VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ
Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM OANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ
Y TẾ ĐỐI VỚI TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Ngành: Công tác xã hội
Mã số: 876 01 01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2018
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y
tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho ................................................................... 51
Chƣơng 3. ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG
TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VỀ GIÁO DỤC VÀ Y TẾ ĐỐI VỚI
TRẺ EM DÂN TỘC KƠ HO TẠI HUYỆN LÂM HÀ .............................. 60
3.1. Định hướng tăng cường công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng ................... 60
3.2. Giải pháp tăng cường công tác xã hội trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng ................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTV
Cộng tác viên
CTXH
Công tác xã hội
DTTS
Dân tộc thiểu số
NVXH
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em có vai trò đặc biệt quan trọng đối với gia đình và xã hội. Người
Việt Nam vốn có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu. Con cháu không
chỉ là nguồn hạnh phúc mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước
mơ, niềm tin và sự hãnh diện. Tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng được chăm
sóc, dạy dỗ đáp ứng những nhu cầu cơ bản của trẻ để trở thành những đứa con
tương lai của đất nước. Trẻ em dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa đang
phải sống trong cảnh nghèo khổ, thiếu thốn các nhu cầu cơ bản, và hầu hết
đang phải sống tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em. Các dân tộc có quan hệ lâu đời trên
nhiều lĩnh vực trong quá trình cùng tồn tại và phát triển. Đảng và Nhà nước ta
luôn coi việc xây dựng quan hệ đoàn kết, bình đẳng hữu nghị giữa các dân tộc
là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam,
Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc
và chính sách dân tộc, phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc, truyền
thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu độc độc lập, thống nhất
tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Bước sang thời kì
mới, của sự nghiệp xây dựng đất nước, nhân dân ta càng có điều kiện tốt hơn
để tăng cường mở rộng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, động viên cao sức mạnh dân tộc để thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Tuy nhiên, vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc và chính sách
dân tộc là những vấn đề rất lớn, phức tạp và nhạy cảm. Nhiều nội dung của
vấn đề này đang cần được nghiên cứu, cả về lý luận và thực tiễn. Từ trước
đến nay, những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế
1
giới cũng như trong nước luôn nóng, được nhiều người, nhiều nhà nghiên cứu
những vấn đề mang tính chất cá nhân, nhóm đối tượng đặc thù. Đối với đồng
bào DTTS, các hoạt động hỗ trợ phần lớn tập trung vào mục tiêu giải quyết
nghèo đói, phần khác hướng đến các hoạt động khuyến khích con em DTTS
đi học, và đi học đều, không bỏ học, phần khác hướng đến việc tuyên truyền
bà con trong công tác phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, các hoạt động này
chưa mang tính chuyên nghiệp, chưa mang màu sắc CTXH, hiệu quả đem lại
chưa cao. Trên thế giới CTXH là một nghề có lịch sử khá lâu đời, tuy nhiên
tại Việt Nam, CTXH mới được công nhận là mọt nghề chuyên nghiệp vào
năm 2010. Do đó, để người dân nói chung và DTTS, trẻ em DTTS nói riêng
được hỗ trợ hiệu quả và chuyên nghiệp, CTXH cần tham gia với các ngành và
lĩnh vực khác, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội thông qua các phương
pháp công tác xã hội nhằm hỗ trợ, nâng cao đời sống của người dân trên mọi
phương diện đặc biệt là đối với trẻ em dân tộc thiểu số. Trong khuôn khổ luận
văn này, tác giả muốn hướng các nghiên cứu đến các hoạt động CTXH trong
hỗ trợ trẻ em DTTS Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Trẻ em ở các
xã có dân tộc thiểu số ở huyện Lâm Hà bỏ học khá sớm và khá phổ biến ảnh
hưởng không nhỏ đến điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trên địa bàn
tỉnh nhà, trước mắt và lâu dài. Vấn đề về y tế cũng vậy, rất ít được quan tâm
nên việc tiệp cận các dịch vụ y tế còn rất hạn chế.
Công tác xã hội với trẻ em dân tộc thiểu số là lĩnh vực khoa học còn
khá mới, nghề công tác xã hội đang được chú ý và coi trọng trong vấn đề giúp
đỡ các đối tượng yếu thế gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là về giáo
dục và y tế. Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội
trong hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho từ thực tiễn
3
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực
trạng việc hỗ trợ về giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện
Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng và những nguyên nhân, yếu tố tích cực và tiêu cực
những giải pháp nâng cao vai trò của phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối
người đồng bào dân tộc thiểu số [32].
