VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ MAI
HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƢỜI Ê-ĐÊ
Ở XÃ CUÔR DĂNG, HUYỆN CƢ M’GAR,
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2019
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................................................................................ 11
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 11
1.2. Cơ sở lý thuyết ................................................................................................... 21
1.3. Khái quát về xã Cuôr Dăng ................................................................................ 29
1.4. Người Ê-đê ở Tây Nguyên và người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng .............................. 34
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM, NGUYÊN TẮC VÀ HÌNH THỨC KẾT HÔN ........... 45
2.1. Một số đặc điểm và tính chất cơ bản trong hôn nhân ........................................ 45
2.2. Một số nguyên tắc - hình thức kết hôn ............................................................... 63
2.3. Một số trường hợp hôn nhân khác ..................................................................... 67
Chƣơng 3: PHONG TỤC VÀ NGHI LỄ TRONG HÔN NHÂN ........................ 81
3.1. Phong tục và nghi lễ trong hôn nhân của những người đồng tộc ...................... 81
3.2. Phong tục, nghi lễ trong hôn nhân của người Ê-đê với người khác tộc ............. 96
3.3. Phong tục, nghi lễ trong hôn nhân của những người cùng và khác tôn giáo ... 101
Nghiên cứu sinh
Nxb
Nhà xuất bản
PGS
Phó giáo sư
QĐ
Quyết định
TP
Thành phố
Tr
Trang
TS
Tiến sĩ
TTg
Thủ tướng
phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và ổn định chính trị ở vùng
Tây Nguyên.
Văn hóa truyền thống của người Ê-đê, trong đó có phong tục tập quán và nghi
lễ hôn nhân là những giá trị được hình thành từ lâu đời, phản ánh đặc trưng tộc
người. Trong những thập niên vừa qua, nhất là thời kỳ đổi mới, quá trình giao lưu
và hội nhập diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực không chỉ ở trong
đời sống người Ê-đê mà còn trong tất cả các tộc người khác. Quá trình ấy đã mang
lại những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, song cũng gây ra những nguy
cơ và thách thức mới, trong đó có sự mai một các giá trị văn hóa truyền thống.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách,
giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội nhằm nâng cao
đời sống cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó, hôn nhân và
gia đình luôn được coi trọng, thể hiện qua việc thực hiện Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam và ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như tập trung xây dựng
đời sống văn hóa mới ở các khu dân cư trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới
hiện nay. Thực tế cho thấy, hiện nay đời sống của phần lớn người Ê-đê còn bị chi
phối ít nhiều ở các mức độ khác nhau bởi phong tục, tập quán, trong đó những
phong tục, tập quán về hôn nhân - gia đình thường có tính bền vững và ăn sâu trong
tâm thức của người dân. Chính vì vậy, mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân và gia
1
đình tiến bộ, đặc biệt là khi có Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên của nước ta
được ban hành năm 1959, gần đây nhất là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và
Nghị định 126 về Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn
nhân và Gia đình (2014) đã bước đầu được đặt trong bối cảnh hướng tới sự hài hòa
giữa pháp luật và phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng pháp luật về hôn nhân đối với người Ê-đê theo mối tương quan với những
qui định của tập quán pháp tộc người đã và đang đặt ra không ít các vấn đề cần giải
hành tại điểm nghiên cứu.
Thứ hai, tìm hiểu những biến đổi trong hôn nhân của người Ê-đê ở điểm
nghiên cứu từ 1975 đến nay, qua đó làm rõ đời sống hôn nhân của đồng bào trong
thời kỳ đổi mới đất nước theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế.
Thứ ba, góp phần đánh giá làm rõ những giá trị cơ bản và các vấn đề đang đặt
ra trong hôn nhân của người Ê-đê hiện nay, qua đó cung cấp cơ sở khoa học phục
vụ cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp nhằm phát huy các giá
trị của hôn nhân trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của người Ê-đê ở điểm
nghiên cứu nói riêng và tộc người này ở Tây Nguyên nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung thực hiện
một số nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu tổng quan về người Ê-đê ở điểm nghiên cứu, nhất là các đặc
điểm liên quan và tác động đến hôn nhân của tộc người này.
