TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƢƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN MÔI TRƢỜNG XUNG
QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI – 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƢƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN MÔI TRƢỜNG XUNG
QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: ThS. Vũ Thị Tuyết
HÀ NỘI – 2018
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.................................................................. 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 5
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 5
7. Bố cục của khóa luận .................................................................................. 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ....................... 7
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ sở sinh lí học ..................................................................................... 7
1.1.1.1. Đặc điểm vùng bán cầu đại não........................................................... 7
1.1.1.2. Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn ................................. 8
1.1.2. Cơ sở tâm lí học ...................................................................................... 8
1.1.3. Cơ sở giáo dục học ................................................................................. 9
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................. 10
1.1.4.1. Khái niệm từ và vốn từ ....................................................................... 10
1.1.4.2. Đặc điểm của từ ................................................................................. 11
1.1.4.3. Phân loại từ ........................................................................................ 12
1.1.5. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn ................................................ 26
1.1.6. Khái quát về hoạt động làm quen môi trường xung quanh ............... 28
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 29
1.2.1. Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh ....... 29
1.2.2. Hình thức tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với môi trường xung
quanh .............................................................................................................. 35
1.2.3. Nội dung chương trình của hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen
môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình” ........................................... 37
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách con người. Việc thiếu quan tâm đến giáo dục mầm non
chính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện triển vọng cho trẻ em. Chính vì thế, hầu hết
các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một
mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người.
Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời”. Luật
Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục mầm non là giai
đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục Thái Lan nhấn
mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục
mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Còn theo ông
Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng
như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ
năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầm
non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn
phát triển đặc biệt quan trọng của não bộ trẻ.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước và toàn xã hội luôn quan tâm coi trọng
tầm quan trọng của giáo dục mầm non, coi giáo dục mầm non là một bậc học
cần thiết và bắt buộc phải có trong hệ thống giáo dục. Từ chỉ thị 53/CP của
Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12/8/1966 đã xác định mục tiêu của giáo dục mầm
non: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”.
Điều 22, luật giáo dục 2005 quy định mục tiêu của giáo dục mầm non
là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy
1
nhiệm vụ của trường mầm non là phát triển toàn diện cho trẻ, tạo điều kiện
cho trẻ có đầy đủ các năng lực, yếu tố để chuẩn bị cho hoạt động học tập ở
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non được tích hợp trong tất cả
các hoạt động chăm sóc, giáo dục. Một trong những hoạt động có hiệu quả
cao trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là hoạt động làm quen với môi
trường xung quanh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh
với chủ đề “Gia đình”.
2. Lịch sử vấn đề
Trẻ em luôn dành được nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và
xã hội; những vấn đề về trẻ em được các nhà nghiên cứu khoa học hết sức
quan tâm. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn
không còn là một đề tài mới mẻ nữa, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở
nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” nhà
xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên
cứu rất kĩ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở những đánh giá
chung về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ
của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra một số
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn
đề phát triển vốn từ cho trẻ. Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho các giáo viên và
sinh viên ngành mầm non cũng như các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.
Trong “Tạp chí ngôn ngữ số 3-4/1984”, ông còn có bài viết: “Phát triển năng
lực hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường”. Bài viết đã gây
được sự quan tâm của nhiều bạn đọc.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cung cấp những tri thức cơ bản về tiếng
Việt trong 2 tập “Tiếng Việt”, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2003; từ đó
giúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển
ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non.
3
4
nhiên cho đến thời điểm này, chưa có một ai và chưa có một công trình khoa
học nào đi sâu vào khai thác đề tài: Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm được cho mình một hướng đi riêng,
dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các biện pháp để phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh
với chủ đề “Gia đình” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ cho trẻ
mầm non.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6) tuổi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động làm quen môi trường xung
quanh với chủ đề “Gia đình”.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài.
- Đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích hệ thống hóa các tài liệu về sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ (đặc biệt là vốn từ), về việc tổ chức hoạt động làm quen môi trường
xung quanh của trẻ mẫu giáo lớn.