- Nghiên cứu của tác giả Vũ Thanh Thủy, 2017, về “Công tác xã hội
nhóm đối với sinh viên dân tộc thiểu số từ thực tiễn trường Cao đẳng sư phạm
Lào Cai” nghiên cứu đã chỉ ra việc hình thành và phát triển kỹ năng, trọng
tâm là kỹ năng giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số Trường Cao đẳng sư
phạm Lào Cai là một vấn đề cấp bách hiện nay cả về lý luận và thực tiễn [40].
- Nghiên cứu của nhóm tác giả Lưu Quang Tuấn, Đặng Đỗ Quyên,
Nguyễn Thị Hải Yến, 2013, về “An sinh xã hội cho dân tộc thiểu số – Tổng
quan từ chính sách, nghiên cứu và dữ liệu sẵn có” của Viện Khoa học , Lao
động và xã hội đã chỉ ra các điểm tích cực và hạn chế của chính sách an sinh
xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số [35]. Đặc biệt, nghiên cứu trên đã
đưa ra một vài số liệu cụ thể về tình trạng nghèo đói, trình độ giáo dục của trẻ
em đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như mức độ bao phủ của BHYT và mức
độ tiếp cận các dịch vụ xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Từ các
nghiên cứu trên nhóm tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp
mang tính vĩ mô nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả cho việc thực thi các
chính sách an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
- Báo cáo tóm tắt Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2012) “Đánh giá thực
trạng khả năng và cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội của nhóm người nghèo, đối
tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là tại các vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc
thiểu số” của Viện Khoa học, Lao động và Xã hội, đã nghiên cứu về cơ sở lý
5
luận và thực tiễn về khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo
tại vùng đồng bào DTTS và miền núi; đánh giá thực trạng khả năng tiếp cận
dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo tại vùng đồng bào DTTS và miền núi
[2]. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải các vấn đề lý luận về CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc, trong đó có trẻ em dân tộc Kơ Ho.
- Phân tích thực trạng hoạt động CTXH trong hỗ trợ về giáo dục và y tế
đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;
- Đề xuất các khuyến nghị và giải pháp về hoạt động CTXH trong hỗ
trợ về giáo dục và y tế cho trẻ em dân tộc Kơ Ho nói riêng và trẻ em dân
tộc thiểu số nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Công tác xã hội trong hỗ trợ về
giáo dục và y tế đối với trẻ em dân tộc Kơ Ho.
- Khách thể nghiên cứu:
+ Các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho có con trong độ tuổi đi học từ 3 đến
16 tuổi trên địa bàn huyện Lâm Hà;
+ Lãnh đạo huyện Lâm Hà, đại diện Hội Phụ nữ huyện Lâm Hà, đại
diện Ban Dân tộc huyện Lâm Hà; các trưởng thôn tại các thôn có đông hộ gia
đình dân tộc Kơ Ho sinh sống thuộc huyện Lâm Hà.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
7
4.2.1. Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện
Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
4.2.2. Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ tháng 03/2018 đến hết tháng
7/2018.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
trấn tập trung đông các hộ gia đình dân tộc Kơ Ho nhất huyện Lâm Hà: thị
trấn Đinh Văn, xã Đạ Đờn, xã Đan Phượng;
Cỡ mẫu định lượng: 120 hộ gia đình được phân theo điều kiện kinh tế
và trình độ học vấn, cơ cấu như sau:
- Theo điều kiện kinh tế: hộ nghèo chiếm 42%; hộ cận nghèo chiếm
19%, hộ có trẻ khuyết tật chiếm 2% và các hộ thuộc diện khác chiếm 37%.
