LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo khóa học 2013 – 2017, đồng thời
đánh giá quá trình học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, được sự
đồng ý của Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Bộ môn Kinh Tế, tôi đã tiến
hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế cây bưởi
trên địa bàn xã Bằng Luân huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ”.
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này tôi chân thành cảm ơn các quý
thầy cô trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, các thầy cô trong khoa Kinh tế và
Quản trị kinh doanh đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian theo học tại trường để tôi có thể vận dụng những kiến thức đã học vào
quá trình thực tập và làm khóa luận.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Trần Thị Tuyết đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập, hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Đồng thời, tôi xin cảm ơn toàn bộ nhân viên của UBND xã Bằng Luân,
huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nỗ lực nhưng do hạn chế về mặt thời
gian, trình độ nên kính mong nhận được ý kiến đóng góp, bổ sung của các thầy
cô giáo cũng như những người quan tâm đến vấn đề này để khóa luận tốt nghiệp
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai, ngày
tháng 05 năm 2017
Người thực hiện khóa luận
Sinh viên
Tô Thị My
HQKT
Hiệu quả kinh tế
IC
Chi phí trung gian
KHKT
Khoa học kỹ thuật
KTCB
Kiến thiết cơ bản
MI
Thu nhập hỗn hợp
NĐ – CP
Nghị định Chính phủ
QĐ
Quyết định
SHTT
Cây ăn quả là cây đã có từ xa xưa, luôn gắn liền với sản xuất và đời sống
của con người. Ngày nay cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong chuyển
đổi cơ cấu cây trồng và đang trở thành một phong trào rộng lớn ở các tỉnh trung
miền núi, mang lại thu nhập cao giúp người dân xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt
đối với phú thọ một trong những loại cây vừa mang lại giá trị kinh tế cao, vừa
tốt cho sức khỏe đó là cây bưởi.
Bưởi quả Đoan Hùng là một đặc sản của tỉnh Phú Thọ, đặc trưng bởi
hương vị thơm ngon, ngọt, mát. Từ năm 2000 trở lại đây, tỉnh Phú Thọ và huyện
Đoan Hùng có chủ trương khôi phục và mở rộng diện tích trồng bưởi, nhằm mục
đích tạo thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, quy mô lớn, chủ yếu với hai
giống bưởi đặc sản là bưởi Sửu và bưởi Bằng Luân. Đến hết năm 2016, diện tích
trồng mới bưởi của các dự án triển khai trên địa bàn huyện Đoan Hùng đạt
khoảng 2.000ha, và diện tích bưởi trong độ tuổi sản xuất kinh doanh được trồng
từ những năm về trước được thống kê là 305ha. Sản lượng bưởi quả thương
phẩm một số năm gần đây dao động từ 700 – 800 vạn quả tương đương 7.000 –
8.000 tấn, bưởi trở thành nguồn nông đặc sản quý cung cấp ra thị trường các tỉnh
phía Bắc. Chủ trương mở rộng sản xuất và đẩy mạnh tiêu thụ bưởi hướng tới
mục tiêu đẩy mạnh phát triển sản xuất trên địa bàn xã, giải quyết công ăn việc
làm và tạo thu nhập ổn định cho người dân trong xã và huyện. Tháng 02 năm
2006, sản phẩm bưởi quả Đoan Hùng được Cục sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và
Công nghệ ghi nhận vào sổ đăng ký quốc gia tên gọi xuất xứ hàng hoá (nay là
hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý) và được Nhà nước bảo hộ vô thời hạn. Từ đây,
sản phẩm bưởi quả Đoan Hùng trở thành tài sản quốc gia và là sản phẩm thứ tư
được Nhà nước bảo hộ về chỉ dẫn địa lý. Khai thác tốt lợi thế ở khía cạnh này sẽ
góp phần nâng cao giá trị của sản phẩm bưởi quả Đoan Hùng trên thị trường.
Xuất phát từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách cụ
thể khuyến khích đầu tư cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp trên cơ sở phát
huy lợi thế vùng, đặc biệt chú trọng đến các vùng có loài cây ăn quả đặc sản. Xã
4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế cây bưởi tại xã Bằng
Luân, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: 2014-2016
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại xã Bằng Luân, huyện Đoan
Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứa hiệu quả kinh tế của quả bưởi
thương phẩm.
4. Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội xã Bằng Luân, huyện Đoan Hùng,
tỉnh Phú Thọ.
