Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, Năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ LAN HƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NHẬT QUANG


thời gian tới ...............................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH

:

Biến đổi khí hậu


BVTV
CCN

:
:

Bảo vệ thực vật
Cụm công nghiệp

CHDCND
CNH-HĐH

:
:

Cộng hòa dân chủ nhân dân
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

CSC


Khu công nghiệp
Khoa học công nghệ
Khai thác thủy lợi

KTXH
MT
NĐ-CP

:
:
:

Kinh tế xã hội
Môi trường
Nghị định - Chính phủ

NN&PTNT
PCLB
PTNT
QĐ-CTN

:
:
:
:

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phòng chống lụt bão
Phát triển nông thôn

:

Tài nguyên nước
Tài nguyên và Môi trường
Thành phố
Tiến sĩ
Thông tư liên tịch - Bộ Tài nguyên Môi trường - Bộ
Nội vụ
Ủy ban nhân dân

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU


Bảng 1.1. Chức năng quản lý có liên quan đến tài nguyên nước của một số
Bộ/Ngành chính ........................................................................................................20
Bảng 2.2. Hàm lượng dầu mỡ quan trắc tại các hồ thủy lợi ....................................52
Bảng 2.3. Phân bổ ngân sách cho quản lý tài nguyên nước và khoáng sản tỉnh
Quảng Nam .............................................................................................................58
Bảng 2.4. Tỷ trọng lượng mưa mùa mưa ít và mùa mưa nhiều ..............................60
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Mạng lưới sông TP. Đà Nẵng Hình 2.2. Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn
...................................................................................................................................32

Hình 2.2. Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn .................................................... 32
Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu kinh tế Đà Nẵng năm 2015 ..............................................35
Hình 2.4. Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Nam qua các năm ............................32

MỞ ĐẦU




2


ngày càng tăng (theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế, dự kiến tăng
55% trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2030) sẽ gây ra những áp lực, thách thức
to lớn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững trên toàn cầu. Theo đánh giá
của nhiều cơ quan nghiên cứu về tài nguyên nước, hiện tại có khoảng 1/3 số quốc
gia trên thế giới bị thiếu nước và đến năm 2025 con số này sẽ là 2/3 với khoảng
35% dân số thế giới sẽ rơi vào tình cảnh thiếu nước nghiêm trọng. Hội nghị về nước
của Liên hiệp quốc vào năm 1997 đã thống nhất: “Tất cả mọi người, không phân
biệt tuổi tác, địa vị kinh tế, xã hội đều có quyền tiếp cận nước uống với số lượng và
chất lượng đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của mình”, theo đó, tiếp cận với nước
uống là quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, cho đến nay, số người thiếu nước
uống sạch an toàn vẫn đang không ngừng gia tăng. Vì vậy, mối lo về nước không
phải của riêng một quốc gia nào.
Cùng chung xu thế phát triển của thế giới, Việt Nam luôn khẳng định “nước
là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi
trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước” và vì vậy, Chính
phủ Việt Nam luôn nỗ lực tăng cường và kiện toàn thể chế, chính sách trong lĩnh
vực tài nguyên nước. Tầm quan trọng của tài nguyên nước đối với phát triển bền
vững đã có sự chuyển biến rõ rệt cả về nhận thức và hành động. Theo đó yêu cầu
đặt ra là phải quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng,
bảo vệ tài nguyên nước và phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
quản lý tài nguyên nước phải theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục tiêu và
phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác
Công tác quản lý tài nguyên nước không ngừng được tăng cường và đã có
những bước tiến quan trọng trong cơ cấu tổ chức ngành nước từ trung ương đến địa
phương với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường để thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tách chức năng quản lý khỏi chức năng cung