- Trình độ học vấn: Không biết chữ chiếm 50%; Trình độ tiểu học
chiếm 36%; trình độ trung học chiếm 12%; Trình độ Trung cấp chiếm 0%;
trình độ cao đẳng chiếm 1% và trình độ đại học chiếm 1%
Phương pháp phỏng vấn sâu : Để thu thập thông tin định tính, trong
đề tài này tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 07 người trong đó: 02 lãnh đạo
huyện, 01 người chủ tịch hội phụ nữ huyện, 01 người ban dân tộc huyện, 03
người trưởng thôn, bản tại 03 thôn, bản vùng dân tộc thiểu số sinh sống (thôn
Tân Lập thuộc xã Đan Phượng, thôn Đam Pao thuộc xã Đạ Đờn và thôn
Ryông Sré thuộc thị trấn Đinh Văn)
Phương pháp quan sát: Phương pháp quan sát là phương thức cơ bản để
nhận thức sự vật, hiện tượng. Nó được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
và trong nhiều giai đoạn như tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng
công tác xã hội với trẻ em dân tộc Kơ Ho tại địa phương. Mục đích của quan sát
9
để hiểu về những khó khăn của trẻ em dân tộc Kơ Ho trong cuộc sống, học tập,
sinh hoạt…
Phương pháp xử lý dữ liệu: Đối với dữ liệu định tính của phỏng vấn sâu
tác giả dùng phương pháp tổng hợp, phân tích… Sử dụng công cụ SPSS 16.0
để xử lý các bảng hỏi đã thu thập từ trẻ, phần mềm excel để vẽ biểu đồ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Đóng góp về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý
dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1).
Luật Trẻ em của Việt Nam năm 2016 quy định: Trẻ em là người dưới
16 tuổi (Điều 1).
Dân tộc thiểu số:
Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch
sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước. Trong xã
hội nguyên thủy đã có thị tộc, bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó
với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ,
cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con người
cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như ngôn ngữ, văn hóa vật
chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hóa
tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng
đồng người cũng có sự tiến hóa: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao,
kết quả là hình thành nên tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta
thấy hiện nay.
11
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “dân tộc thiểu số”, ví dụ
năm 1930, Tòa án Công lý quốc tế thường trực (Permanent Court of
International Justice - PCIJ, cơ quan tài phán của Liên hợp quốc), đưa ra ý
kiến tư vấn về vụ tranh cãi giữa hai nước Hy Lạp và Bungari liên quan đến vị
thế của các cộng đồng nhập cư thiểu số ở hai nước này. PCIJ xác định một
cộng đồng thiểu số là “một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc địa
phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng,
ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống
nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín
ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và
truyền thống của chủng tộc họ” [43, tr.8].
hiện đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, có tín ngưỡng, văn hóa, ngôn
ngữ, truyền thống đặc trưng, riêng biệt và mang tính kế thừa sâu sắc.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả giới hạn nghiên cứu nhóm trẻ
em trong độ tuổi đến trường (3-16 tuổi), là con em dân tộc thiểu số Kơ Ho
hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Nhìn chung, cuộc sống của đồng bào DTTS nói chung và đồng bào Kơ
Ho nói riêng hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn, trong những năm gần đây, nhờ
sự quan tâm của Đảng và nhà nước, cuộc sống của đồng bào DTTS phần nào
đã được cải thiện, đối với đồng bào dân tộc Kơ Ho tại huyện Lâm Hà nói
riêng, cuộc sống đã ổn định hơn, một số nhu cầu cơ bản đã được giải quyết.
Tuy nhiên, để các gia đình có thể ổn định và phát triển, đồng bào và trẻ em
dân tộc Ko Ho vẫn cần nhận được những hỗ trợ trong việc tiếp cận các dịch
vụ xã hội, cụ thể ở đây là các dịch vụ y tế và giáo dục.
13
Nhóm trẻ trong độ tuổi từ 3 – 16 tuổi là nhóm trẻ cần nhận được sự
quan tâm của xã hội vì trong giai đoạn này các em tách khỏi vòng tay gia đình
và bước sang giai đoạn tham gia vào xã hội thông qua môi trường giáo dục, vì
vậy, việc trẻ em trong độ tuổi này được tiếp cận với các dịch vụ giáo dục là
rất quan trọng, đặc biệt đối với trẻ em dân tộc thiểu số. Môi trường giáo dục
có thể giúp trẻ em DTTS thu thập được những kiến thức, văn hóa, nhận thức
khác so với văn hóa, truyền thống mà trong gia đình các em được truyền đạt
lại, giúp các em có cái nhìn đa dạng hơn, phát triển toàn diện hơn và hòa nhập
nhanh hơn với xã hội nói chung cũng như các nhóm dân tộc khác nói riêng.
Bên cạnh đó, tiếp cận các dịch vụ giáo dục còn giúp các em, đặc biệt trẻ
trong độ tuổi vị thành niên tránh xa được các tệ nạn xã hội, có khả năng nhận
biết được mặt tối và mặt sáng của xã hội để không bị lôi kéo vào con đường
phạm tội.