6.2. Phương pháp điều tra
vách rãnh trung gian bán cầu. Mỗi bán cầu đại não có một lớp chất xám dày 2
- 4mm bao xung quanh gọi là vỏ não. Vỏ não được chia làm 4 thùy chính:
Thùy trán, thùy chẩm, thùy đỉnh và thùy thái dương.
Chức năng của vỏ não:
Vỏ não là trung tâm của nhiều chức năng thần kinh quan trọng: Chức
năng vận động, chức năng cảm giác, chức năng giác quan, chức năng thực vật
và chức năng hoạt động thần kinh cao cấp. Vỏ não còn là trung tâm của các
hoạt động thần kinh cao cấp: Tư duy, tình cảm,…
Để nghiên cứu các vùng chức năng của vỏ não, người ta phân chia vỏ
não theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, cách phân chia vỏ não thành 50
vùng đánh số từ 1 đến 50 của Brodmann là thông dụng hơn cả. Bao gồm: Các
vùng giác quan: Vùng thị giác (thùy 17, 18, 19), vùng thính giác (vùng 22, 41,
42), vùng thị giác (vùng 43), vùng khứu giác (vùng 34), vùng cảm giác (vùng
1, 2, 3), vùng vận động (thuộc hồi trán lên), vùng lời nói (vùng Broca, vùng
Wernicke).
7
1.1.1.2. Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn
Bộ máy phát âm bao gồm: Phổi, hệ thống cơ hoành và khí quản; thanh
quản và dây thanh; khoang miệng (với các bộ phận cấu âm quan trọng như:
môi, răng, lưỡi, ngạc cứng, ngạc mềm); khoang mũi.
Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào bộ máy phát âm. Để dạy trẻ phát âm
đúng cần thường xuyên luyện tập một số cơ quan phát âm như: môi, lưỡi,
răng, sự phát triển linh hoạt của hàm. Giáo viên cần giúp trẻ biết điều chỉnh
nhịp nhàng các cử động của bộ máy phát âm.
Rất nhiều trẻ mẫu giáo lớn nói không rõ, từ này cộng với từ kia tạo
thành một tập hợp âm khó hiểu. Nguyên nhân là cử động chậm chạp của môi
và lưỡi, tính linh hoạt của hàm còn yếu, do đó miệng của trẻ há không to và
trực quan trừu tượng, sẽ cho trẻ hiểu những biểu diễn sơ đồ khái quát giúp
hình thành các khái niệm.
- Cả tư duy trực quan hành động lẫn tư duy trực quan hình tượng đều
liên hệ mật thiết với ngôn ngữ. Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ
nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm ra cách giải
quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn… Chính vì vậy
ngôn ngữ luôn gắn bó mật thiết, không thể tách rời cùng sự phát triển tư duy
của trẻ em.
1.1.3. Cơ sở giáo dục học
* Quan điểm giáo dục học hiện đại: Lấy trẻ làm trung tâm
Phát huy tính chủ thể của trẻ em là một nguyên tắc cơ bản chủ yếu
quyết định hiệu quả dạy học. Không có sự vận động từ bản thân chủ thể thì
mọi hoạt động từ phía cô giáo đều trở thành áp đặt. Kết quả của việc học chỉ
thực sự có được khi trẻ em tích cực và chủ động tham gia vào quá trình dạy học. Như vậy việc học của các em cần dựa trên nền tảng của hoạt động nhận
thức tích cực của chính các em, và đòi hỏi các em phải có được thái độ và tinh
thần chủ động sáng tạo như I.F.Kharlamop đã định nghĩa: “Tính tích cực là
trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động. Vậy tính tích
9
cực nhận thức là trạng thái hoạt động của trẻ em, đặc trưng bởi khát vọng
học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình lắm vững kiến thức”.
* Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường mầm non
Xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội, con người là một
tổng thể thống nhất, lại do sự phát triển của trẻ dưới 6 tuổi chưa tách bạch
thành các chức năng riêng biệt, nên trong quá trình dạy học không thể thực
hiện các tác động riêng lẻ, tách rời các nội dung cũng như các mặt giáo dục.
Do đó, tích hợp trở thành nguyên tắc cơ bản của giáo dục mầm non. Tích hợp
trong giáo dục mầm non được hiểu như một phương thức liên kết, xâm nhập,
Mình1 là chủ ngữ, mình2 là bổ ngữ nhưng hình thức chữ viết giống nhau.
