Quản lý nhà nước về môi trường của UBND cấp xã từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG VINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN QUANG VINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành

: Luật Hiến pháp và Luật hành chính

Mã số

: 8 38 01 02


cấp xã............................................................................................................... 35
2.3. Thực tiễn quản lý nhà nước về môi trường của Ủy ban nhân dân cấp xã,
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 39
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
TẠI THÀNH PHỐ ÐÀ NẴNG ..................................................................... 56
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về môi trường của Ủy ban nhân
dân cấp xã ........................................................................................................ 56
3.2. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về môi trường của Ủy ban
nhân dân cấp xã, thành phố Đà Nẵng.............................................................. 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

KCN

Khu công nghiệp

QLNN

Quản lý nhà nước

UBND

Ủy ban nhân dân


MỞ ĐẦU

của Nhà nước; công tác quản lý môi trường tại thành phố Đà Nẵng trong thời
gian qua bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực, pháp luật về quản lý môi
trường đã được quan tâm, triển khai thực hiện, nhận thức về pháp luật quản lý
môi trường trong các cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; vấn đề ô
nhiễm môi trường cơ bản đã được kiểm soát
Mặc dù các cấp chính quyền cũng như nhân dân trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng đã có những cố gắng nhất định trong công tác bảo vệ môi trường,
tuy nhiên hiện tại, công tác này còn nhiều bất cập, vướng mắc. Vấn đề chủ
yếu ở chỗ Thành phố định hướng mà chưa có sự sâu sát đến cấp phường xã
trên địa bàn. Trong khi đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường hiện nay
còn chưa được hoàn thiện, nhất là trong điều chỉnh pháp luật về quản lý môi
trường ở cấp xã. Do đó, quản lý môi trường ở xã, phường thành phố Đà Nẵng
gặp khó khăn, đang đối mặt với không ít thách thức.
Từ những trình bày trên đây, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà
nước về môi trường của UBND cấp xã từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”
làm đề tài luận luận văn thạc sĩ của mình. Qua đó, mong muốn đề xuất các
giải pháp góp phần tăng cường QLNN về môi trường tại thành phố.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực môi trường ở nhiều khía cạnh,
góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này rất phong phú
và đa dạng, trong đó có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến
đề tài luận văn, như:
“Quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt
Nam” của Nguyễn Thị Ngọc. Tác giả đã phân tích hiện trạng môi trường và
việc quản lý môi trường đô thị ở Nhật Bản và ở Việt Nam; đánh giá những

2




nghiệm tham khảo cho Việt Nam; phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường
làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, kết quả đạt được và những hạn
chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; đề xuất một
số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở
các tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam [14].
“Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp thành
phố Đà Nẵng” của Phạm Thị Thanh Xuân. Tác giả đã phân tích và đưa ra cơ
sở khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công
nghiệp; đánh giá thực trạng, kết quả đã đạt được và hạn chế, tồn tại trong việc
thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; đưa ra bài học kinh nghiệm và các
giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu công
nghiệp thành phố Đà Nẵng [69].
“QLNN về môi trường - Từ thực tiễn huyện Thanh Trì, thành phố Hà
Nội” của Vũ Thị Ninh. Tác giả đã khái quát được một số vấn đề lý luận
QLNN về môi trường; đánh giá thực trạng môi trường và QLNN về môi
trường tại huyện Thanh Trì; đề xuất các giải pháp chung, giải pháp cụ thể và
giải pháp trước mắt đối với huyện Thanh Trì, trong đó có vấn đề hoàn thiện
thể chế, chính sách, pháp luật về môi trường [22].
“Rà soát lại các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam Một vấn đề cần thiết cấp bách” của Nguyễn Lan Nguyên. Tác giả đã khái
quát được một số hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường
đồng thời đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi
trường, như: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành một
cách kịp thời, có tính khả thi; thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường; nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, trình độ
pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường [21].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được phần lớn các

4




nghĩa Mác-Lênin, của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước và pháp luật, về vấn
đề môi trường và các lý luận về QLNN, về bảo vệ môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là:
phân tích, thống kê, tổng hợp, hệ thống, lịch sử…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu, hoàn
thiện các thể chế pháp luật phục vụ yêu cầu công tác quản lý môi trường trong
thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin tổng quan về thực trạng pháp
luật về quản lý môi trường của UBND cấp xã từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng;
nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất những giải pháp hoàn thiện và
tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý môi trường trong hoạt động
quản lý xã hội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công
tác nghiên cứu các nội dung liên quan đến pháp luật về quản lý môi trường.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia
làm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận của QLNN về môi trường của UBND
cấp xã
Chương 2. Thực trạng QLNN về môi trường của UBND cấp xã tại thành
phố Đà Nẵng
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tăng cường QLNN về môi trường
của UBND cấp xã tại thành phố Đà Nẵng


