BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM VĂN NGUYÊN
GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
1
Hà Nội, 2017
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM VĂN NGUYÊN
GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐG
: Bình đẳng giới
BLGĐ
: Bạo lực gia đình
CĐ
: Cộng đồng
CNVC
: Công nhân viên chức
CTXH
: Công tác xã hội
GDCĐ
: Giáo dục cộng đồng
HĐVN, VHQC
: Hoạt động văn nghệ, văn hóa quần chúng
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính lịch sử toàn cầu, gây nhức nhối
cho nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối
với phụ nữ. Bước sang thế kỷ XXI, phòng, chống bạo lực giới đang là một
trong những mục tiêu của thiên niên kỷ. Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki
Moon đã tuyên bố: "Bạo lực đối với phụ nữ là không bao giờ được chấp nhận,
không bao giờ được khoan dung, tha thứ..."
Riêng ở Việt Nam trong những năm gần đây, bạo lực gia đình diễn ra
với tính chất ngày càng nghiêm trọng, có gia tăng nhanh chóng đối tượng vi
phạm cũng như nạn nhân ở khắp các vùng, miền trong cả nước”. Bạo lực
trong gia đình đối với phụ nữ không những làm tổn thương, tổn hại đến sức
khoẻ, thể xác, tinh thần của chính người phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến cuộc
sống của những người xung quanh như trẻ em, người thân khác trong gia đình
và gây ra nhiều hậu quả cho xã hội.
Giáo dục cộng đồng là một trong những nội dung hoạt động chính của
công tác phát triển cộng đồng, một phương pháp đã được nhiều nước sử dụng
như một công cụ quan trọng trong thay đổi nhận thức từ đó thay đổi hành vi
của người dân trong cộng đồng nhằm giải quyết những vấn đề xã hội của
cộng đồng như môi trường, bất bình đẳng, kỳ thị với nhóm yếu thế, trong đó
có bạo lực gia đình. Hiện nay một số các chương trình như phát triển nông
lực gia đình đối với phụ nữ trong cộng đồng trên địa bàn thị xã Sông
Cầu” nhằm đánh giá thực trạng công tác phòng chống bạo lực gia đình tại địa
phương từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao nhận thức và thay
đổi hành vi của người dân trong cộng đồng liên quan tới phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ.
11
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục phòng, chống bạo lực gia đình
đối với phụ nữ trong cộng đồng từ đó đưa ra những giải pháp tổ chức giáo dục
phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trong cộng đồng trên địa bàn thị xã Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong
cộng đồng trên địa bàn thị xã Sông Cầu.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã: Xuân Thịnh, Xuân
Phương, Xuân Lâm của thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
4. Giả thiết khoa học
Hiện nay, tình hình bạo lực gia đình đối với phụ nữ diễn ra hết sức
nghiêm trọng và ngày càng gia tăng trên địa bàn thị xã Sông Cầu. Một trong
những hiện tượng đó là do thiếu các hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực
gia đình đối với phụ nữ trong cộng đồng. Nếu đề xuất được các giai pháp tổ
chức hoạt động giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong
cộng đồng trên địa bàn thị xã Sông Cầu một cách chặt chẽ, đồng bộ thì sẽ
nâng cao chất lượng giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở
địa phương.
20 cán bộ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Nhằm thu thập kinh nghiệm của
các xã, phường của thị xã Sông Cầu về việc quản lý công tác giáo dục phòng
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
7.3. Nhóm nghiên cứu thống kê toán học
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê toán học nhằm xử lí
những số liệu thu được từ thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa
13
bàn thị xã Sông Cầu. Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá, lí giải
nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao công tác giáo dục
phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong cộng đồng trên địa bàn thị
xã Sông Cầu.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối
với phụ nữ trong cộng đồng.
Chương 2. Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên địa bàn thị
xã Sông Cầu.
Chương 3. Giải pháp giáo dục phòng chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ trong cộng đồng trên địa bàn thị xã Sông Cầu
14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Tổng quan nghiên cứu
một số quốc gia có thu nhập trung bình, chẳng hạn như Braxin và Secbia có
tới 25% phụ nữ bị bạn đời hoặc người thân bạo lực thể chất. Tại Peru, gần
50% phụ nữ là nạn nhân của bạo lực thể chất trong suốt cuộc đời. Theo báo
cáo ở Etiopia, 54% phụ nữ bị người thân lạm dụng thân thểhoặc tình dục
trong vòng 12 tháng qua[28].
Báo cáo “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” của Nguyên Tổng
thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Kofi Annan được trình bày tại Kỳ họp lần thứ
61 của Đại hội đồng LHQ thể hiện rõ tình hình bạo lực với phụ nữ đang diễn
ra ở 71 quốc gia thuộc phạm vi nghiên cứu. Trong báo cáo, Tổng thư ký làm
rõ các yếu tố và nguy cơ gây ra bạo lực với phụ nữ là việc sử dụng bạo lực để
giải quyết xung đột; sự thờ ơ của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Những hoạt
động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này chú trọng vào luật
pháp, cung cấp dịch vụ và phòng ngừa. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho nhân
loại không ít - thách thức do: những nỗ lực khác nhau và những nguồn lực
không tương xứng; thiếu hụt cách tiếp cận toàn diện và có lồng ghép; thiếu
ngân quỹ; thiếu sự xử phạt; những hình thức phân biệt đối xử và thiếu việc
đánh giá[13].
