CHUYÊN ĐỀ: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ NGỮ VĂN 11 - Pdf 52

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.............................................................3
4. Nhiệm vụ chuyên đề....................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN......................................................................4
1. Khái niệm phương pháp DHĐV................................................................4
2. Quy trình thực hiện DHĐV.......................................................................5
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học đóng vai............................8
4. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai......................................9
CHƯƠNG II . CƠ SỞ THỰC TIỄN...............................................................9
1. Đặc điểm kiểu bài dạy tác phẩm tự sự ở trường THPT.............................9
2. Thực trạng dạy và học theo phương pháp DHĐV ..................................10
2.1. Về phía giáo viên....................................................................................10
2.2. Về phía học sinh.....................................................................................11
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHĐV VÀO DẠY HỌC TÁC
PHẨM TỰ SỰ................................................................................................11
1. Một số hình thức đóng vai trong dạy học tác phẩm tự sự .......................11
1.1. Đóng vai nhân vật..............................................................................11
1.2. Đóng vai người kể chuyện................................................................14
1.3. Đóng vai “giả định”..........................................................................15
2. Kế hoạch thực hiện phương pháp DHĐV trong dạy học đoạn trích “Hạnh
phúc của một tang gia” (Vũ Trọng Phụng)..................................................18
2.1. Quy trình sử dụng phương pháp DHĐV..............................................18
2.2. Thiết kế thể nghiệm phương pháp DHĐV qua đoạn trích “Hạnh phúc
của một tang gia” ........................................................................................20
C. PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................31

thích, say mê với môn học, … tôi lựa chọn giải pháp dạy học đóng vai (và sau đây
xin được gọi là DHĐV) vào khai thác, áp dụng trong hoạt động dạy học của bản
thân, cụ thể hơn là trong quá trình dạy tác phẩm tự sự - Phần văn học Việt Nam
hiện đại (và sau đây xin được gọi là VHVNHĐ), chương trình Ngữ văn 11 (tập 1)
vì ưu điểm của phương pháp DHĐV có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói
chung và phù hợp đặc thù riêng của môn học, bài học.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết về phương pháp DHĐV.
2


- Nghiên cứu vận dụng DHĐV vào dạy học tác phẩm tự sự nhằm hình thành và
phát triển một số năng lực cho học sinh, khơi dậy niềm đam mê đối với môn học,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THPT Bưng Riềng.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Việc sử dụng phương pháp DHĐV trong dạy học tác phẩm tự sự - Phần
VHVNHĐ nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh khối 11, nâng cao chất
lượng giảng dạy bộ môn, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú của học sinh đối với môn
học.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT Bưng Riềng.
4. Nhiệm vụ chuyên đề
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài: kiến thức lí thuyết về DHĐV.
- Nghiên cứu việc sử dụng DHĐV trong dạy học Ngữ văn nhằm phát triển một
số năng lực cho học sinh.
- Cơ sở thực tiễn: tiến hành cho học sinh trực tiếp tham gia phương pháp
DHĐV trong dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ ” –
Vũ Trọng Phụng).
5. Phạm vi nghiên cứu

Hà Nội, 2005” định nghĩa: “Phương pháp đóng kịch trong dạy học là GV cung cấp
kịch bản, học viên hành động theo các vai diễn. Qua đó, họ học được cách suy
nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng như các kỹ năng ứng xử khác của nhân
vật trong kịch bản”. Tác giả PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục
học – tập 1” cho rằng: “Đóng kịch là phương pháp dạy học, trong đó, GV tổ chức
quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm
giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập”. Như vậy, các định nghĩa về phương
pháp dạy học đóng kịch đều nhấn mạnh vai trò của người dạy là người tạo ra kịch
bản, yêu cầu người học diễn lại vai diễn đã soạn sẵn trong đó có chứa đựng nội
dung dạy học mà GV cần truyền đạt. Về mặt giống nhau, ta thấy dạy học đóng
kịch và dạy học đóng vai đều là “diễn” một vai khác mình trong một kịch bản có
sẵn. Còn khác nhau, trong dạy học đóng kịch, GV cho trước kịch bản, HS “diễn”
theo vai diễn có ý đồ của người dạy, còn DHĐV, người học chủ động tạo ra kịch
bản để “diễn” và hơn nữa, trong DHĐV, người học có thể vào rất nhiều “vai” khác
4


