết kế bài tập cho HS, GV nên xây dựng nhiều tình huống giao tiếp
cụ thể diễn ra xung quanh các em. Bắt nguồn từ những điều đơn giản trong cuộc sống,
từ cách nói năng, cư xử với mọi người trong xã hội, các mối quan hệ trong gia đình và ngoài
xã hội… tất cả có thể đưa vào trong nội dung bài tập để HS có thể hình dung và tiếp cận tri
thức lí thuyết về TV một cách nhanh chóng nhất. Trong khi xây dựng tình huống cho HS,
trước hết cần hướng tới mục đích của việc dạy TV là dạy giao tiếp, rèn kĩ năng sử dụng TV
trong đời sống hằng ngày. Sau khi đã xác định rõ mục tiêu ấy, chúng ta mới tính đếm đến
nội dung giao tiếp liên quan đến các tri thức lí thuyết trong SGK. Bài tập tình huống mà GV
xây dựng cho HS phải đưa các em đến một:
+ Hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: nói, viết trong hoàn cảnh nào; ở đâu; khi nào.
+ Nội dung giao tiếp cụ thể: nói, viết về cái gì;
+ Nhân vật giao tiếp cụ thể.

18


+ Phương tiện và cách thức giao tiếp cụ thể: nói, viết như thế nào; bằng phương tiện
gì.
VD: GV xây dựng tình huống cho HS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status