So sánh hiệu quả của olanzapin và haloperidol trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần trung ương 1 - Pdf 54

Tóm tắt luận văn
I- Mục tiêu: So sánh hiệu quả của olanzapin và haloperidol trong điều trị bệnh tâm
thần phân liệt với 2 mục tiêu chính:
- So sánh tác dụng lâm sàng của olanzapin và haloperidol trong điều trị
- So sánh tác dụng không mong muốn của hai thuốc
II- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: gồm 90 bệnh nhân tâm thần phân liệt, chẩn đoán theo
ICD-10. Chia ngẫu nhiên làm 2 nhón, một nhóm dùng olanzapin, một nhóm dùng
haloperidol. Thời gian nghiên c ứu 60 ngày
- Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu can thiệp có đối chứng.
- Chỉ tiêu nghiên cứu: đánh giá hiệu quả của 2 thuốc dựa vào thang đánh giá BPRS
qua các mức giảm điểm
+ Đánh giá sự thuyên giảm các triệu chứng dương tính và âm tính
+ Đánh giá tác dụng không mong muốn hai thuốc
III- Kết quả nghên cứu:
- Hiệu quả điều trị của hai thuốc:
+ Với các triệu chứng dương tính, hiệu quả điều trị của hai thuốc là tương đương
nhau.
+ Với các triệu chứng âm tính, hiệu quả điều trị của olanzapin cao hơn so với
haloperidol.

+ Có đáp ứng tốt nhóm dùng olanzapin 45.7%, nhóm dùng haloperidol 15.6%
- Tác dụng không mong muốn của hai thuốc: nhóm dùng olanzapin có tỉ lệ xuất
hiện các tác dụng không mong muốn cũng như mức độ biểu hiện đều có xu hướng
thấp hơn và nhẹ hơn so với nhóm dùng haloperidol. Cụ thể:
+ Hội chứng Pakinson do thuốc, chứng bồn chồn đứng ngồi không yên, các rối
loạn loạn động cấp và bất động ở nhóm điều trị bằng haloperidol có tỉ lệ cao hơn và
mức độ nặng hơn so với nhóm điều trị bằng olanzapin.
+ Olanzapin gây buồn ngủ nhiều hơn haloperidol.
+ Cả hai thuốc đều gây tăng cân trên bệnh nhân nghiên cứu nhưng olanzapin gây
tăng cân nhiều hơn haloperidol (tương ứng 3.1kg và 1.3kg).

olanzapin mới chỉ xuất hiện khoảng vài năm gần đây và chưa được sử dụng rộng
rãi trong điều trị, nên chưa có một nghiên cứu nào đánh giá, so sánh hiệu quả của
nó với những thuốc đã và đang được sử dụng phổ biến trong điều trị TTPL một
cách hệ thống.


2

Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài So sánh hiệu quả của olanzapin và
haloperidol trong điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần
trung ương 1 nhằm mục tiêu sau:
1. So sánh tác dụng lâm sàng của olanzapin và haloperidol trong điều trị
bệnh tâm thần phân liệt.
2. So sánh tác dụng không mong muốn của hai thuốc trên ở bệnh nhân
nghiên cứu.
Từ đó có ý kiến đề xuất với bệnh viện về việc sử dụng olanzapin và haloperidol
trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt.


3

PHầN i. Tổng quan
1.1. Vài nét về bệnh tâm thần phân liệt.
1.1.1. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, căn nguyên hiện nay chưa được làm
rõ, bệnh tiến triển từ từ, làm biến đổi nhân cách người bệnh một cách sâu sắc, tức là làm
cho họ tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu vào thế giới nội tâm (thế giới tự kỷ),
cảm xúc ngày càng khô lạnh, cùn mòn, tư duy nghèo nàn, năng lực học tập và làm việc
ngày một sút kém, hành vi tác phong trở nên kỳ dị khó hiểu, một số bệnh nhân có thể trở
thành mất trí [26].