nhau, không chỉ sáng tạo vai từ tác phẩm văn học mà có thể vào bất cứ một “vai
diễn giả định” nào trong cuộc sống. Nếu hiểu theo cách hiểu DHĐV là dạy học
đóng kịch thì tôi thấy, thứ nhất thu hẹp ý nghĩa của từ “đóng vai”, thứ hai là GV
vẫn đóng vai trò chủ động trong quá trình dạy học, thứ ba là chưa phát huy được
tính tích cực, chủ động của học sinh, như vậy dạy học đóng kịch là một hình thức
của phương pháp DHĐV.
- Còn xét về khái niệm được nêu trong cuốn tài liệu tập huấn của Bộ giáo
dục và Đào tạo, các tác giả định nghĩa phương pháp DHĐV dưới góc độ thực
hành, “làm thử” và không chỉ “làm thử” diễn xuất mà còn “làm thử” vai nhà biên
kịch, “làm thử” vai đạo diễn, … trong những tình huống “giả định”. Phương pháp
này nhằm giúp các em tập trung suy nghĩ về một vấn đề, xem xét nó trong mối
quan hệ với tác phẩm văn học và bản thân, xem xét các cách ứng xử để lựa chọn
cho mình một cách ứng xử phù hợp – tất nhiên là phù hợp với trình độ hiểu biết,

+ Phân vai, đạo cụ, hóa trang, sân khấu, …
+ Dự kiến thời gian tiến hành
+ Tiến hành tập luyện theo kịch bản
+ Trình diễn
- Bước 3: Nhận xét, đánh giá:
+ Các nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau; phản biện – giải trình (nếu có)
+ Giáo viên nhận xét, đánh giá (GV có thể sử dụng hình thức phỏng vấn học
sinh đóng vai); tổng kết lại kiến thức.
Quy trình này có thể đơn giản hơn hoặc nhiều thao tác hơn tùy vào hình thức
đóng vai mà GV lựa chọn.
2.2. Quy trình cụ thể
2.2.1. Đóng vai trực tiếp
Quy trình đóng vai trực tiếp được tiến hành trong cùng một tiết học. Hình thức
đóng vai trong tiết học được tiến hành đan xen với hoạt động lên lớp của GV.
Các bước tiến hành đơn giản, nhanh và gọn hơn:
Bước 1:
- GV nêu tình huống đóng vai
Bước 2:
- HS tiếp nhận và suy nghĩ
- Tiến hành đóng vai trước lớp
Bước 3:
- GV điều khiển quá trình nhận xét, đánh giá của HS trong lớp
6


- GV nhận xét, đánh giá, tổng kết lại kiến thức.
Quy trình này, người dạy vẫn đảm bảo các khâu lên lớp: khởi động, hình thành
kiến thức, luyện tập, vận dụng, mở rộng. GV lựa chọn hình thức đóng vai trong
hoạt động lên lớp thay vì sử dụng các kiểu câu hỏi khác nhau để triển khai các nội
dung bài học. GV đưa ra một tình huống đóng vai cụ thể, HS vào vai để các em