- Nghiên cứu làm rõ các đặc điểm, nguyên tắc – hình thức, phong tục tập quán
và nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê hiện nay ở điểm nghiên cứu.
- Đánh giá xu hướng biến đổi và phân tích nguyên nhân biến đổi của các xu
hướng; xác định các giá trị của hôn nhân và những vấn đề đang đặt ra hiện nay... để
từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy các giá trị của hôn nhân
trong quá trình phát triển hiện nay.
3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các vấn
đề hôn nhân hiện nay của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk
Lắk, gồm: quan niệm, đặc điểm, nguyên tắc – hình thức, phong tục và nghi lễ trong
hôn nhân.
thiểu số tại chỗ có sự giao lưu và ảnh hưởng nhất định từ bộ phận cư dân mới đến
này. Quá trình đó đã góp phần hình thành những yếu tố văn hóa mới của tộc người,
biến đổi văn hóa tộc người. Trong đó, hôn nhân và gia đình là một trong những lĩnh
vực biến đổi khá rõ nét.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, luận án đã sử dụng những
phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp luận
- Luận án vận dụng các luận điểm về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của người Ê-đê ở nước ta. Cụ
thể ở đây, NCS luôn đặt hôn nhân nói chung và các vấn đề của hôn nhân nói riêng
trong một hệ thống gồm các thành tố lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường tự
nhiên và con người ở cộng đồng nghiên cứu trong mối liên quan và sự tương tác lẫn
nhau và với các cộng đồng khác. Quá trình đó đã góp phần tạo ra sự giao lưu tiếp
biến về nhiều mặt để dẫn đến việc hôn nhân của người Ê-đê tại địa bàn nghiên cứu
vừa giữ được những đặc trưng truyền thống của tộc người, của vùng miền, nhưng
cũng luôn có sự biến đổi để thích nghi với các điều kiện mới.
- Luận án đã vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tộc người
nói chung và hôn nhân gia đình của các tộc người thiểu số nói riêng, nhất là Luật
Hôn nhân và Gia đình hiện hành và Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam trong
bối cảnh hiện nay. Những quan điểm này là các định hướng quan trọng để luận án
giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của luận án, nhất là xác định các giá
trị và hạn chế của hôn nhân hiện nay để đề xuất một số khuyến nghị khoa học liên
quan nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân trong bối cảnh hiện nay.
5
Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê và kế thừa các tài liệu có sẵn: Nghiên cứu sinh đã đọc và xử lý tài
được chuẩn bị trước với hệ thống câu hỏi mở để người trả lời có thể có nhiều lựa
chọn khi đưa ra ý kiến của mình.
Nghiên cứu sinh tiến hành thảo luận nhóm tại địa bàn nghiên cứu để thu thập
thông tin định tính. Đối tượng thảo luận trong một nhóm thường có sự thống nhất
chung như nhóm cán bộ buôn làng, nhóm đàn ông lớn tuổi, nhóm phụ nữ trung
niên,... Hướng thảo luận nhóm tập trung vào các vấn đề cụ thể như: tình hình đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội, các phong tục, tập quán liên quan đến hôn nhân từ
truyền thống đến hiện tại, việc vận dụng luật tục và luật pháp trong thực hành hôn
nhân ở địa phương cũng như những nguyện vọng của người dân trong việc bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa tộc người.
Nghiên cứu sinh đã tham dự 5 lễ ăn hỏi có nghi thức tổ chức theo phong tục
truyền thống, 7 đám cưới tổ chức theo cách thức người Việt (trong đó có 4 đám
cưới của người Ê-đê kết hôn với người Ê-đê, 1 đám cưới người Ê-đê kết hôn với
người Tày, 1 đám cưới người Ê-đê kết hôn với người Việt, 1 đám cưới người Ê-đê
kết hôn với người Gia-rai); tham dự 1 lễ đính hôn của người Ê-đê tại Chi hội Tin
Lành Cuôr Dăng, 1 lễ cưới của người Ê-đê theo Công giáo ở giáo xứ Thiên Đăng.
Trong quá trình điền dã, NCS áp dụng các công cụ bổ trợ như chụp ảnh, sưu tầm
các tư liệu về văn học nghệ thuật dân gian, tài liệu thư tịch của tộc người Ê-đê liên
quan đến đề tài luận án.