GABA... Một hướng nghiên cứu được chú ý nhiều nhất gần đây là giả thuyết về rối
loạn hoạt động của dopamin ở não [1], [9].
Một số nghiên cứu đã cho thấy bệnh tâm thần phân liệt có liên quan tới rối
loạn chuyển hóa dopamin và hệ thống dopaminergic. Dopamin tăng trong giai đoạn
cấp tâm thần phân liệt và giảm thấp khi bệnh ổn định. Tác dụng của thuốc hướng
tâm thần làm cho nồng độ dopamin trở lại bình thường và làm cho các rối loạn tâm
thần ổn định [13], [17].
Sự tăng hoạt động của hệ thống dopamin đi từ vùng trung não đến hồi viền sẽ
dẫn đến các triệu chứng dương tính như: hoang tưởng, ảo giác, tăng vận động.., còn
giảm sự hoạt động của hệ thống dopamin đi từ vùng trung não đến vỏ não sẽ dẫn
đến các triệu chứng âm tính như: cảm xúc cùn mòn, thu hẹp xă hội [13]. Cơ sở
khoa học của học thuyết này là hiệu quả điều trị của thuốc hướng tâm thần, làm
phong tỏa receptor dopamin để làm mất các triệu chứng loạn thần cơ bản của TTPL.
- Rối loạn cấu trúc và chức năng não: qua nghiên cứu cấu trúc não của những
bệnh nhân tâm TTPL, người ta nhận thấy có rối loạn cấu trúc vùng trán chẩm, đỉnh
và giảm kích thước trước sau của não. Các thay đổi bao gồm giãn rộng não thất bên
và não thất ba, giảm thể tích vỏ não, giảm thể tích các thuỳ thái dương và đồi thị. Về
chức năng nhận thấy giảm dòng máu đi vào vỏ não thuỳ trán từng bên. Có tác giả
qua nghiên cứu thấy rằng: trong bệnh TTPL thấy giảm thể tích thuỳ thái dương và
thuỳ trán trung tâm [1], [17].


5

- Nơi sinh và mùa sinh: nguy cơ phát triển bệnh TTPL tăng lên khoảng 10%
trên những người sinh vào mùa đông hoặc mùa xuân, và những người sinh ở thành
phố có nguy cơ tăng gấp hai lần so với những người sinh ở nông thôn [17].
- Yếu tố tâm lý - xã hội: một số tác giả cho rằng stress là một nguy cơ tiềm
tàng cho sự bắt đầu của các rối loạn tâm thần rõ rệt ở những người nhạy cảm, đặc
biệt ở những thanh thiếu niên và vị thành niên. Các yếu tố stress cũng có thể là mâu

+ Cảm xúc không thích hợp: là trạng thái cảm xúc không tương ứng với kích
thích như khi có tin vui thì khóc, tin buồn lại cười sung sướng, thiếu tình cảm với
người thân, bàng hoàng lạnh nhạt với những thích thú trước đây Theo Kaplan H.I.
và Sacdoc B.J., trạng thái cảm xúc này là do sự mất tính thống nhất giữa các biểu
hiện cảm xúc với nội dung tư duy.
- Các rối loạn tư duy:
+ Ngôn ngữ nghèo nàn: giảm vốn từ, lượng từ khi giao tiếp, giảm sút các ý
tưởng diễn đạt, nội dung sơ sài, đơn điệu, đôi khi vô nghĩa.
+ Tư duy chậm chạp: bệnh nhân phải suy nghĩ lâu mới trả lời câu hỏi.
+ Tư duy ngắt quãng: dòng suy nghĩ của bệnh nhân bị cắt đứt, đang nói chuyện
bệnh nhân dừng không nói, một lúc sau mới nói tiếp nhưng chuyển sang chủ đề
khác.
- Rối loạn hoạt động có ý chí: thiếu ý chí, mất khả năng khởi đầu của ý chí,
giảm khả năng duy trì và kiểm soát hoạt động có ý chí như: lười nhác, thụ động,
thiếu sáng kiến trong học tập, lao động, bệnh nhân né tránh xã hội, ngại giao tiếp,
mất sự chủ động cởi mở trong giao tiếp, kém chăm sóc bản thân (ăn mặc lôi thôi,
phải nhắc nhở hàng ngày), sống vào thế giới tự kỷ.
- Các rối loạn hoạt động bản năng:
+ Rối loạn giấc ngủ: thường ngủ ít nhưng cũng có khi ngủ nhiều, hoặc rối loạn
nhịp sinh học giấc ngủ.
+ Rối loạn ăn uống: ăn ít, bỏ ăn, có thể ăn nhiều, ăn vô độ, có khi ăn bẩn...
+ Rối loạn bản năng tình dục: giảm hoặc mất ham muốn tình dục, cũng có khi
giải tỏa bản năng tình dục.
+ Những xung động bản năng như: xung động đi lang thang, xung động trộm
cắp, xung động đốt nhà, xung động giết người.
1.1.3.2. Nhóm triệu chứng dương tính
Các triệu chứng này rất phong phú, đa dạng, phát sinh trong quá trình diễn biến
bệnh, xuất hiện nhất thời rồi mất đi hay được thay thế bằng các triệu chứng dương tính