+ Thể hiện kịch bản và vai diễn trước lớp theo yêu cầu của GV.
- Bước ba: Nhận xét, đánh giá:
+ Các nhóm nhận xét vai diễn của nhau, phản biện- giải trình (nếu có)
+ GV nhận xét, đánh giá quá trình chuẩn bị, nội dung kịch bản, kỹ năng đóng
vai, hiệu quả đóng vai, có thể phỏng vấn (chất vấn) các nhân vật, tổng kết lại nội
dung bài học.
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học đóng vai
3.1. Ưu điểm
- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trước một tình huống “giả định” đặt ra trong tác phẩm. Như một hình thức tiêm
vắcxin phòng bệnh, HS sẽ được tập dượt kỹ năng ứng xử trong một môi trường an
toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Phương pháp đóng vai là một trong những hình thức “Trả tác phẩm về cho
học sinh”, đem đến hứng thú học tập, lôi cuốn sự chú ý của các em vào bài học.
Phương pháp này đem đến cho các em mong muốn được thể hiện mình, muốn
sáng tạo và cách các em thể hiện hiểu biết, vận dụng của mình vào tình huống cụ
thể đó sẽ được kiểm chứng qua những nhận xét, đánh giá của các nhóm khác, của
GV để từ đó điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
- GV có thể nắm bắt ngay được tác động, hiệu quả giáo dục trong lời nói, hành
động của học sinh qua vai diễn.
- GV có thể quan tâm đối với tất cả các học sinh, nhất là với những HS nhút
nhát, thiếu tự tin. Giúp các em có cơ hội thể hiện bản thân, mạnh dạn, tự tin thể
hiện mình trước tập thể lớp, từ đó giúp các em hòa nhập tích cực khi đứng trước
một tập thể lớn hơn.
3.2. Nhược điểm
- Sử dụng phương pháp DHĐV thường mất nhiều thời gian chuẩn bị kịch bản,
phương tiện vật chất và tài chính cho cả GV và HS.
- Sự thành công của tiết học phụ thuộc nhiều vào khả năng “diễn xuất” của học
sinh. Đối với học sinh rụt rè, nhút nhát thì khả năng thành công không cao.


chuyện để thể hiện các sự việc, sự kiện, … nào đó, cuối cùng rút ra ý nghĩa.
- Trong chương trình Ngữ văn THPT, tác phẩm tự sự chiếm một số lượng lớn.
Mỗi một tác phẩm được đưa vào giảng dạy tiêu biểu cho một dòng văn học, tiêu
9


biểu cho sự nghiệp sáng tác của một tác giả, là tác phẩm đặc sắc trong nền văn học
nước nhà, cho nên dung lượng dài, nội dung nhiều, kiến thức vừa rộng vừa sâu,
nghệ thuật độc đáo, …
- Thời gian trên lớp dành cho mỗi bài không nhiều. Riêng tại trường THPT
Bưng Riềng có thêm 0,5 tiết tăng cường dành cho môn Ngữ văn lớp 11 nhưng số
lượng tiết dạy cho mỗi tác phẩm tự sự chỉ được 3 tiết/bài. (“Hai đứa trẻ” (3 tiết);
“Hạnh phúc của một tang gia” (3 tiết); “Chữ người tử tù” (3 tiết); “Chí Phèo” (3
tiết)). Do áp lực về thời gian, kiến thức, về hình thức kiểm tra, đánh giá, GV khi
dạy tác phẩm tự sự vẫn chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp lên lớp, các hình
thức lên lớp còn đơn điệu nên tiết học còn trầm, học sinh còn mang tâm lí chán
nản, thiếu hứng thú, không thích học môn Ngữ văn. GV dạy có tích hợp kỹ năng
sống qua mỗi bài dạy nhưng do hình thức chưa đổi mới nên phần giáo dục kỹ năng
có phần gượng ép, chưa mang lại hiệu quả cao.
- Là một nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tác phẩm tự
sự không chỉ là kiến thức trọng tâm của chương trình học, mà còn là một nội dung
quan trọng thi THPT Quốc gia cho nên để giúp các em hiểu và nhớ lâu thì đổi mới
phương pháp tiếp cận tác phẩm tự sự là điều cần thiết.
2. Thực trạng dạy và học theo phương pháp DHĐV tại trường THPT Bưng
Riềng
2.1. Về phía giáo viên
- Từ trước đến nay, GV đã vận dụng phương pháp DHĐV vào hoạt động dạy
học, hình thức đóng vai chủ yếu mà GV sử dụng là “kịch bản hóa” tác phẩm tự sự;
GV là người cung cấp kịch bản, theo ý đồ của người dạy. HS đóng vai, tái hiện lại
nhân vật trong tác phẩm, từ đó nêu nhận xét về nhân vật đóng vai. Mặc dù đã có