chính quyền và người dân chưa thực sự coi nước là tài nguyên có hạn cần phải sử
dụng tiết kiệm, hiệu quả.
Quảng Nam và Đà Nẵng có chung lưu vực sông Vu Gia- Thu Bồn và vùng
bờ Quảng Nam - Đà Nẵng. Tuy nhiên sự phối kết giữa hai địa phương trong công
tác quản lý và bảo vệ nguồn nước còn khá lỏng lẻo và chưa có sự đồng nhất, các
hoạt động phát triển kinh tế mạnh mẽ cùng với cách tiếp cận quản lý tài nguyên
nước chưa phù hợp đã làm suy giảm chức năng của lưu vực. Về mặt địa lý và địa
chính trị thì thành phố Đà Nẵng bị phụ thuộc rất lớn do Đà Nẵng nằm ở hạ lưu sông
Vu Gia trong khi đó Quảng Nam nằm ở thượng nguồn sông Vu Gia – Thu Bồn nên
việc khai thác sử dụng quản lý nước của Quảng Nam nếu không được xem xét một

4


cách cẩn thận và toàn diện trên toàn lưu vực và hai địa phương thì có thể có lợi cho
Quảng Nam nhưng lại bất lợi cho Đà Nẵng. Ví dụ điển hình là công trình Thủy điện
Đắk Mi 4 đã làm chuyển nước từ sông Vu Gia chảy về Đà Nẵng sang sông Thu Bồn
chảy về Quảng Nam gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho Đà Nẵng.
Hiện nay tại khu vực nghiên cứu đã ban hành các văn bản chính sách liên
quan đến tài nguyên nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức của cộng
đồng xã hội tham gia thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước được quan tâm chú
trọng. Bên cạnh đó có sự phân công, phối hợp rõ ràng, hợp lý giữa các cơ quan, đơn
vị tổ chức thực hiện chính sách về tài nguyên nước; góp phần nâng cao hiệu quả bảo
vệ và quản lý tổng hợp nguồn nước. Tuy nhiên bên cạnh những mặt đã đạt được,
công tác thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước trên địa bàn khu vực nghiên cứu
vẫn còn nhiều hạn chế, như: việc phân cấp quản lý, phân phối nguồn nước sử dụng
cho nông nghiệp giữa các đơn vị còn nhiều bất cập; cơ chế chia sẻ lợi ích và thể chế
quản lý tổng hợp nguồn nước lưu vực sông chưa thực sự hiệu quả. Tại vùng nghiên
cứu đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về vấn đề tài nguyên nước. Tuy nhiên các
đề tài, dự án nặng về tính học thuật trong tính toán thủy văn, thủy lực, từ đó đề xuất

TNN – Tình hình quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam làm rõ thực trạng TNN và
các hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyên nước tại Việt Nam để từ đó đề xuất các
giải pháp phù hợp để bảo vệ tài nguyên nước.
Tại khu vực nghiên cứu đã có rất nhiều đề tài, bài viết liên quan đến vấn đề
tài nguyên nước như:
Đề tài: Nghiên cứu cân bằng và Quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng bền
vững các nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam - năm
2002 của Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Đề tài đánh giá xác định hiện trạng, khai
thác sử dụng và tiềm năng các nguồn nước; Dự báo nhu cầu sử dụng nước cho sinh
hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và các nhu cầu khác theo quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2020;
Đề tài: Giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 - năm 2016 của Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Quảng Nam. Đề tài đánh giá được hiện trạng và sự biến đổi tài
nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ
tổng hợp tài nguyên nước đến năm 2030.
Dự án: Đánh giá toàn diện nhằm hướng đến khả năng chống chịu với biến
đổi khí hậu đối với nguồn tài nguyên nước thành phố Đà Nẵng năm (2012-2015).
của Viện Khoa học Thủy lợi miền Trung và Tây Nguyên. Dự án tiến hành nghiên
cứu xác định sự mất cân bằng giữa nguồn cung cấp và nhu cầu sử dụng nước, sự
tiếp cận nguồn nước trong bối cảnh các kịch bản về biến đổi khí hậu và phát triển
đô thị trong tương lai. Xác định các giải pháp thiết thực và bền vững nhằm đáp ứng
các nhu cầu về nước.
Dự án: Quan hệ tương tác giữa biến đổi khí hậu và sử dụng đất ở miền
Trung - Việt Nam năm (2010 – 2015) do Văn phòng LUCCI phối hợp với Viện
Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện nhằm xây dựng chiến lược quản lý tài