Ta2 là chủ ngữ, ta1 là bổ ngữ nhưng hình thức chữ viết giống nhau.
b. Đặc điểm ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt không biểu hiện trong nội bộ từ mà
biểu hiện chủ yếu ở ngoài từ, trong tương quan của nó với các từ khác trong câu.
Tương quan này được khái quát hóa dưới ba khả năng:
- Khả năng kết hợp giữa từ đang xét với từ chứng.
Các từ chỉ tính chất, đặc điểm có thể kết hợp với những từ chứng rất,
hơi, khá, cực kì… (rất đẹp, rất hiền…). Những từ không có nghĩa tính chất,
đặc điểm thì không có khả năng này. Các từ chỉ sự vật có thể kết hợp với
những từ chứng như những, các, mọi… và các từ chỉ số khác (những học
sinh, năm cái bàn…).
- Khả năng làm thành phần trong câu như chủ ngữ, vị ngữ…
Trong tiếng Việt, động từ có khả năng làm vị ngữ trong câu, còn danh
từ cũng làm vị ngữ nhưng làm vị ngữ gián tiếp thông qua từ nối là.
So sánh:
Em bé chạy.
Tùng là sinh viên.
- Khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu.
Ví dụ:
Động từ ngoại động: gặt (lúa), đánh (giặc), làm (nhà)…
Động từ nội động: sôi, chảy, tan, chìm…
11
danh từ chỉ đơn vị hành động, sự việc.
12
Danh từ chỉ sự vật đơn thể: là những danh từ chỉ các sự vật có thể
tồn tại thành từng đơn vị đơn thể. Ví dụ: sách, quần áo, chó, lợn, cam…
Danh từ chỉ chất liệu: là những danh từ chỉ các chất, không phải
các vật. Ví dụ: nước, đường, sữa, sắt…
a.2. Động từ
* Đặc điểm của động từ
- Động từ có ý nghĩa khái quát là chỉ hoạt động, trạng thái (trạng thái
vật lí, sinh lí, tâm lí).
- Động từ có khả năng làm thành tố trung tâm trong cụm từ chính phụ, mà
các thành tố phụ tiêu biểu là các phụ từ. Ví dụ: đang xem ti vi, hãy đứng lên…
- Động từ đảm nhiệm được chức năng của các thành phần chính và
thành phần phụ trong câu.
Ví dụ:
Bé đang học. (động từ làm vị ngữ)
Bà tôi thích nghe hát quan họ. (động từ làm bổ ngữ)
Thi đua là yêu nước. (động từ làm chủ ngữ)
* Các tiểu loại động từ
Dịu dàng là đức tính của phụ nữ Việt Nam. (làm chủ ngữ)
* Các tiểu loại tính từ
- Tính từ có ý nghĩa tính chất tự thân có mức độ: xanh lè, đỏ au, trắng
toát, sâu hoắm…
- Tính từ có ý nghĩa tự thân không có mức độ: xanh, trắng, đỏ, gầy,
béo, nặng, nhẹ…
Ngoài ra, căn cứ vào ý nghĩa khái quát, có thể phân biệt hai loại tính từ:
- Các tính từ biểu hiện các đặc điểm về chất: chỉ màu sắc; chỉ kích thước,
hình dạng; chỉ mùi vị; chỉ tính chất vật lí; chỉ phẩm chất của sự vật; chỉ đặc
điểm tâm lí; chỉ đặc điểm trí tuệ; chỉ đặc điểm sinh lí; chỉ cách thức hoạt động.
- Các tính từ chỉ đặc điểm về lượng.
a.4. Số từ
* Đặc điểm của số từ
- Số từ có ý nghĩa khái quát chỉ số lượng hay thứ tự sự vật.
14
- Có khả năng kết hợp với danh từ làm thành tố phụ chỉ số lượng sự vật
(khi đó số từ đứng trước danh từ), hoặc chỉ thứ tự sự vật (số từ đi sau danh từ).
Ví dụ: tám tháng, tháng tám…
- Trong câu, số từ cũng có khả năng độc lập thực hiện chức vụ của các
thành phần câu, như làm vị ngữ, nhưng rất hạn chế.