+ Hoang tưởng được yêu: bệnh nhân cho rằng có người nào đấy, hay nhiều
người yêu mình.


8

+ Hoang tưởng kỳ quái: bệnh nhân cho rằng mình không còn tim, óc, dạ dày,
nội tạng bị hư hỏng, có thể nói chuyện với người âm, điều khiển thời tiết, mưa
nắng...
- Các rối loạn tri giác: chủ yếu là các ảo giác bao gồm :
+ ảo thanh: người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các bộ phận trên cơ thể,
thường gặp là tiếng nói rất rõ ràng với nội dung như mắng chửi, doạ nạt, ra lệnh, chế
diễu, khen ngợi, bình phẩm v.v... ảo thanh độc thoại: BN nghe thấy giọng nói của
chính mình trò chuyện trong đầu, đây là ảo thanh khá điển hình trong TTPL.
+ ảo thị: cũng thường gặp và hay kết hợp với ảo thanh, bệnh nhân nhìn thấy
người, súc vật, ma quỷ, phong cảnh, cảnh tượng v.v...
+ ảo giác vị giác và ảo giác xúc giác rất hiếm gặp.
- Các rối loạn hoạt động :
+ Rối loạn hoạt động ở bệnh nhân TTPL rất đa dạng và phong phú. Có thể có
những hành vi thô bạo, hung hãn như đập phá, đánh người..., các rối loạn này đa số
là do hoang tưởng, ảo giác chi phối.
+ Kích động: xuất hiện ở bệnh nhân phân liệt trẻ tuổi và mang tính chất dữ dội,
mãnh liệt. Đó là những động tác si dại, lố bịch, vô nghĩa, thiếu tự nhiên như đùa cợt
thô bạo, nhảy nhót, gào thét, đập phá v.v...
+ Kích động căng trương lực: với những động tác dị thường, vô ý nghĩa như
rung đùi, lắc người nhịp nhàng, mắt trừng trừng, vỗ tay...
1.1.4. Chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt
Hiện nay, việc chẩn đoán bệnh TTPL chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng là
chính, chưa có một xét nghiệm cận lâm sàng nào giúp chẩn đoán xác định bệnh. Vì
vậy việc chẩn đoán bệnh TTPL còn tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của các thầy thuốc,

e - ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua
hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng
quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
f - Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay
lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.
g - Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp,
phủ định, không nói, hay sững sờ.
h - Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp
ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm
sút hiệu suất lao động xã hội, phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm
cảm hay do thuốc an thần kinh gây ra.
i - Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá
nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mê mải suy
nghĩ về bản thân và cách ly xã hội.


10

Không chẩn đoán bệnh TTPL khi có rối loạn cảm xúc, trầm cảm hay hưng
cảm, tổn thương thực thể, động kinh hay trạng thái nhiễm độc chất ma tuý.
- Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán:
Yêu cầu thông thường của một chẩn đoán bệnh nhân tâm thần phân liệt là ít
nhất phải có một triệu chứng rất rõ (nếu ít rõ thường phải hai triệu chứng hay nhiều
hơn nữa) thuộc vào nhóm một trong các triệu chứng liệt kê từ (a) đến (d) ở trên hoặc
có ít nhất là hai trong nhóm các triệu chứng liệt kê từ (e) đến (h). Các triệu chứng ở
trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu hơn.
1.1.5. Các thể lâm sàng [3], [5]
- TTPL thể loại hoang tưởng (Paranoid):
+ Hội chứng chiếm ưu thế: hoang tưởng tương đối ổn định, có ảo giác kèm
theo, đặc biệt là ảo thanh, các rối loạn cảm xúc, ý chí, ngôn ngữ và các triệu chứng