Năm 1992, tác giả Margaret Schuler (chủ biên) và các cộng sự có tác
phẩm “Freedom from Violence – Women׳s Strategies from Around the
World” (Tự do từ bạo lực – Chiến lược toàn cầu của phụ nữ) đã phản ánh tình
trạng bạo lực chống phụnữ tồn tại từ các nước phát triển như Mỹ đến các
nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh. Tính đa dạng của
hoàn cảnh, văn hóa, nguyên nhân, các hình thức bạo lực… mà tác giả đã nói
16
lên tính phổ biến của các dạng bạo lực chống phụ nữ trong đó có bạo lực gia
đình. Tác phẩm đã cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề và chiến lược
liên quan đặc biệt đến bạo lực giới - đó là mở rộng chương trình tuyên truyền
vận động, giáo dục, cải cách luật pháp và hành động chống bạo lực với phụ
thuộc vào suy nghĩ của người chồng và như vậy mang lại cho họ một cảm
giác an toàn hơn. Vì thế, họ có khuynh hướng ước lượng thành công của mình
dựa theo thành công của chồng. Họ tin vào tình yêu số phận- đó là tình yêu
đối với kẻ thống trị và sự thống trịcủa kẻ đó, vì thế mà từ bỏ ham muốn thống
trị [32, tr 120- 139].
Jan E.Saets và Murray A.Straus trong Gender Differences in Reporting
Marital Violence and its Medical and psychological Consequences cho thấy
những tổn thương về mặt tinh thần thường thể hiện ởsự buồn phiền, căng
thẳng và các triệu chứng thần kinh như: sự chán nản; cảm giác tồi tệ, mất hết
giá trị; không còn cảm thấy điều gì thú vị nữa, hoàn toàn mất hy vọng về mọi
thứ, nghĩ đến cái chết và tìm đến cái chết, lo lắng, thấy không có khả năng
vượt qua những khó khăn ngày càng lớn, thấy bản thân không thể đương đầu
với những gì mình phải làm[48].
Gillian Mezey cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 200 phụ
nữ đang được chăm sóc trước và sau sinh tại dịch vị sản phụ ở miền nam
Luân Đôn bị bạo lực. Kết quả cho thấy, 47 phụ nữ (chiếm 23,5%) bị bạo lực
gia đình (cả bạo lực thể chất và bạo lực tình dục); 13 phụ nữ (10,7%) những
người đã từng bị chấn thương và hiện tại bị rối loạn căng thẳng. Triệu chứng
sau chấn thương được gắn với quá trình ngược đãi về thể chất, tình dục và lặp
lại sự ngược đãi. Những yếu tố xã hội quan trọng gắn kết với chấn thương là
tình trạng sống cô độc, tách biệt hoặc sống trong mối quan hệ không như vợ
chồng [47].
18
Đặc biệt, nghiên cứu về “Bạo lực gia đình trong cộng đồng di cư Châu
Á” của nhóm tác giả Lee, Yeon - Shim, Hadeed, Linda (2009) đã chỉ ra rằng:
bạo lực gia đình là một dịch bệnh nghiêm trọng giữa các cộng đồng người
nhập cư châu Á. Tuy nhiên, còn ít thông tin về phạm vi, tính chất, và các yếu
tiếp). Dạng bạo lực không nhìn thấy xuất phát từ sự phân công lao động bất
hợp lý giữa nam và nữ trong gia đình núp dưới các khái niệm “thiên chức” và
“hi sinh” của phụ nữ. Vì thiên chức này mà nhiều phụ nữchỉ là cái bóng của
chồng con, phụ thuộc vào chồng con, không bộc lộ và phát huy nội lực cũng
như khẳng định mình. Rất nhiều phụ nữ đã không chỉ bị đánh đập, ngược đãi
mà còn là nạn nhân của “Bạo lực không nhìn thấy”. Đây là một phát hiện về
các dạng bạo lực trong gia đình mà đến nay nhiều nhà nghiên cứu, các nhà
hoạt động xã hội đã sử dụng.
Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh (1999) đã có công
trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới”. Nghiên cứu này, được tiến hành ở
ba tỉnh: thành phốHà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh, các tác giả đã đi
sâu xem xét thái độ của cộng đồng và các thể chế xã hội về bạo lực trên cơ sở
giới cũng như các phản ứng của cá nhân, luật pháp và các thể chế đối với nạn
nhân bạo lực gia đình. Nghiên cứu cũng đưa ra nhận xét tình trạng bạo lực gia
đình có chiều hướng tăng. Nghiên cứu đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến bạo lực
gia đình và 7 kiến nghị nhằm hạn chế, ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình.
Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện đề tài “Bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam”. Đề tài đã phân tích những hậu quả
nghiêm trọng của nạn bạo lực giới trong gia đình đối với phụ nữ và phản ứng
của nạn nhân bị bạo lực trước những hành vi đó.
Vũ Tuấn Huy (2003) trong nghiên cứu “Mâu thuẫn vợ chồng trong gia
đình và những yếu tố ảnh hưởng” đã chỉ ra mâu thuẫn giữa vợ và chồng trong
gia đình là một hiện tượng phổ biến. Tác giả tìm ra sựkhác nhau giữa mâu
20
thuẫn và bạo lực trong gia đình “Mâu thuẫn và xung đột mang tính bạo lực là
khác nhau”. Không phải mâu thuẫn nào trong hôn nhân cũng trở thành xung
đột mang tính bạo lực. Tác giả cho rằng nguyên nhân chính của bạo lực gia
đình trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân của mâu thuẫn giữa vợ và
nhận thức về phòng, chống bạo lực gia đình của người dân.
Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh (2008) trong nghiên cứu “Bình
đẳng giới ở Việt Nam” đã góp phần nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình ở
Việt Nam dưới góc độ giới, đồng thời dành hẳn một chương để đưa ra những
quan niệm chung nhất về bạo lực gia đình và làm rõ các yếu tố tác động đến
hành vi bạo lực.
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh, Đặng Bích Thuỷ (2009) trong
nghiên cứu “Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam: Thực trạng, diễn
tiến và nguyên nhân” đã chỉ ra những vấn đề nhận diện bạo lực gia đình và cơ
sở pháp lý phòng chống bạo lực gia đình, mức độ phổ biến của bạo lực gia
đình và các yếu tố ảnh hưởng - phân tích số liệu định lượng, thực trạng bạo
lực gia đình, hậu quả và môi trường nảy sinh bạo lực gia đình, các yếu tố thúc
đẩy và hạn chế các hành vi bạo lực.
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ
nữ và trẻ em” TS. Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu,
đề xuất các giải pháp khả thi để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em
hiện nay ở Việt Nam, trong đó có công tác truyền thông, giáo dục cộng đồng
được xem như một giải pháp quan trọng.
Năm 2009-2010, lần đầu tiên ở Việt Nam có một nghiên cứu khá quy
mô tại chín tỉnh của cả ba miền Bắc- Trung- Nam về phòng chống bạo lực gia
đình từ góc độ cảnh sát và cán bộ tư pháp. Nghiên cứu này do ba tổ chức
tham gia là Trung tâm Nghiên cứu Giới và Phát triển (RCGAD), Tổng cục
Thống kê và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với sự trợ giúp của Liên hợp
22
quốc (UNODC), Bộ Công an và tổ chức nghiên cứu Phần Lan (HEUNI). Báo
cáo kết quả nghiên cứu đã nêu rõ tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam và
mức độ phòng chống của các cơ quan chức năng như cảnh sát và pháp lý,
những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của hai lực lượng này
Về tình hình bạo lực gia đình ở Việt Nam, Ts. Trịnh Thị Hoài Đức Giám đốc trung tâm sức khỏe phụ nữ và gia đình khẳng định: “Ở Việt Nam,
bạo lực gia đình không phải là chủđề mới, mà đã có từ lâu trong lịch sử.
Nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình ở Việt Nam là do tàn dư của nền văn
hóa phong kiến, của chế độ phụ hệ, tư tưởng trọng nam, khinh nữ của nho
giáo từ lâu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân. Người đàn ông luôn cho
rằng mình ở vị trí cao hơn phụ nữ, có quyền đối với phụ nữ. Chính nền văn
hóa phong kiến đã khuyến khích người phụ nữ thừa nhận tự nguyện về quyền
hành của nam giới và địa vị phụ thuộc của người vợ vào người chồng trong
gia đình, từ đó chấp nhận những hành vi bạo lực của nam giới”. [15]
Như vậy, có thể thấy vấn đề bạo lực trong gia đình đã được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu. Những số liệu chính thức về bạo lực gia đình,
dù hạn chế, song đã cung cấp những bằng chứng về mức độ nghiêm trọng của
bạo lực mà người phụ nữ phải trải qua trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên,
những nghiên cứu về giáo dục cộng đồng như là một phương pháp của công
tác xã hội, một kỹ thuật của phát triển cộng đồng còn chưa nhiều, chưa mang
tính chất hệ thống. Trong quá trình thực hiện đề tài này tác giả đã tiếp thu
được rất nhiều luận điểm cho đề tài của mình. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy ở
mỗi công trình nghiên cứu trên vẫn còn một số vấn đề chưa được đề cập hoặc
đề cập chưa sâu, đặc biệt là vấn đề giáo dục cộng đồng trong phòng, chống
bạo lực gia đình với phụ nữ.
24
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, cái nôi vĩnh hằng của mỗi con người, là
tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi con người. Đồng thời gia đình còn là yếu tố
trung gian là “cầu nối” giữa cá nhân và xã hội, giữa xã hội và cá nhân.
Xuất phát từ tầm quan trọng của gia đình đối với cá nhân và xã hội cho