CHƯƠNG III: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHĐV VÀO DẠY HỌC TÁC
PHẨM TỰ SỰ
1. Một số hình thức đóng vai trong dạy học tác phẩm tự sự ở trường THPT
1.1. Đóng vai nhân vật
- Đóng vai nhân vật có các hình thức:
1.1.1. Đóng vai tái hiện
- Đây là hình thức tổ chức cho học sinh đóng vai các nhân vật trong tác
phẩm tự sự. Thay vì cho các em đọc tác phẩm, GV có thể phân vai, cho HS có thời
gian chuẩn bị, sau đó tái hiện lại nhân vật trong SGK. Ở hình thức đóng vai này,
HS có thể kết hợp thêm một số lời thoại khác (không khác nhiều với văn bản), kết
hợp ngôn ngữ, điệu bộ, … để trình bày con người, về hoàn cảnh, sự kiện, … bằng
suy nghĩ chủ quan của người trong cuộc. Kiểu đóng vai tái hiện này GV, HS không
11


cần thời gian chuẩn bị nhiều, có thể đóng vai trực tiếp trong giờ học, đặc biệt thuận
lợi trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Tuy nhiên, GV không nên sử dụng
kiểu đóng vai tái hiện trong một lượng thời gian quá dài hoặc lượng kiến thức
nhiều vì rất dễ gây nhàm chán. Để tăng hiệu quả của phương pháp đóng vai nhân
vật tái hiện, một nhân vật nhưng có thể cho nhiều nhóm đóng vai theo từng sự việc
(từng nội dung) theo bố cục bài dạy.
- Ví dụ:
+ Đóng vai Chí Phèo, tái hiện các giai đoạn chính trong cuộc đời nhân vật.
GV chia lớp thành 3 nhóm, phân công mỗi nhóm thực hiện một giai đoạn:
Nhóm 1: Trước khi đi tù.
Nhóm 2: Sau khi ra tù
Nhóm 3: Sau khi gặp Thị Nở
+ Đóng vai nhân vật Quản Ngục trình bày suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật
Huấn Cao.
GV có thể chia lớp thành 3 nhóm, đóng vai viên Quản Ngục để trình bày

vấn đề”, kích thích sự tìm tòi, giải quyết vấn đề bằng hiểu biết cá nhân. Hình thức
này thường tạo cho học sinh hứng thú bởi luôn phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo. GV
có điều kiện để hiểu HS của mình hơn, dễ uốn nắn những kỹ năng xử lý tình
huống, phần nào giúp các em định hình được cảm xúc, hành vi của mình trong
thực tiễn. Đây là hình thức mà GV có thể tích hợp giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng
làm văn nghị luận xã hội về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm.
- Nhược điểm của phương pháp này là: Phải có thời gian cho HS chuẩn bị,
do đó GV rất dễ “cháy giáo án”. Đối với HS trung bình, yếu rất khó để tổ chức
phương pháp đóng vai suy luận này, và nếu có sử dụng thì cũng khó đạt kết quả
như mong muốn vì nó đòi hỏi suy luận hợp lý, sáng tạo.
1.2. Đóng vai người kể chuyện
- Tác phẩm tự sự nào cũng có người kể chuyện. Người kể chuyện xuất hiện
dưới nhiều dạng thức khác nhau. Có khi xưng “tôi” với tư cách tác giả (Lão Hạc –
Nam Cao); có khi xưng “tôi” với tư cách là nhân vật trong truyện (Mẫn và tôi –
Phan Tứ); Thường thấy nhất là giọng trần thuật của một người nào đó không xuất
đầu lộ diện nhưng người đọc vẫn thấy được tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với
nhân vật trong truyện. Các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11 –
Phần văn học hiện đại chủ yếu sử dụng hình thức kể chuyện này. Người kể dấu
mình ở đây chính là tác giả. Do đó, đóng vai người kể chuyện là hình thức cho học
sinh đóng vai tác giả, sáng tạo lời nói, suy nghĩ, hành động của nhân vật theo quan
13