+ Hoang tưởng ảo giác mờ nhạt, không đáng kể.
- TTPL thể không biệt định:
+ Đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL.
+ Trong bệnh cảnh không biểu lộ các triệu chứng thoả mãn các tiêu chuẩn để
xếp vào thể hoang tưởng hoặc các thể trên.
1.1.6. Điều trị
Điều trị bệnh tâm thần phân liệt cho đến nay vẫn là điều trị triệu chứng và
phục hồi chức năng vì cơ chế bệnh sinh của bệnh chưa được xác định rõ. Do có sự
kết hợp giữa các nhân tố sinh học và môi trường trong cơ chế bệnh sinh nên phải kết
hợp nhiều liệu pháp điều trị khác nhau như sau:
- Liệu pháp tâm lý: tiếp xúc người bệnh với thái độ thông cảm, nâng đỡ, chia
sẻ, giải quyết nhu cầu và mâu thuẫn của người bệnh tại gia đình và cộng đồng ...
- Liệu pháp phục hồi chức năng: tham gia lao động, vui chơi giải trí, tái thích
ứng xã hội.
- Liệu pháp hoá dược: là liệu pháp thông dụng nhất, có hiệu quả nhất trong
điều trị các trạng thái loạn thần cấp và chống lại khuynh hướng mạn tính, tái phát
của bệnh và cần được áp dụng sớm cho BN.
Các thuốc hoá dược có tác dụng hướng tâm thần hầu hết là thuốc độc thường
phải dùng liều cao, dài ngày nên khi sử dụng, cần phải tuân thủ những nguyên tắc
sau:
+ Chọn thuốc phải phù hợp với triệu chứng lâm sàng. Ví dụ: haloperidol,
terfluzine có tác dụng tốt với triệu chứng hoang tưởng, ảo giác; clorpromazin có tác


12

dụng tốt với triệu chứng kích động, bất an; sulpirid và clozapin có tác dụng tốt với
các triệu chứng âm tính,...
+ Chọn liều thích hợp với sự dung nạp của từng bệnh nhân: với trẻ em và người
già, phải bắt đầu bằng liều thấp và tăng liều từ từ.


a- Những thuốc gây trạng thái thờ ơ về tâm thần vận động.
b- Làm giảm các triệu chứng tâm thần cấp và mạn tính
c- Làm giảm sự tiến triển các triệu chứng tâm thần cấp và mạn tính.
d- Gây hội chứng ngoại tháp và rối loạn thần kinh thực vật.
e- Có hiệu quả ưu thế ở phần dưới vỏ não, tham gia vào hiệu quả chống loạn thần.
- Tác dụng của thuốc an thần kinh:
Thuốc an thần kinh chủ yếu để điều trị TC loạn thần, do đó còn gọi là thuốc
chống loạn thần (antipsychotic), chúng có 3 tác dụng:
+ Tác dụng chống những TC dương tính như hoang tưởng, ảo giác.
+ Tác dụng êm dịu, làm giảm những kích động vận động và lo âu.
+ Tác dụng chống những TC âm tính và sự sa sút ở bệnh nhân TTPL
1.2.2. Phân loại
1.2.2.1. Phân loại theo tác dụng lâm sàng
Theo Deniker, các thuốc an thần kinh tuỳ theo tác dụng êm dịu, chống loạn
thần và giải ức chế, được phân ra làm 4 nhóm [2]:
a- Các an thần kinh êm dịu: clorpromazin, levopromazin...
b- Các an thần kinh trung gian: thioridazin, propericiazin...
c- Các an thần kinh đa năng: haloperidol, flufenazin...
d- Các an thần kinh giải ức chế: sulpirid, trifluperidol...
1.2.2.2. Phân theo cấu trúc hoá học
Các ATK được phân loại thành các nhóm theo cấu trúc hóa học (Bảng 1.1).
Bảng 1.1. Phân loại ATK theo cấu trúc hoá học.
Nhóm

Tên thuốc

Phenothiazin
Clorpromazin, Thioridazin, Levomepromazin...
Butyrophenon


R

R

R

thần kinh có thể gắn vào tất cả các receptor này nhưng ở mức độ khác nhau. Tác
dụng chống loạn thần chủ yếu liên quan tới khả năng ức chế receptor D 2 ở não.
R