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được áp dụng thông qua các
cuộc tọa đàm hẹp, thảo luận, trao đổi theo từng vấn đề chuyên sâu, nhằm thu thập tư
liệu và kinh nghiệm nghiên cứu từ các chuyên gia, những cán bộ và người dân có uy
tín và am hiểu trong cộng đồng ở địa phương tiến hành điền dã. Trong quá trình
thực hiện luận án, NCS đã tiến hành nhiều cuộc trao đổi với các nhà khoa học trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Bên cạnh đó cũng tranh thủ ý kiến của các nhà quản
lý, cán bộ phụ trách về văn hóa, dân số của xã; các già làng,... để thu thập những ý
kiến đánh giá chuyên sâu và những kinh nghiệm của họ đối với vấn đề nghiên cứu.
- Sử dụng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu
8
Ngoài ra, luận án còn tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu trước,
luận án, luận văn, những tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, nhất là các ấn
phẩm về hôn nhân nói chung và của người Ê-đê nói riêng đã công bố; Bên cạnh đó,
còn tham khảo một số báo cáo của địa phương liên quan đến điều kiện địa lý, đặc
điểm dân cư, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn và đối tượng nghiên cứu.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tương đối toàn diện và có tính
hệ thống về đặc điểm, nguyên tắc - hình thức, phong tục tập quán và nghi lễ hôn
nhân của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án góp phần làm rõ những đặc trưng của
người Ê-đê tại điểm nghiên cứu trong các vấn đề hôn nhân hiện nay cũng như phân
tích đánh giá về các nguyên nhân tác động đến xu hướng biến đổi trong hôn nhân
của người Ê-đê ở xã Cuôr Dăng, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Luận án góp phần bổ sung những tư liệu mới, trên cơ sở đó xác định được
các giá trị của hôn nhân và một số vấn đề về hôn nhân đang đặt ra hiện nay cần
quan tâm. Kết quả thu được sẽ cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp các cơ
quan quản lý xây dựng và thực hiện các chính sách, giải pháp phù hợp nhằm đưa
Luật Hôn nhân và Gia đình, chính sách xây dựng đời sống mới trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình vào thực tiễn tộc người Ê-đê hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và làm rõ những quan niệm, đặc điểm,
hình thức - nguyên tắc, phong tục tập quán và nghi lễ hôn nhân của người Ê-đê
đang thực hành tại điểm nghiên cứu. Qua đó cung cấp hệ thống tư liệu khoa học
mới góp phần bổ sung các khái niệm và lý luận về hôn nhân ở cộng đồng còn theo
chế độ mẫu hệ khá điển hình của nước ta trong bối cảnh hiện tại. Đồng thời luận án
cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần áp dụng Luật Hôn nhân và Gia
đình, nhưng phải tới năm 1861 khi Bacofell xuất bản tác phẩm Mẫu quyền, trong đó
ông nêu lên luận điểm quan trọng là lúc đầu loài người sống trong tình trạng tạp
hôn, con cái sinh ra không biết bố chỉ biết mẹ, tổ chức xã hội đầu tiên theo mẫu hệ
rồi mới chuyển sang phụ hệ, thì lịch sử nghiên cứu về hôn nhân mới được coi là bắt
đầu. Sau Bacofell, nhà bác học người Anh J.M.Lennan trong cuốn Hôn nhân
nguyên thủy (1865) khi tìm hiểu những tập quán đã từng tồn tại một cách phổ biến
trong các nền văn hóa khác nhau như cưới trộm, hôn nhân ngoại tộc (ngoại tộc
hôn), hôn nhân đa phu, đã coi đó là những đặc điểm của các thị tộc theo dòng mẹ.