6




7


thiện, bổ sung chính sách và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ
nguồn nước của Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng và công cụ thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại
Quảng Nam – Đà Nẵng. Đánh giá thành công và hạn chế của việc thực hiện các
chính sách đó.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại Quảng Nam – Đà Nẵng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chính sách bảo vệ nguồn nước mặt
cho thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Trong khuôn khổ, luận văn không
nghiên cứu về chính sách bảo vệ nguồn nước ngầm.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: từ năm 2010 đến 2017 và dự báo đến 2030
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành, liên
ngành khoa học xã hội, trong đó chú ý nhiều đến tiếp cận thực hiện chính sách có sự
tham dự, tham gia của các chủ thể chính sách.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên
cứu lý thuyết và thực tế.

Quảng Nam để từ đó nâng cao hiệu quả của chính sách trong những năm tiếp theo.
- Góp phần cung cấp thêm các cơ sở khoa học cho Ủy ban nhân dân Tỉnh,
các Sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong quá trình thực hiện chính sách bảo
vệ nguồn nước để chính sách có thể mang lại hiệu quả trong việc phát triển kinh tế,
xã hội, bảo vệ nguồn tài nguyên nước của địa phương trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3
chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ
nguồn nước ở Việt Nam.

9


- Chương 2: Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại thành phố Đà
Nẵng và tỉnh Quảng Nam.
- Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.

CHƢƠNG 1

10


CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC Ở VIỆT NAM
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm nguồn nước
Cuộc sống thường ngày của chúng ta luôn được gắn liền với nước, từ những

Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội.
Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng
của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức
được gọi dưới cái tên “chính sách”. “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng
các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm
đạt tới mục tiêu mong muốn” [9, tr.6].
Mặc dù chính sách của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ
trở thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây. Sự phát triển
của nó gắn với một số (không nhiều) sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi
từ khi kết thúc thế chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề
cập lần đầu tiên từ năm 1951. Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển
mạnh mẽ, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chính sách, mỗi cách tiếp cận
liên quan trực tiếp tới tính đặc thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa… Mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng
tư duy. Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng
như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, dưới đây là
một số định nghĩa khác nhau về chính sách:
- Nhà chính trị học Mỹ - Theodore Lowi cho rằng: “Chính sách là cái biểu
hiện của chính trị” [27, tr.677].
- Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch
cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình
hình thực tế mà đề ra chính sách…” [33, tr.157].
Tóm lại, chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh
đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung thể
chế cho các hoạt động trong thực tiễn.
1.1.1.2.2. Chính sách công
Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công”
được gọi là chính sách công (CSC). Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần


công. Có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ nguồn nước là tập hợp các quyết định
của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn
đề về bảo vệ tài nguyên nước nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ nguồn nước cho
phát triển bền vững của đất nước.

13


1.1.2. Một số lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
1.1.2.1. Cơ sở lý luận thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
Nhà nước phải ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp
luật về bảo vệ nguồn nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt
động bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo vệ
nguồn nước đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử sự, hợp pháp của các chủ thể
pháp luật về bảo vệ nguồn nước, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà
nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về
bảo vệ nguồn nước.
Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước là quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ nguồn nước đi vào
cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước; bảo vệ,
phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước.
Chính sách bảo vệ nguồn nước được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ
chức quản lý tài nguyên nước cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã
hội, , tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội.
Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước rất đa dạng,
phong phú. Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước của nhà nước và hệ thống các
tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính
sách tài nguyên nước dưới nhiều hình thức khác nhau.
Các nguyên tắc về bảo vệ Tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3, Luật Tài