điểm của cá nhân. Hình thức đóng vai này thường định dạng kiểu như: “Nếu em là
tác giả, em sẽ (hãy), …” hoặc “Hóa thân vào tác giả, lí giải vì sao lại để cho nhân
vật hành động như vậy?”
Ví dụ:
+ Nếu em là Nguyễn Tuân, em sẽ cho kết thúc tác phẩm “Chữ người tử tù”
như thế nào? (Lí giải vì sao lại kết thúc như thế)
+ Hóa thân vào nhà văn Thạch Lam, hãy viết tiếp câu chuyện “Hai đứa trẻ”

có thể tạo ra các vai diễn “giả định” hoặc gợi ý để học sinh sáng tạo ra các vai diễn
“giả định” trong một tình huống “giả định” – để học sinh tự tiếp cận nội dung tác
phẩm tự sự. Hình thức này tiệm cận gần hơn với định nghĩa DHĐV của Bộ Giáo
dục và Đào tạo “Đóng vai là tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”.
- Ví dụ:
Khi dạy tác phẩm “Chữ người tử tù”, GV đưa ra một tình huống “giả định”:
“PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT” – Xét xử Huấn Cao có tội hay không có tội? (Khi Huấn
Cao bị giải đến nhà ngục để chờ ngày thi hành án, có nhiều đơn khiếu nại về bản
án tử hình của Huấn Cao là không đúng người, đúng tội. Quản Ngục phải tiến
hành phiên tòa xét xử lại: Huấn Cao có tội hay không có tội? Mặc dù có sự khác
nhau về quy trình xử lý giữa xã hội phong kiến với thời hiện đại, nhưng GV để cho
HS dùng hình thức phiên tòa hiện đại để HS tiếp cận thuận lợi hơn)
Dự kiến các nhân vật giả định:
Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa; Hội thẩm nhân dân
(Quản Ngục sẽ là người tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tiến hành nghiên cứu hồ
sơ, tiến hành xét xử, tiến hành tố tụng và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền
của Hội đồng xét xử)
Thư ký phiên tòa
(Thầy thơ lại)
Kiểm sát viên
(Đọc cáo trạng, hỏi và đưa ra chứng cứ, luận tội và tranh luận với những người
tham gia tố tụng tại phiên tòa)
Bị cáo/ bị hại
(Huấn Cao và một người đại diện cho xã hội phong kiến)
Luật sư bào chữa cho bị cáo/bị hại
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo/ bị hại

15


huống mới); phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phát
hiện được những khả năng tiềm ẩn ở mỗi học sinh, đưa tác phẩm văn học gắn liền
16