Trẻ em luôn là đối tượng được pháp luật bảo vệ tuyệt đối và Nhà nước,
quần áo mặc cần được đáp ứng đầy đủ. Đối với các gia đình có mức sống
trung bình – khá, thì chỉ tiêu dinh dưỡng, nhà ở và điều kiện sinh hoạt cho trẻ
không gặp nhiều trở ngại. Nhưng với kết quả khảo sát 3 xã, thị trấn, có tới
50% số hộ gia đình tham gia khảo sát thuộc diện hộ nghèo và có khoảng gần
20% thuộc diện cận nghèo. Bên cạnh đó, đa số các hộ gia đình có trung bình
từ 2 đến 3 con đều trong độ tuổi đi học, khiến gia đình gặp nhiều khó khăn
trong việc đáp ứng đầy đủ dinh dưỡng và điều kiện sinh hoạt, vật chất cho các
em, ảnh hưởng đến chất lượng sức khỏe và sự phát triển về thể chất, cũng như
ảnh hưởng đến tình trạng theo học của các em tại trường. Đây cũng là một
khía cạnh cần được lưu tâm trong hoạt động hỗ trợ trẻ đến trường, vì có thể là
một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ không theo học thường
15
xuyên và bỏ học. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, trẻ cần được vui chơi, và
cần nhận được quan tâm, yêu thương từ gia đình, nhà trường cũng như toàn
xã hội. Tuy nhiên, do đa số các gia đình dân tộc Kơ Ho còn nghèo, đông con,
nỗi lo về cơm ăn, áo mặc hàng ngày luôn thường trực, cha mẹ quá bận bịu với
công việc và bản thân các em cũng tham gia lao động giúp cha mẹ từ rất sớm,
khiến nhiều em không nhận được sự quan tâm đúng đắn về mặt tinh thần,
khiến các em khó bộc lộ, diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc. Các NVXH cần chú
ý đặc điểm này trong quá trình làm việc với các em và gia đình để tìm ra cách
giải quyết dựa theo nhu cầu và mong muốn của trẻ. Ngoài các nhu cầu cơ bản
về dinh dưỡng, nhà ở, vui chơi, yêu thương, các em còn có hai nhu cầu quan
trọng khác nữa là nhu cầu y tế và giáo dục. Đây cũng là hai nhu cầu mà trong
khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn đề cập đến theo quan điểm CTXH.
Trẻ em trong độ tuổi từ 3 – 16 tuổi có nhu cầu rất lớn về giao tiếp xã
hội. Thông qua nhà trường, các em dần mở rộng các mối quan hệ và tìm hiểu
các khía cạnh cuộc sống bên ngoài môi trường gia đình, làng bản. Môi trường
giáo dục không chỉ giúp các em trưởng thành về mặt nhận thức mà còn chi
Trước hết, Công tác xã hội theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc gia
NVCTXH Mỹ (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ
các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng
của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội
phù hợp với các mục tiêu của họ.
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
17
họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con
người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa
con người và môi trường của họ.
Theo Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết
hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn
đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một
xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến [41].
Như vậy, CTXH trước hết là một nghề chuyên nghiệp, là một khoa học
ứng dụng trong việc hỗ trợ con người giải quyết các vấn đề của họ trong cuộc
sống, góp phần vào việc thúc đẩy công bằng, hạnh phúc cho người dân nói
chung và cho những đối tượng yếu thế nói riêng.
Trong khuôn khổ luận văn này, CTXH trong trợ giúp trẻ em DTTS Kơ
Ho tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục là những hoạt động thiết thực như
kết nối, trợ giúp, giáo dục, ttham vấn,….nhằm giúp cho ttrer em Kơ Ho có
thể khắc phục được những khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáp dục,
nâng cao năng lực tiếp cận các dịch vụ này cho trẻ và gia đình, bảo đảm cho
trẻ em Kơ Ho được hưởng những quyền liên quan đến giáo dục và y tế nhưng
- Để thân chủ chủ động tham gia vào tiến trình trợ giúp: trong trường
hợp này, trẻ em Kơ Ho mang vai trò chủ đạo trong suốt quá trình hỗ trợ của
NVXH, các NVXH sẽ cùng gia đình hỗ trợ và đồng hành cùng các em. Và để
các em cảm thấy thoải mái khi tham gia tiến trình trợ giúp, NVXH phải luôn
là người lắng nghe, thấu hiểu để nắm bắt được những suy nghĩ, mong muốn,
những vấn đề mà các em gặp để giúp các em tìm ra cách giải quyết, tạo dựng
niềm tin cho trẻ.
19