- Hiệu quả kinh tế cây bưởi tại xã Bằng Luân huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.
- Giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế cây bưởi.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu thứ cấp
- Nghị quyết của ban thường vụ Đảng Ủy: về tăng cường sự lãnh đạo thực
hiện chương trình phát triển cây bưởi đặc sản Bằng Luân đến năm 2020.
- Các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến cây bưởi, các văn bản chính
sách của địa phương, số liệu liên quan đến phát triển kinh tế địa phương và liên
quan đến cây bưởi.
- Các thông tin về tình hình phát triển kinh tế địa phương, tình hình phát
triển sản xuất và tiêu thụ bưởi quả ở địa phương được thu thập trong khoảng thời
gian 3 năm (2014- 2016).
* Số liệu sơ cấp
triển kinh tế của thôn. Phỏng vấn các hộ nông dân thông qua phiếu điều tra
theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên là 5 thôn của xã.
5.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp sử dụng trong đề tài để phân tích số liệu là phương pháp
thống kê mô tả. Trong đó đã vận dụng các chỉ tiêu như số tuyệt đối, số tương
đối, số bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển bình quân để
phân tích mức độ và xu hướng biến động về diện tích trồng bưởi cũng như hiệu
quả kinh tế của các tác nhân qua các năm giữa các nhóm hộ hoặc giữa các tiêu
thức nghiên cứu khác nhau.Thông tin sau khi thu thập được phân loại và sắp xếp
7
theo các chủ đề khác nhau.Số liệu điều tra được phân tổ và xử lý trên máy tính
bằng chương trình Excel.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận thì kết cấu khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu.
Chương 3: Hiệu quả kinh tế cây bưởi tại xã Bằng Luân,huyện Đoan
Hùng,tỉnh Phú Thọ.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1.1. Lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1. Các quan niệm cơ bản về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt đông kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội là đáp ứng
9
Quan điểm này được sử dụng phổ biến. Hiệu quả sản xuất là chỉ tiêu được tính
trên cơ sở so sánh giữa kết quả với chi phí để đạt được kết quả đó.
Quan điểm 3: Theo Nguyễn Đình Hợi, hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số
giữa giá trị sản xuất đạt được và số lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế = Kết qủa sản xuất – Chi phí sản xuất
Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ
hoặc phép trừ không có ý nghĩa. Mặt khác, quan điểm này không cho thấy khả năng
cung cấp vật chất cho xã hội của các cơ sở kinh tế khác nhau là khác nhau khi có cùng
hiệu số giữa kết quả và chi phí.
Hiệu quả kinh tế thể hiện ở tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả sản xuất và
phần tăng thêm của chi phí.
Công thức: H = ∆Q/∆C
Trong đó: H: Tỷ suất kết quả bổ sung
∆Q: Kết quả bổ sung
∆C: Chi phí bổ sung
Quan điểm này thể hiện tỷ lệ mức độ tăng trưởng của kết quả sản xuất với mức
độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội. Quan điểm này phức tạp một số lĩnh
vực sản xuất kinh doanh và chưa thật đầy đủ bởi trong thực tế, kết quả sản xuất luôn là
hệ quả của chi phí sẵn có và chi phí bổ sung.
Quan điểm 5
Theo Samuelson Nordthuas cho rằng hiệu quả kinh tế là không lãng phí.
Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn ra
khi xã hội không thể tăng thêm sản lượng hàng hóa này mà không làm giảm một
lượng hàng hóa khác, nền kinh tế đạt hiệu quả khi nằm trên đường giới hạn khả năng
sản xuất của nó.
1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác
- Hiệu quả xã hội: là kết quả các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích,
phục vụ chung cho toàn xã hội. Cùng với hiệu quả kinh tế, hoạt động sản xuất còn tạo
ra nhiều kết quả liên quan tới đời sống kinh tế - xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm
cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và
11
tinh thần cho nông dân, tăng ngân sách cho Nhà nước, giảm tỷ lệ những người mắc
phải tệ nạn xã hội…
- Hiệu quả môi trường: Đây là vấn đề được các nhà quản lý rất quan tâm. Một
hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả thì hoạt động đó phải không có ảnh hưởng
xấu tới môi trường sinh thái. Hiệu quả môi trường được đánh giá bằng các chỉ tiêu
định tính như: bảo vệ đa dạng sinh học, tạo sự cân bằng sinh thái, tăng độ che phủ mặt
đất…
- Hiệu quả kinh tế: Là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và
lượng chi phí bỏ ra. Khi xác định hiệu quả kinh tế cần phải xem xét đầy đủ mối quan
hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối. Hiệu quả kinh tế đạt
được khi trong điều kiện nguồn lực có hạn mà vẫn cho ra được lượng kết quả đầu ra lớn
nhất ở mức chi phí thấp nhất.