R

- Các thuốc an thần kinh thế hệ thứ nhất đối kháng mạnh thụ thể D 2 dưới vỏ vì
R

R

vậy có tác dụng chống loạn thần, đồng thời gây hội chứng ngoại tháp ở liều điều trị
có hiệu quả, tỷ lệ đối kháng thụ thể D 2 ở thể vân trên 80% và tỷ lệ này cũng gây
R

R

ngoại tháp.
- Các thuốc ATK thế hệ thứ 2 điều hoà cân bằng dopamin ở vỏ trán trước và
dưới vỏ bằng hai cách:
+ Đối kháng yếu D 2 dưới vỏ có tác dụng chống loạn thần không gây hội chứng
R


Rối loạn loạn động cấp thường kèm theo lo sợ nhưng không thay đổi ý thức.
- Bất động: chậm chạp vận động, cảm xúc thờ ơ, ngủ gà nhưng không ngủ thực
sự, nét mặt ít biểu cảm, nhìn cố định, lời nói đơn điệu...
- Hội chứng bất động tăng trương lực (hội chứng Parkinson do thuốc ATK):
biểu hiện bằng sự chậm chạp vận động, tăng trương lực cơ, uốn sáp, mất vận động tự
động, giữ nguyên dáng..., run khi nghỉ và run tư thế, nhịp chậm, run tăng lên khi xúc
động, bị lạnh, mệt mỏi, tăng tiết nước bọt. Các biểu hiện này được tóm tắt trong sơ
đồ ở hình 1.1. và các thuốc dùng để điều trị và dự phòng được biểu diễn trong sơ đồ
ở hình 1.2.

Biểu hiện lâm sàng

RL ngoại tháp
vận động

-Tăng trương lực cơ
- xoắn vặn cơ thể
- Nét mặt cứng đờ
- Vận động khó khăn
- Nói ngọng
- Động tác định hình

RL ngoại tháp
thực vật

-Tăng tiết nước bọt
- Run đầu chi và cơ vòng môi
- Tăng tiết mồ hôi,chất nhờn ở da
- Hoảng hốt lo sợ


+ Hạ huyết áp khi thay đổi tư thế, thường gặp khi sử dụng các an thần kinh êm
dịu như levomepromazin, clorpromazine.
- Tác dụng phó giao cảm: khô miệng táo bón, bí đái, tăng nhãn áp.
- Tác dụng trên điều hoà thân nhiệt: giảm hoặc tăng thân nhiệt.


17

- Hội chứng an thần kinh ác tính: thường xảy ra khi mới sử dụng hoặc sau 23 tuần sử dụng ATK, có thể gặp ở BN thay đổi thuốc an thần kinh khi đang được
điều trị lâu dài, ở người già, ở những BN lần đầu tiên sử dụng ATK, sử dụng đường
tiêm, có tiền sử bệnh não, những người nghiện rượu, nghiện ma tuý đồng thời với
điều trị bằng ATK.
Dấu hiệu báo động là sự tăng dần thân nhiệt trong vòng 36-48h (không do
nhiễm trùng, say nắng). Sự tăng này kèm theo sự trầm trọng thêm của các triệu
chứng ngấm thuốc.
Tiến triển trong vài giờ, nhiệt độ của BN có thể tăng tới 40C cùng với các triệu
chứng xanh nhợt, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, hội chứng ngoại tháp mạnh, co cứng và
bất động, nhịp tim nhanh: 130-140lần/phút, HA thay đổi, không ổn định, ý thức thường
không rối loạn nhưng bệnh nhân mệt lả, lo âu. Nếu không được điều trị kịp thời thì bệnh
nhân có thể dẫn đến hôn mê và tử vong [2].
Ngoài các tác dụng không mong muốn trên, các thuốc ATK còn có các tác
dụng không mong muốn khác như rối loạn nội tiết (tăng tiết sữa cả nam lẫn nữ, tăng
cân, bất lực tình dục ở nam, mất kinh ở nữ...), các rối loạn tâm thần thứ phát (buồn
ngủ, lú lẫn, giảm cảm xúc, trầm cảm...).
1.2.5. Hai thuốc được sử dụng trong nghiên cứu
1.2.5.1. Haloperidol [ 4], [ 6]
- Cấu trúc hoá học:
F