Ví dụ: Dân tộc ta là một.
* Các tiểu loại số từ
- Số từ chỉ số: bao gồm các số từ chỉ số lượng xác định (một, hai, ba, trăm,
nghìn, tỉ…), và số từ chỉ số lượng không chính xác (dăm, mươi, dăm bảy…).
- Số từ chỉ thứ tự: cấu tạo y nguyên như số từ chỉ số hoặc có thêm yếu
tố thứ hay số. Ví dụ: Vua Hùng thứ mười tám, nhà số năm...
* Các tiểu loại phụ từ
Dựa vào từ loại của các từ chính mà phụ từ đi kèm, các phụ từ được
phân chia thành hai nhóm:
- Nhóm các phụ từ thường đi kèm danh từ: những, các, mọi, từng…
- Nhóm các phụ từ thường đi kèm động từ và tính từ:
+ Các phụ từ chỉ ý nghĩa thời gian; các phụ từ chỉ sự tiếp diễn tương tự;
các phụ từ chỉ ý khẳng định hay phủ định; các phụ từ chỉ ý mệnh lệnh; các
phụ từ chỉ mức độ; các phụ từ chỉ sự hoàn thành, chỉ kết quả, chỉ ý tự lực, chỉ
ý tương hỗ, chỉ sự phối hợp, chỉ cách thức thường đứng sau động từ.
a.7. Quan hệ từ
* Đặc điểm của quan hệ từ
- Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các
cụm từ, giữa các bộ phận câu hoặc giữa các câu với nhau.
- Quan hệ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính cũng như
thành tố phụ trong cụm từ. Chúng cũng không đảm nhiệm được chức năng
của các thành phần câu.
* Các tiểu loại quan hệ từ
Căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp mà quan hệ từ biểu thị, có thể phân
quan hệ từ thành hai nhóm: Các quan hệ từ biểu thị quan hệ đẳng lập, các
quan hệ từ biểu thị quan hệ chính phụ.
16
Trong thực tế sử dụng, các quan hệ từ có thể được dùng thành cặp để
liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là trong câu ghép: nếu (hễ, giá)…
thì, vì (tại, bởi, do)… nên, tuy (dù, mặc dù)… nhưng, không những… mà còn.
a.8. Tình thái từ
* Đặc điểm của tình thái từ
- Các tình thái từ là những từ biểu lộ thái độ tình cảm của người nói
đơn đa âm. Từ đơn đa âm có hai loại: từ đơn đa âm thuần Việt và từ đơn đa
âm vay mượn.
b.2. Từ láy
* Khái niệm
Là từ được cấu tạo theo phương thức láy, là phương thức lặp lại toàn bộ
hay bộ phận hình thức ngữ âm của một hình vị gốc để tạo ra một từ mới.
Ví dụ: Xinh => xinh xinh, đẹp => đẹp đẽ, luẩn => luẩn quẩn.
* Phân loại
Căn cứ vào số lần láy, người ta chia từ tiếng Việt thành từ láy đôi, từ
láy ba và từ láy tư.
- Từ láy đôi: Từ láy đôi có hai loại:
+ Láy hoàn toàn: Ví dụ: xanh xanh, xa xa, oang oang. Loại này có hai
dạng biến thể là láy toàn bộ có biến thanh (ví dụ: đu đủ, nhè nhẹ…) và láy
toàn bộ có biến thanh, vần (ví dụ: đèm đẹp, chan chát, rừng rực…).
+ Láy bộ phận: Ví dụ: dễ dãi, mập mạp, lò dò… Người ta chia từ láy bộ
phận thành láy âm và láy vần.
- Láy ba: Loại này trong tiếng Việt không nhiều. Ví dụ: sạch sành
sanh, tẻo tèo teo, cuống cuồng cuồng, khít khìn khịt, dửng dừng dưng…
- Láy tư: Là sản phẩm của lần láy thứ hai.
Khểnh => khấp khểnh => khấp kha khấp khểnh
b.3. Từ ghép
* Khái niệm
Là từ được cấu tạo theo phương thức ghép, là phương thức kết hợp hai
hoặc hơn hai hình vị lại với nhau để sản sinh ra một từ mới.
Ví dụ:
nhà + cửa => nhà cửa
18