Năm 1866, Mc Lenan xuất bản công trình Nghiên cứu lịch sử cổ đại – hôn nhân
nguyên thủy, đã đề cập đến chế độ ngoại tộc hôn. Đó là, luật tục cấm những nam nữ
trong cùng một nhóm chung huyết thống được lấy nhau mà chỉ được kết hôn với
những người không cùng huyết thống ở các nhóm khác. Tiếp sau đó, nhà dân tộc
học người Mỹ là L. Morgan xuất bản cuốn Xã hội cổ đại, công trình đã đánh dấu
lịch sử nghiên cứu hôn nhân bước sang trang mới. L.Morgan đã sử dụng tài liệu của
hệ thống huyết tộc và thân tộc để dựng lại lịch sử hôn nhân và gia đình của loài
người qua năm hình thái kế tiếp nhau là: gia đình huyết tộc (Consanguine family),
gia đình punalua (Punaluan family), gia đình một vợ một chồng (Monogamian
family), Gia đình đối ngẫu (Syndyasmian family) và gia đình phụ quyền
(Patriarchal family). Năm 1884, trên cơ sở tổng kết các thành tựu khoa học đương
thời, Engels đã viết tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và nhà nước. Trong đó, riêng phần hôn nhân, Engels đã kế thừa nhiều luận điểm
của L. Morgan [82, tr.35]. Ông quan niệm, chế độ mẫu hệ chỉ là huyết tộc về phía
11
mẹ, những người cùng họ hàng trong cùng một thị tộc mới được kế thừa và tài sản
được trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ.
Trên cơ sở nghiên cứu xã hội mẫu hệ của nhiều dân tộc trên thế giới, các nhà
dân tộc học xác định mẫu hệ là cách tính dòng dõi theo phía mẹ, quyền thừa kế
trưng văn hóa của tộc người này, đồng thời chỉ ra được những đặc trưng của hôn nhân
người Chăm với các dân tộc khác. Tuy không trực tiếp liên quan đến đề tài hôn nhân
của người Ê-đê, nhưng đây cũng là nội dung khoa học đặt ra những giả định về mối
quan hệ giữa hai cộng đồng người để NCS tham khảo trong quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu Hôn nhân - gia đình - ma chay của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru - Vân
Kiều ở Quảng trị - Thừa Thiên Huế của Nguyễn Xuân Hồng (1998) là công trình đi
sâu phân tích một cách có hệ thống về nguồn gốc của chế độ hôn nhân – gia đình
cũng như các tập tục nghi lễ liên quan của người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru – Vân Kiều.
Đây là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu về hôn nhân gia đình nói
riêng và văn hóa tộc người nói chung.
Tìm hiểu về hôn nhân và gia đình không thể bỏ qua nghiên cứu: Hôn nhân gia
đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng (2004) của
Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa và Nguyễn Thị Thanh. Cuốn sách không chỉ đi
sâu phân tích những đặc điểm và thực trạng hôn nhân - gia đình của hai tộc người
thiểu số ở hai địa phương nói trên mà còn cung cấp các thông tin về nguồn gốc tộc
người, điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế…làm căn cứ cho tìm
hiểu quá trình tác động dẫn đến sự chuyển biến trong hôn nhân và gia đình của hai
tộc người Hmông và Dao, cụ thể là nhóm Hmông Trắng và nhóm Dao Đỏ.
Luận án Hôn nhân và gia đình của người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện
Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum của Bùi Ngọc Quang (2013), trong phần hôn nhân đã cung
cấp những tư liệu đầy đủ về hôn nhân truyền thống của người Brâu, như: quan niệm
truyền thống về hôn nhân, những nguyên tắc trong hôn nhân, hình thức và tính chất
của hôn nhân, trường hợp hôn nhân đặc biệt, các nghi thức trong hôn nhân,... Đồng
thời tác giả cũng đưa ra một vài nhận định về xu hướng biến đổi trong giai đoạn
hiện nay. Những tư liệu này giúp NCS đặt ra các mối liên hệ so sánh trong quá trình
nghiên cứu hôn nhân tộc người Ê-đê trong bối cảnh hiện nay.
13
nguồn gốc và quá trình phát triển của hôn nhân cũng như các nguyên tắc và hình
thức kết hôn của loài người nói chung, đồng thời làm rõ các đặc trưng tộc người ở
nước ta qua những mối quan hệ hôn nhân và gia đình, đi sâu phân tích các nghi lễ
liên quan đến đời sống hôn nhân - gia đình trong quá trình biến đổi, đồng thời chỉ ra
những xu hướng phát triển của nó ở một số tộc người thiểu số nước ta trước đây và
hiện nay.