* Theo phạm vi nghiên cứu vi mô và vĩ mô:
Ở phạm vi vĩ mô, HQKT được phân chia như sau:
- HQKT quốc dân là hiệu quả kinh tế được xem xét chung trong toàn bộ nền
kinh tế - xã hội.
- Hiệu quả kinh tế theo ngành, lĩnh vực là hiệu quả kinh tế được xem xét
đối với từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực là hiệu quả kinh tế được xem xét đối
với từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân như ngành
Nông nghiệp, Công nghiệp…trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Trong Nông
nghiệp có các ngành như trồng trọt, ngành chăn nuôi và các ngành cụ thể như
cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp….
HQKT theo vùng, lãnh thổ được xem xét đối với từng vùng kinh tế - tự nhiên
* Bản chất hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động xã hội và
được xác định bằng hiệu quả so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với
lượng hao phí lao động của xã hội.
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển
kinh tế xã hội. Đó là việc làm thế nào để thoả mãn nhu cầu hàng ngày tăng cả về
vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.
13
* Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung:
Nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của mọi thành
viên trong xã hội.Tuy nhiên việc nâng cao hiệu quả kinh tế có 2 điểm đáng chú
trong xã hội.
- Chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí càng lớn thì càng mang lại
hiệu quả cao.
- Nâng cao hiệu quả kinh tế là việc làm mà toàn xã hội quan tâm đến. Đối với
người sản xuất thì làm tăng hiệu quả chính là làm tăng lợi nhuận (thu nhập nhiều hơn,
lãi nhiều hơn), còn đối với người tiêu dùng thì làm tăng hiệu quả chính là họ được sử
dụng sản phẩm hàng hoá với chất lượng cao và giá thành thấp.
Như vậy việc nâng cao hiệu quả kinh tế có vai trò rất lớn, nó đóng vai trò trung
tâm của nền kinh tế và được toàn xã hội quan tâm đến.
1.1.5. Phương pháp xác định và lựa chọn hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Để đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế nói chung và đánh giá hiệu quả kinh tế
trong nông nghiệp nói riêng là rất khó khăn. Nên khi đánh giá hiệu quả kinh tế của
một hiện tượng kinh tế, một hoạt động sản xuất kinh doanh phải có một hệ thống chỉ
tiêu phù hợp. Mỗi chỉ tiêu dù là cơ bản cũng chỉ phản ánh được một mặt của một vấn
đề, một hệ thống chỉ tiêu hoàn chỉnh sẽ bổ sung cho nhau để có thể đánh giá hoàn
chỉnh một hiện tượng kinh tế đó.
(VA), thu nhập hỗn hợp (MI), ∆GO, ∆VA, ∆MI.
* C có thể biểu hiện là: Tổng chi phí sản xuất (TC), chi phí cố định (FC),
chi phí biến đổi (VC), chi phí trung gian (IC), chi phí lao động (L), hoặc mức
đầu tư các yếu tố chi phí.
c, Để đánh giá hiệu quả kinh tế thường dựa vào 2 hệ thống chỉ tiêu chính là:
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế (MPS) và hệ thống tài khoản quốc gia
(SNA). Tuy nhiên hiện nay người ta chủ yếu dùng hệ thống tài khoản quốc gia SNA.
- Giá trị sản xuất (GO): là gí trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm của
một đơn vị sản xuất, trong một thời gian xác định.
GO = ∑(Qi*Pi)
Trong đó: Qi: Lượng sản phẩm loại i
Pi: Đơn giá sản phẩm loại I
15
Trong điều kiện sản xuất có sản phẩm phụ thì công thức tính là:
n
∑
GO =
i =1
QiPi + qi pi .
Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm của các loại i
Pi: Đơn giá sản phẩm chính loại i
qi: Khối lượng sản phẩm phụ loại i
pi: Đơn giá sản phẩm phụ loại i
Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ khoản chi phí vật chất (không tính phần khấu
huyện Đoan Hùng.