hơn với cuộc sống, giúp các em hiểu được học văn không chỉ để “lấy điểm” mà
quan trọng hơn là “học làm người” qua việc tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành
vi , …trong cuộc sống. Với hình thức đóng vai này, GV có thể hình thành cho học
sinh rất nhiều năng lực: Năng lực giao tiếp; Năng lực sáng tạo; Năng lực hợp tác
và đảm nhận trách nhiệm.; Năng lực tự quản lý thời gian; Rèn luyện và phát triển
năng lực giải quyết vấn đề.; Hình thành và phát triển năng lực tự học; Năng lực
cảm thụ văn học; Năng lực trình diễn, hóa thân, …không chỉ phù hợp với quan
điểm đổi mới phương pháp dạy học mà còn phù hợp với xu hướng “Trả tác phẩm
về cho học sinh”, đem đến sân chơi bổ ích cho HS qua hình thức “chơi mà học,
học mà chơi”, …
+ Có người nói: nếu giao quyền cho học sinh hết thì GV làm gì?
+ Thực ra, HS càng chủ động, sáng tạo thì vai trò của GV càng quan trọng.
Không chủ động truyền đạt kiến thức cho HS theo cách dạy truyền thống, không
cầm tay chỉ việc, … nhưng GV chính là người chủ động trong mọi hoạt động của
HS, từ việc đặt các em vào “tình huống có vấn đề”, đến định hướng mục tiêu hành
động cho học sinh; đến “chuyên gia” – cố vấn; đến người đồng hành cùng HS trên
con đường đi tìm chân lí.
- Nhược điểm của phương pháp này là “kén” HS – có nghĩa là không phải mọi
đối tượng HS đều có thể tham gia và đáp ứng yêu cầu sáng tạo của phương pháp.
Đối tượng HS trung bình, yếu rất khó để áp dụng. Thêm nữa, GV sử dụng phương
pháp này không khéo thường có kết quả ngược, vì để cho HS sáng tạo mà không
theo sát các em thì rất dễ xa đề, lạc đề, … và như vậy, lại tạo thêm nhiều áp lực
cho GV trong quá trình nhận xét và tổng kết lại nội dung bài học; phương pháp
này đòi hỏi GV và HS mất nhiều thời gian chuẩn bị và tài chính hơn cách dạy
truyền thống nhưng bù lại, những bài học các em thu nhận được thì không phải

- Thời gian báo cáo: nhóm 1 không quá 20 phút; nhóm 2,3 không quá 10
phút mỗi nhóm.
BẢNG HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Yêu cầu cần

NHÓM 1: Phải thể hiện được mâu thuẫn trào phúng giữa biểu

đạt

hiện bên ngoài và bản chất bên trong của từng thành viên trong
gia đình; thấy được nguyên nhân vì sao lại có sự mâu thuẫn đó.
NHÓM 2: Phải thể hiện được mâu thuẫn trào phúng giữa biểu
hiện bên ngoài và bên trong các nhân vật ngoài tang gia; thấy
được sự xuống cấp đạo đức không chỉ trong gia đình mà là toàn
xã hội; đồng thời tìm hiểu thêm các nhân vật trong tang gia để
18


tiến hành phản biện, chất vấn nhóm 1.
NHÓM 3: Phải thể hiện được bức tranh cảnh đưa đám, cảnh hạ
huyệt để thấy được bức tranh toàn cảnh của xã hội đương thời;
đồng thời tìm hiểu thêm các nhân vật trong tang gia để tiến hành
Một vài

phản biện, chất vấn nhóm 1.
- Các nhóm tự chọn hình thức thể hiện: báo cáo thuyết trình dưới

hướng dẫn

dạng: thiết kế powerpoint; bản đồ tư duy; tranh ảnh; báo cáo dưới

-Tiến hành tập luyện vai diễn theo kịch bản, đảm bảo thời gian quy định.
- Thể hiện kịch bản và vai diễn trước lớp đúng theo yêu cầu của GV.
- Lưu ý: Riêng nhóm 2 và nhóm 3 có thể sử dụng phương pháp khác, hình thức
báo cáo sản phẩm khác, không dùng máy phát hiện nói dối vì đặc điểm kiến thức
không phù hợp để sử dụng.
19


Bước 3: Nhận xét, đánh giá
- Các nhóm nhận xét vai diễn của nhau, phản biện- giải trình (nếu có); tiến
hành cho điểm đánh giá theo phiếu đánh giá GV đã chuẩn bị.
- GV nhận xét, đánh giá quá trình chuẩn bị, kỹ năng đóng vai, hiệu quả đóng
vai, có thể phỏng vấn (chất vấn) các vai diễn, tổng kết lại nội dung bài học.
2.2. Thiết kế thể nghiệm phương pháp DHĐV qua đoạn trích “Hạnh phúc
của một tang gia” – Tiết 47
2.2.1. Kế hoạch dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”
(Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng)
Tiết 1