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tộc người và hôn nhân của
người Ê-đê
Nghiên cứu các tộc người ở Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê nói riêng
của các tác giả nước ngoài đã trải qua quá trình lâu dài hàng thế kỷ, nhất là của
người Pháp như H. Maitre, L. Sabachiê, J. Dournes, G. Condominas,... Trong những
công trình nghiên cứu về người Ê-đê, ở các mức độ khác nhau những tác giả nước
ngoài đều đã quan tâm đến vấn đề hôn nhân và gia đình truyền thống. Nghiên cứu
sớm nhất về người Ê-đê có lẽ là công trình khảo cứu của nhà thám hiểm người Pháp
Henri Maitre với tựa đề Các xứ thượng ở miền Nam Đông Dương. Công trình này
đã có nhiều mô tả khái quát về đời sống xã hội, kinh tế, phong tục tập quán... của
dân tộc Ê-đê, Mnông và các tộc người tại chỗ Tây Nguyên. Đây là nguồn tư liệu giá
trị, khảo tả chân thực về cuộc sống của hai dân tộc này trong những năm đầu thế kỷ
XX. Trong phần hôn nhân, ông có nhắc đến việc tái hôn của người đàn bà góa:
“Thỉnh thoảng một người đàn bà góa muốn tái hôn, cho một người làm mối tới đặt
yêu cầu với cha mẹ người mà mình chọn mà không hề báo trước cho người đó biết.
Nếu cha mẹ và người con trai đồng ý công việc được giải quyết và người chồng mới
cưới đến ở nhà người vợ cùng với cha mẹ; nhưng trong trường hợp này, chi phí về
lễ cưới do cha mẹ vợ chịu...” Tuy nhiên, trong cuốn sách này, H. Maitre cũng
không miêu tả kỹ về thiết chế mẫu hệ của người Ê-đê [78, tr.3].
Năm 1915, Sabatier đã thu thập và biên tập bộ luật tục Ê-đê (Bi duê), ghi chép
một cách đầy đủ về luật tục hôn nhân, thiết chế mẫu hệ của tộc người này. Bộ luật
tục này đã được dùng chính thức trong Tòa án phong tục của tỉnh Đắk Lắk một thời
Ê-đê nói riêng đã có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề
cập dưới các góc độ khác nhau. Trước năm 1975, có những tác giả và công trình
16
nghiên cứu đáng chú ý về các dân tộc thiểu số Tây Nguyên như: Cửu Long Giang
và Toan Ánh (1974) với công trình Cao nguyên miền Thượng; Nguyễn Trắc Dĩ
(1970) với công trình Các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam; Lân Đình (1969) với công
trình Người Thượng dọc dãy Trường Sơn; Lê Thêm (1957) với bài viết Hôn nhân
giữa đồng bào Thượng,... Nhìn chung, những tác giả trên đều giới thiệu về các dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên mang tính chất đại cương, tổng quát và chưa nghiên cứu
kỹ về hôn nhân của tộc người Ê-đê. Từ năm 1975, việc nghiên cứu các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên nói chung và tộc người Ê-đê nói riêng bắt đầu có tính hệ thống và
đi sâu hơn, khối lượng các nghiên cứu tăng nhanh. Trong đó, công trình có tính khái
quát và đi sâu về dân tộc Ê-đê là cuốn: Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông ở
Dak Lak (1982). Đây là khảo cứu đầu tiên giới thiệu bức tranh tộc người của hai
dân tộc Ê-đê và Mnông dưới các khía cạnh: đặc điểm tự nhiên, nhân chủng, tổ chức
xã hội, sản xuất kinh tế, hôn nhân - gia đình. Ở phần thứ 3 của chương 1, Chu Thái
Sơn đã đề cập đến văn hóa vật chất của người Ê-đê; trong chương 3, Vũ Đình Lợi
đã giới thiệu khái quát về những lễ nghi - phong tục trong chu kỳ đời sống của
người Ê-đê,… Đây là những tri thức quý báu cho NCS trong quá trình hệ thống hóa
những đặc trưng văn hóa của tộc người Ê-đê.
Trong bài viết Dấu vết hệ thống bốn hôn đẳng ở Tây Nguyên của Phan Hữu
Dật (1991) giới thiệu về tục cuê nuê và giải thích tục này thông qua tìm hiểu thiết
chế xã hội, hình thái hôn nhân gia đình của người Ê-đê. Kết quả nghiên cứu của ông
đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử hôn nhân và gia
đình ở nước ta như hình thái hôn nhân, tính chất và thiết chế hôn nhân.