1.1.2.2. Quy trình thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước thông qua 7 bước cơ
bản. Mỗi một bước trong tổ chức thực hiện đều cần có sự đầu tư nghiêm túc, không
coi trọng bước này hay bước kia, nó có sự liên kết chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau.
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước là quá trình phức tạp lại diễn
ra trong thời gian dài, do đó cần phải xây dựng kế hoạch. Các cơ quan từ trung
ương đến địa phương đều phải xây dựng các kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ
nguồn nước. Nội dung của kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ nguồn
nước phải phù hợp, sát với tình hình thực tế của địa phương trên cơ sở Luật Tài
nguyên nước và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ nguồn nước
Đây là bước quan trọng, giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân
tham gia hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách bảo vệ nguồn nước cũng như

15


tính đúng đắn của các chính sách bảo vệ nguồn nước để họ tự giác thực hiện. Đồng
thời, giúp cho cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách bảo vệ
nguồn nước nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để
họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện.
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
Đa số các chính sách bảo vệ nguồn nước được triển khai thực hiện trong phạm
vi cả nước và có nhiều đơn vị tham gia, do đó cần phải có sự phân công, phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp để đem lại hiệu quả cao hơn và duy
trì sự ổn định của chính sách.
- Duy trì chính sách bảo vệ nguồn nước
Là hoạt động đảm bảo cho chính sách bảo vệ nguồn nước tồn tại và phát huy
được tác dụng trong môi trường thực tế. Để duy trì được chính sách bảo vệ nguồn

a) Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của
việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính
trị xã hội của quốc gia đó. Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ hơn
nữa. Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị [7, tr.90].
- Văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính
sách bảo vệ nguồn nước nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị
của những nhà hoạch định chính sách đặc biệt là chính sách bảo vệ nguồn nước
được xem là vấn đề văn hóa và đạo đức. Bảo vệ nguồn nước còn liên quan cả đến
phát triển bền vững bao hàm cả 3 yếu tố phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và
công bằng xã hội.
- Hiến pháp
Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng
chính sách công. Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính
sách công phải tuân theo. Do đó, chính sách bảo vệ nguồn nước cũng được xây
dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp. Những quy định của
chính sách bảo vệ tài nguyên nước cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được
vượt qua khỏi những quy định của pháp luật.
- Thể chế chính trị
Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ nguồn nước
và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng vẫn còn những hạn chế, bất
cập. Theo thống kê của Bộ Tư pháp (2014), hiện nay có khoảng 100 văn bản pháp
luật về bảo vệ nguồn nước để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt

17


động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất.
Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu

18


hưởng tiêu cực đến chất lượng, trữ lượng nguồn nước. Nhu cầu về nước ngày càng
tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Suy thoái,
cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến
hơn. Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn về bảo đảm an ninh nguồn nước cho
phát triển và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Sẽ khó khăn hơn nếu
chúng ta không có những cơ chế, chính sách để chia sẻ nguồn nước một cách hợp lý
và thay đổi cơ bản trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước.
1.1.3.3. Chủ thể và các bên liên quan trong thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền
lực như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý nhà
nước. Chính sách bảo vệ nguồn nước cũng là một trong những chính sách công của
nhà nước, do đó, chủ thể ban hành chính sách bảo vệ nguồn nước cũng là các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các đơn
vị sự nghiệp công lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý
đơn vị mình và tổ chức triển khai thực hiện.
a. Chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước
* Cấp Trung Ương:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước. Bộ Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên
nước, quản lý lưu vực sông trong phạm vi cả nước. (Theo Luật Tài nguyên nước, luật số
17/2012/QH13 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2013, trong chương VIII).

19


Bảng 1.1. Chức năng quản lý có liên quan đến tài nguyên nước của một số

môi trường nông thôn.

4

Bộ Công thương

5

Bộ Xây dựng

6

Bộ Giao thông

7

Bộ Y tế

8

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

9

Bộ Tài chính

Quy hoạch, xây dựng, vận hành và quản lý các
công trình thủy điện
Quy hoạch không gian đô thị và xây dựng các
công trình cấp thoát nước và vệ sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status