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA
Nội dung:

(PPCT:46) - Tìm hiểu tác giả, tác phẩm
- Tìm hiểu nhan đề và tình huống truyện
Giao nhiệm vụ
Tiết 2

Nội dung:

(PPCT:47) - Niềm hạnh phúc của những người trong tang gia (Thực nghiệm

- Rèn luyện kỹ năng đọc – hiểu văn bản tự sự viết theo bút pháp trào phúng.
- Rèn luyện kỹ năng diễn xuất, bày tỏ thái độ, nêu ý kiến, quan điểm, ….
- Phát triển kỹ năng làm việc nhóm
- Rèn luyện phẩm chất tự tin, chủ động, sáng tạo cho học sinh.
3. Thái độ:
- Giúp các em yêu thích môn học, có hứng thú với các hoạt động trải nghiệm ở
bộ môn Ngữ văn.
- Có tình cảm, thái độ sống tích cực, lành mạnh, sống có đạo đức, có tình, có
nghĩa,..
- Góp phần điều chỉnh thái độ, cách ứng xử của người học đối với người thân,
phê phán lối sống thực dụng, vì tiền, ….
4. Năng lực:
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác và đảm nhận trách nhiệm.
- Năng lực tự quản lý thời gian.
- Rèn luyện và phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
- Hình thành và phát triển năng lực tự học.
- Năng lực cảm thụ văn học
- Năng lực trình diễn, hóa thân, …
21


II. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
1. Phương pháp dạy học
- Phương pháp trực quan
- phương pháp vấn đáp
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp thuyết trình

Hoạt động của HS
- HS quan sát

- GV đặt câu hỏi HS trả lời:

- HS ghi lại các từ diễn tả cảm

? Em hãy ghi lại những từ diễn tả trạng thái cảm xúc
xúc xúc của con người nói chung khi chứng
kiến sự ra đi của một con người, đặc biệt là
người thân, người có ý nghĩa
quan trọng đối với cuộc đời?
- GV chuyển ý vào bài mới.
5. Dự kiến sản phẩm
- HS phát hiện một số trạng thái: Đau buồn, đau đớn, đau xót, đau khổ; nghẹn
ngào, thương tiếc, bàng hoàng, ...
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới
1. Mục tiêu
- Học sinh thể hiện được kịch bản đã chuẩn bị trước
- Đóng vai các nhân vật trong kịch bản, thể hiện nội dung được giao qua kịch bản
đã chuẩn bị.
- Các nhóm nắm được chân dung trào phúng của những nhân vật trong tang gia.
2. Nội dung
- Nhóm 1 trình diễn vở kịch đã chuẩn bị
- Các nhóm còn lại nhận xét, phản biện (nếu có)
- Giáo viên nhận xét, đánh giá, tổng kết lại nội dung tiết học
3. Phương pháp
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề
- Phương pháp trực quan


Văn

Bên trong

Minh
Ông Phán
- Sau khi vở kịch kết thúc, đại diện nhóm 1
điều khiển quá trình phản biện; trả lời các câu
hỏi của các nhóm và nhận xét phiếu học tập
của nhóm 2,3.
- Các nhóm 2,3 tiến hành đánh giá, cho điểm
sản phẩm nhóm 1:
PHIẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
NHÓM 1
Nội dung đánh
Xuất

giá

sắc

Mức độ
Tốt Khá

Đạt
yêu
cầu

Tham gia

những nghệ thuật nào để khắc họa
bức chân dung đó.
- GV dựa vào các câu trả lời của
HS, kết hợp thao tác bình giảng
và tổng kết kiến thức bài học.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status