Cuốn sách Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayô –
Polynêxia Trường Sơn - Tây Nguyên của Vũ Đình Lợi (1994) đã khắc họa những
trò của người phụ nữ Ê-đê trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Qua đó cung cấp
những tư liệu quan trọng về vấn đề phân công lao động, quyền và vị trí của hai giới,
những đặc trưng chủ yếu của xã hội mẫu hệ Ê-đê và vị thế, vai trò của phụ nữ Ê-đê
trong việc phát triển hộ gia đình.
Đỗ Thị Phấn (2007) với Đất Và Người Tây Nguyên là công trình tập hợp bài
viết của các nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà khảo cổ... về Tây Nguyên. Các bài viết
18
tập trung nghiên cứu về lịch sử, văn hoá, xã hội của vùng Tây Nguyên, đặc biệt giai
đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Trong đó, đáng chú ý có bài Gia đình
mẫu hệ vùng Trường Sơn - Tây Nguyên đã phân tích và đưa ra những nhận định ban
đầu về hôn nhân và gia đình mẫu hệ của các tộc người ở Tây Nguyên. Những tư
liệu này đã giúp NCS có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Cuốn sách Luật tục Ê-đê (Tập quán pháp) của Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn,
Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm và biên soạn (2012) là một nghiên cứu điển hình về luật
tục của người Ê-đê. Luật tục Ê-đê là chuẩn mực xã hội, được cụ thể hóa từ hệ thống
giá trị xã hội của người Ê-đê, được cộng đồng thừa nhận và có hiệu lực trong việc
điều tiết xã hội, trong đó có các quan hệ gia đình. Trong cơ cấu của bộ luật tục Ê-đê
có thể thấy nội dung về hôn nhân chiếm phần lớn (chương V, có 48/236 điều)1. Qua
đó cho biết tầm quan trọng của hôn nhân đối với đời sống người Ê-đê. Luật tục Ê-đê
bắt nguồn từ quan niệm xã hội mẫu hệ nên những điều khoản trong luật tục Ê-đê
thường hướng tới bảo vệ, củng cố thiết chế gia đình mẫu hệ. Qua các nội dung luật
tục được ghi chép trong tác phẩm đã thể hiện rất rõ quan niệm của người Ê-đê: gia
đình là nền tảng của xã hội. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của người Ê-đê hiện nay
thì sự biến đổi của luật tục Ê-đê cho thấy tự nó loại bỏ những điểm lỗi thời không
còn phù hợp với xã hội hiện tại.
Năm 2012, Buôn Krông Tuyết Nhung công bố ấn phẩm Văn hóa mẫu hệ qua
sử thi Ê-đê dưới góc độ văn hóa học. Trên cơ sở khảo sát nguyên tắc mẫu hệ được
hôn nhân và gia đình của người Ê-đê thể hiện qua những nội dung: mô hình cư trú
sau hôn nhân, chế độ ngoại hôn, nhận con nuôi, ngoại tình, ly hôn, tục nối dây, thừa
kế tài sản, quan hệ anh chị em, trách nhiệm bồi thường cha mẹ. Công trình nghiên
cứu tiếp cận dưới góc độ xã hội học cung cấp cho NCS có góc nhìn đa chiều về vấn
đề hôn nhân của người Ê-đê. Tuy nhiên, trong phần liên quan tới hôn nhân, nghiên
cứu này chỉ trình bày sự biến đổi trong thực hành luật pháp và luật tục trong việc xử
lý tội ngoại tình, loạn luân, nơi ở sau kết hôn ở người Ê-đê nói chung.
Ngoài ra, NCS đã tiếp cận một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước,
cấp bộ, các luận án, luận văn, các bài tạp chí... viết về văn hóa tộc người nói chung
và hôn nhân của người Ê-đê nói riêng. Có thể nhận thấy, tài liệu nghiên cứu về
người Ê-đê cho đến nay đã có số lượng lớn, đa dạng, cung cấp cho NCS những hiểu
biết cơ bản về tộc người này, như: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hoá vật
20