OH

dụng chống nôn mạnh. Trong số những tác dụng lên hệ thần kinh trung ương còn có
tác dụng lên hệ ngoại tháp. Haloperiod có ít tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm: ở
liều bình thường, thuốc không có tác dụng kháng adrenalin cũng như kháng cholin.
Vì cấu trúc của haloperidol gần giống acid gama-amino-butyric, haloperidol không
có tác dụng kháng histamin, nhưng có tác dụng mạnh giống papaverin trên cơ trơn .
- Dược động học:
+ Sau khi uống, haloperidol được hấp thu 60-70% ở đường tiêu hóa. Nồng độ
đỉnh của thuốc trong huyết tương đạt được sau khoảng 4-6 giờ. Thời gian bán thải
24 giờ. Trạng thái cân bằng đạt được sau một tuần. Nồng độ thuốc trong huyết thanh
biến đổi nhiều giữa các người bệnh.
+ Chuyển hoá: haloperidol chuyển hóa chủ yếu qua cytochrom P 450 của
R

R

microsom gan, chủ yếu bằng cách khử ankyl oxy hóa, vì vậy có sự tương tác khi
haloperdol điều trị đồng thời với những thuốc gây cảm ứng hoặc ức chế những
enzym oxy hóa thuốc ở gan.
+ Thải trừ: haloperidol bài tiết vào phân 20% và vào nước tiểu 33%, chỉ có
1% thuốc được bài tiết qua thận ở dạng không bị chuyển hoá. Chất chuyển hóa
không có tác dụng dược lý.
- Chỉ định:
Trong chuyên khoa tâm thần: các trạng thái kích động tâm thần-vận động có
những nguyên nhân khác nhau (trạng thái hưng cảm, cơn hoang tưởng cấp, mê
sảng), trạng thái loạn thần mạn tính (hoang tưởng mạn tính, hội chứng paranoia,
bệnh tâm thần phân liệt), trạng thái mê sảng lú lẫn kèm theo kích động, hành vi gây
gổ tấn công, các bệnh tâm căn và cơ thể tâm sinh có biểu hiện lo âu (dùng liều thấp).
- Chống chỉ định:



thể có sự dung nạp với nhiều tác dụng phụ, nên tương tác thuốc có lẽ quan trọng
nhất trong giai đoạn sớm của điều trị kết hợp. Phải thận trọng khi điều trị
haloperidol đồng thời với các chất sau:
+ Rượu: vì có thể xẩy ra chứng nằm ngồi không yên.


20

+ Các thuốc chống trầm cảm ba vòng: vì có thể có tác dụng dược lý hiệp đồng
như tác dụng kháng muscarin hoặc hạ huyết áp, hoặc có tương tác dược động học,
và có sự ức chế lẫn nhau của những enzym gan liên quan đến chuyển hoá của thuốc
an thần và thuốc chống trầm cảm 3 vòng. Dùng đồng thời haloperidol với các thuốc
chống trầm cảm có thể kéo dài và làm tăng tác dụng an thần.
+ Carbamazepin, rifampicin: vì các thuốc này gây cảm ứng enzym oxy hoá ở
gan (cytochrom P 450 ) dẫn đến giảm nồng độ haloperidol trong huyết tương.
+ Methyldopa: vì có thể gây hạ huyết áp một cách đáng kể.
R

R

+ Levodopa: vì có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng rối loạn
tâm thần và haloperidol có thể làm giảm tác dụng điều trị của levodopa.
- Liều lượng và cách dùng:
+ Cách dùng: haloperidol có thể uống hoặc tiêm bắp.
+ Liều lượng: liều lượng tùy theo từng người bệnh, bắt đầu từ liều thấp trong
phạm vi liều thường dùng. Sau khi có đáp ứng tốt (thường trong vòng 3 tuần), liều
duy trì thích hợp phải được xác định bằng giảm liều đến liều thấp nhất có hiệu quả.
Người lớn: ban đầu 1,5 - 5mg, 2-3 lần/24 giờ.
Trẻ em: trẻ em dưới 3 tuổi chưa xác định được liều. Trẻ từ 3-12 tuổi liều ban
đầu 0,025 0,05 mg/kg mỗi ngày, chia làm 2 lần.