- Bưởi Bằng Luân
Ở độ tuổi trung bình 50 – 70 năm, cây bưởi Bằng Luân vẫn cho thu quả
ổn định, đạt chất lượng ngon, ngọt và mọng nước. Giống bưởi Bằng Luân trồng
thích hợp với loại đất phát triển trên phù sa cổ, đất phát triển trên đá biến chất có
sự xen kẹp với thềm phù sa cổ.
Theo kết quả phân tích và đánh giá các yếu tố tạo nên những đặc trưng
của sản phẩm bưởi quả Đoan Hùng thì các xã có diện tích đất thích hợp với cây
bưởi Bằng Luân, bao gồm: Bằng Luân, Minh Lương, Quế Lâm, Bằng Doãn,
Phúc Lai, Tây Cốc, Ngọc Quan, Đông Khê, Nghinh Xuyên, Phương Chung và
Phong Phú. Bưởi Bằng Luân có các đặc điểm nhận biết như sau:
Bảng 1.1:Đặc điểm đặc thù về cảm quan và các chỉ tiêu phân tích chất
lượng của bưởi quả Bằng Luân
ST
Tiêu chí
Diễn giải
T
1
Hình dáng
Hình cầu
2
Kích thước
Quả nhỏ
3
Vỏ quả
Mỏng, màu vàng xám, hơi nâu, túi dầu nhỏ,
mịn
4
Thịt quả
Trắng, mỏng
sở của sự phân chia thành các loại quả chất lượng khác nhau là dựa vào tuổi cây
và một số các đặc điểm của quả về màu sắc, hình dáng, kích thước, trọng lượng,
rôm quả
Từ cách phân loại như vậy, mỗi loại bưởi quả Bằng Luân có các mức giá
khác nhau. Mức giá này có thể chênh lệch từ 2 – 3 lần, thậm chí có thể lên tới 10
lần khi phân loại để bán. Thường thì rất ít hộ trồng bưởi lựa chọn hình thức bán
chọn quả vì họ sẽ gặp phải khó khăn khi tiêu thụ các loại bưởi phẩm cấp thấp,
bởi vậy hình thức bán vo hay bán cả vườn là phổ biến.
Bảng 1.2: Đặc điểm phân loại bưởi quả Bằng Luân
Loại bưởi
Loại 1 (A)
Loại 2 (B)
Loại 3 (C)
Mô tả đặc điểm nhận biết chủ yếu
Trọng lượng quả từ 0,8 – 1,2 kg; đường kính 12 – 13 cm,
núm nhỏ, quả đều, thấp thành, chắc, da mịn, dai tôm, mọng
nước, vị ngọt đậm. Có thể bảo quản được lâu từ 4 – 6 tháng.
Độ tuổi cây trên 20 năm
Trọng lượng quả dưới 0,7 kg hoặc trên 1,3 kg; đường kính
lớn hơn 13 cm, hoặc dưới 10 cm, vị ngọt mát. Có thể bảo
quản được nhưng thường không quá 3 tháng.
Độ tuổi cây từ 10 – 20 năm
Quả bi, quả ngốp, vỏ xấu, vẹo đầu, vị nhạt, tép bưởi khô
Độ tuổi cây từ 6 - 10 năm
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Các tiêu chí nhận biết quả bưởi Bằng Luân loại 1 theo đánh giá của hộ
làm 2 loại:
- Loại 1 (A): Trọng lượng quả từ 1,4 – 1,7 kg; quả đều, cân đối, mầu vàng
sáng, đẹp; vị ngọt thanh. Độ tuổi cây trên 6 năm.
- Loại 2 (B): Quả nhỏ, quả không cân đối, dưới 1,3 kg.
Theo bản thuyết minh đăng bạ chỉ dẫn địa lý Đoan Hùng cho sản phẩm
bưởi quả thì quả bưởi Sửu có các đặc điểm nhận biết như sau:
Bảng 1.3: Đặc điểm đặc thù về cảm quan và các chỉ tiêu phân tích chất
lượng của bưởi quả Sửu
ST
Tiêu chí
Diễn giải
19
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Tiêu chí phân loại chất lượng bưởi Sửu bao gồm: giống, kích thước, trọng
lượng quả, khu vực chỉ dẫn địa lý... Kết quả đánh giá đặc điểm nhận biết quả bưởi
Sửu đúng giống, chất lượng loại A như sau:
- Hình dáng quả: dạng quả lê
- Kích thước: Đường kính 15 – 17 cm; chiều cao quả 17 – 19 cm
- Trọng lượng quả: Từ 1,2 – 1,6 kg/quả
- Vỏ quả: Hơi sần sùi, màu vàng sáng
- Múi: Đều và dóc múi, dóc hạt
- Tôm: Giòn, ráo tôm, róc tôm
- Mùi: Mùi thơm đặc trưng
- Vị: Ngọt mát
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Kết quả này được đưa ra trong hội nghị PRA với sự tham gia của hộ trồng
bưởi, các tiêu chí đánh giá đối với quả giống bưởi Sửu loại A đều đạt được sự
đồng thuận rất cao.