- Tên khoa học: 2-methyl-4-(4-methyl-1-piperazinyl)-10H-thieno[2,3-b]
[1.5] benzodiazepin.
- Dạng thuốc: dạng viên nén chứa hoạt chất olanzapin 5mg hoặc10mg.
ống tiêm hàm lượng 2,5mg, 05mg, 7,5mg.


21

- Dược lý và cơ chế tác dụng:
+ Dược lý: olanzapin là thuốc chống loạn thần có hoạt tính dược lý rộng trên
một số hệ receptor như serotonin 5HT 2A/2C , dopamin D 1-4 ,
R

R

R

R

R

muscarinic M 1-5 ,

R

R

R


- Dược động học:
+ Hấp thu: olanzapin được hấp thu tốt qua đường tiêu hoá, đạt được nồng độ
đỉnh trong huyết tương trong vòng 5 đến 8 giờ sau khi uống. Thức ăn không ảnh
hưởng đến sự hấp thu của thuốc. Nồng độ olanzapin trong huyết tương là tuyến tính
và tỷ lệ với liều dùng trong các thử nghiệm nghiên cứu có liều dùng từ 1-20 mg.
+ Phân bố: olanzapin phân bố rộng khắp cơ thể, tỷ lệ liên kết với protein huyết
tương là 93%. Olanzapin gắn kết chủ yếu với albumin và 1 -acid-glycoprotein.
R

R

+ Chuyển hóa: olanzapin được chuyển hóa tại gan qua cơ chế liên hợp với
gluconid và oxy hoá qua cytochrom P 450 . Chất chuyển hoá lưu thông chính là 10-NR

R

glucoronid và không qua được hàng rào máu não. Các cytochrom P 450 tham gia vào
R

R

việc tạo ra các chất chuyển hoá N-desmethyl và 2-hydroxymethyl, các chất chuyển
hoá này không có hoạt tính sinh học.
+ Thải trừ: thời gian bán thải trung bình ở người khoẻ mạnh thay đổi phụ thuộc
vào tuổi và giới.
Sau khi dùng đường uống ở người khoẻ mạnh, thời gian bán thải trung bình là
33 giờ và độ thanh thải huyết tương trung bình là 26 lít/giờ . ở người trên 65 tuổi
khoẻ mạnh, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (51,8 so với 33,8 giờ) và độ
thanh thải giảm đi (17,5 so với 28,2 lít/giờ) so với người trẻ tuổi.
ở phụ nữ, thời gian bán thải trung bình kéo dài hơn (36,7 so với 32,3 giờ)

+ Nên điều chỉnh liều với người cao tuổi.
+ Nếu có loạn động muộn cần giảm liều hoăc ngừng thuốc.
+ Olanzapin có tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương, phải cẩn thận
khi dùng kết hợp với rượu và các thuốc có tác dụng trên hệ thần kinh trung ương.
- Chống chỉ định: người có tiền sử mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của
thuốc và người bệnh đã có nguy cơ bệnh glocom.
- Tương tác thuốc:


23

+ Than hoạt làm giảm sinh khả dụng đường uống của olalzapin từ 50-60%.
+ Carbamazepin làm tăng độ thanh thải của olanzapin 44%.
+ Người hút thuốc lá cũng làm tăng độ thanh thải olanzapin
- Tác dụng không mong muốn:
+ Hay gặp( >10%): buồn ngủ, tăng trọng lượng cơ thể.
+ ít gặp (1-10%): chóng mặt, tăng cảm giác ngon miệng, phù ngoại biên,
kháng cholinergic nhẹ (khô miệng, táo bón,..). Đôi khi có tăng thoáng qua và không
triệu chứng các enzym transaminase gan (ALT và AST). Hội chứng Parkinson,
chứng đứng ngồi không yên và loạn trương lực cơ cấp hiếm khi xẩy ra.
+ Các tác dụng phụ khác: đôi khi có tăng nồng độ prolactin huyết tương, gây
to vú ở nam giới, chảy sữa, to vú ở nữ giới.
+ FDA khuyến cáo olanzapin gây tăng đường huyết và tăng nguy cơ đái tháo
đường ở người béo phì.


24

Phần 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status