1.2.2. Thời vụ
* Thời vụ trồng bưởi Bằng Luân thích hợp:
20
- Vụ xuân: từ 5/2 – 15/4 dương lịch.
- Vụ thu: từ 15/8 – 15/10 dương lịch.
* Thời vụ thu hoạch:
- Bưởi Bằng Luân: trong khoảng tháng 10 – tháng 11 dương lịch
21
CHƯƠNG 2
2.1.2. Khí hậu,thủy văn
a. Khí hậu
Xã Bằng Luân chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu trung du miền
núi phía Bắc (nằm trong tiểu vùng khí hậu II của tỉnh Phú Thọ) với các đặc điểm
sau:
- Lượng bốc hơi: Bình quân năm là 911,2mm, bằng khoảng 64% so với
lượng mưa trung bình năm.
- Về chế độ gió: Chủ yếu có 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Đông Bắc là hướng gió thịnh hành về mùa khô, xuất hiện từ
tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thường kéo theo không khí lạnh và khô
hanh.
+ Gió Đông Nam, xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 gió mang theo độ ẩm
và hơi nước nhiều, cường độ gió mạnh khá mạnh.
+ Gió Tây Nam, thường xuất hiện trong tháng 4 - 5. Gió Tây Nam rất
nóng, khô đó là nguyên nhân chính làm cho khí hậu vùng thay đổi thất thường
giữa các tháng trong năm, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
- Sương muối, thường xuyên xuất hiện vào tháng 12 năm trước và tháng 1
năm sau, cùng với các yếu tố khí hậu khác trong thời kỳ này, ảnh hưởng xấu đến
trồng trọt.
Sự có mặt của hai con sông lớn là sông Lô và sông Chảy tạo ra một kiểu
khí hậu đặc trưng cho xã Bằng Luân, huyện Đoan Hùng. Đây chính là một trong
những yếu tố tạo nên hương vị đặc trưng của bưởi Đoan Hùng. Điều này được
giải thích bởi sự tác động của những con sông đến các đặc trưng. Khí hậu tạo
nên chất lượng của hoa quả đặc sản. Bên cạnh đó, chế độ nước trong đất cũng
được đánh giá là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoa quả đặc
sản.
23
24
nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp cũng như nhu cầu nước sử dụng sinh
hoạt cho nhân dân.
2.1.3. Tài nguyên đất và nước
a. Tài nguyên đất
Trên địa bàn xã, nguồn đất thích hợp phát triển cây bưởi là khá đa dạng,
chủ yếu là đất vườn tạp, đất màu đồi và một phần từ đất trồng cọ và cây lâm
nghiệp. Đất trong vùng có hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến khá, gồm
đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng, hiện trạng sử dụng
đất được thể hiện thông qua bảng 2.1.
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất trong khu vực xã Bằng Luân
Loại đất
Mã
Diện
tích (ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích đất tự nhiên
1764,51 100,00
1. Đất nông nghiệp
NNP
1622,23 91,90
1.1. Đất sản xuất nông nghiệp
SXN
CSD
6,11
0,40
(Nguồn phòng địa chính UBND xã Bằng Luân)
Kết quả nghiên cứu hiện trạng vùng trồng bưởi trên địa bàn xã Bằng Luân
cho thấy, bưởi tập trung chủ yếu trên đất nông nghiệp chiếm 91,10%, chủ yếu là
đất vườn và đồi thấp. Bưởi được trồng chủ yếu theo hình thức xen ghép với chè,
cây rau mầu và các cây ăn quả khác, ít có những vườn chuyên canh bưởi. Gần
đây, xã Bằng Luân cũng chú trọng đến một số giải pháp như dồn đổi ruộng đất,
chuyển đổi mục đích sử dụng đất và quy hoạch đất ở những khu đất công để tạo
ra các vùng trồng bưởi tập trung. Đất nông nghiệp chiếm 1622,23ha cũng chiếm
đa số diện tích trồng bưởi của xã, trong đó đất đỏ được tập trung chủ yếu tại xã
25