7


trường như sau: Môi trường bao gồm tổng hợp các yếu tố tự nhiên, yếu tố vật
chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn
tại và phát triển của con người. Trong đó các yếu tố tự nhiên chủ yếu như đất,
nước, không khí, ánh sáng, các hệ sinh thái, sinh vật… có ảnh hưởng và chi
phối đặc biệt quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người.
Về QLNN về môi trường.
QLNN theo nghĩa rộng là các hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà nước
từ Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, đến các cơ quan hành chính nhà
nước và các cơ quan tư pháp trong quản lý các vấn đề của đất nước [68,
tr.23].
Theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động của hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước gồm: Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ, UBND các
cấp và các cơ quan chuyên môn của UBND. Ở nghĩa này, QLNN về môi
trường là hoạt động chỉ đạo điều hành, có tính tổ chức của các cơ quan hành
chính nhà nước về môi trường. Đây là khái niệm được sử dụng trong luận văn
này với một số điểm chú ý dưới đây [68, tr.24].
QLNN về môi trường xác định rõ chủ thể là các cơ quan hành chính nhà
nước, trên cơ sở quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ
chức bộ máy và quản lý đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ chất
lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia.
QLNN là sự tác động có mục đích, chủ yếu bằng pháp luật của các chủ
thể là các tổ chức, cá nhân mang tính quyền lực nhà nước lên đối tượng quản
lý nhằm bảo vệ môi trường. QLNN về môi trường bằng pháp luật thể hiện
trong việc nhà nước phải xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật về môi
trường. Hệ thống các quy phạm pháp luật về quản lý môi trường này phải
được ban hành hoàn chỉnh, đồng bộ. Chủ yếu đó là các quy định do Quốc hội
và Chính phủ ban hành theo thẩm quyền. Trên cơ sở các quy định của Hiến

9


1.1.1.2. Các đặc điểm của quản lý nhà nước về môi trường của Ủy ban
nhân dân cấp xã
QLNN về môi trường của UBND cấp xã có các đặc điểm chung của
QLNN về môi trường nói chung và có các đặc điểm riêng, cụ thể là:
Thứ nhất, QLNN về môi trường là hoạt động có tính quyền lực Nhà
nước và bằng các công cụ của mình mà trong đó công cụ pháp luật được
thường xuyên sử dụng và mang lại hiệu quả cho hoạt động quản lý của Nhà
nước về vấn đề này. Ở đây, nhà nước buộc đối tượng chịu sự tác động quản lý
phải thực hiện bắt buộc các quy định của pháp luật cũng như các hoạt động
quản lý, điều hành.Trong trường hợp cần thiết, nhà nước sử dụng cưỡng chế
để bảo vệ pháp luật [15].
Thứ hai, QLNN bằng pháp luật về bảo vệ môi trường là hoạt động có
tính chất liên ngành và đa ngành và phối hợp giữa các cấp chính quyền.
Quản lý lĩnh vực bảo vệ môi trường rất đa dạng và phức tạp, khó giới
hạn về mặt không gian, cũng như thời gian, vừa mang tính hữu hình, vừa
mang tính vô hình. Do vậy, các cơ quan QLNN ở Trung ương cũng như địa
phương phải có sự phối, kết hợp và quản lý đan xen, bên cạnh đó các cơ quan
quản lý nhà nước về chuyên môn cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau. Ví dụ
như khi nước sông Thị Vải bị ô nhiễm, đòi hỏi rất nhiều cơ quan phải vào
cuộc và phối, kết hợp để giải quyết. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan
chuyên môn quản lý chuyên ngành trên phạm vi cả nước. Các cơ quan ở địa
phương bao gồm Hội đồng Nhân dân và UBND các cấp, các Sở, Ban, ngành
có liên quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiêp và Phát
triển nông thôn, Sở Y tế,... Trong quá trình quản lý, các cơ quan phải có sự
phối, kết hợp liên ngành để tạo sự thống nhất về quan điểm và cách thức quản
lý nhằm mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời phải tổ
chức thực hiện hết sức khoa học, tránh chồng chéo, mâu thuẫn với nhau [15].

thuật và công nghệ, phải có công cụ kỹ thuật tiên tiến, đồng bộ mới có thể

11


giúp hỗ trợ cho cơ quan QLNN trong công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát
chất lượng môi trường được tốt đặc biệt trong Cách mạng công nghiệp 4.0;
đồng thời, giúp xác định chính xác mức độ gây ô nhiễm để có chế tài xử lý
thích hợp nhằm bảo vệ môi trường. Đối với cấp xã là cấp cơ sở nên đòi hỏi về
trình bày chuyên môn nghiệp vụ thấp nhất, nếu so với các cấp trên nó [15].
1.1.2. Vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý nhà nước về
môi trường
QLNN về môi trường bằng pháp luật của UBND cấp xã với tư cách là hệ
thống các quy phạm điều chỉnh quyền hạn và trách nhiệm của UBND cấp xã
có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý môi trường, thể hiện qua những
khía cạnh sau:
Thứ nhất, UBNDCX tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
về môi trường trên địa bàn mình quản lý. Đồng thời, hỗ trợ cho các cơ quan
Nhà nước về môi trường thực hiện các chương trình, kế hoạch nghiên cứu,
ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường địa
phương. Qua đó, thúc đẩy hiệu quả thực thi văn bản pháp luật và kiểm định
được sự đúng đắn, ổn định và bền vững của hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật về môi trường.
Thứ hai, UBND cấp xã tổ chức hoặc tham gia cùng với chính quyền cấp
trên bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường, phòng chống, khắc
phục hậu quả thiên tai, bão lụt, suy thoái môi trường, sự cố môi trường ở địa
phương.
Thứ ba, UBND cấp xã thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục kiến
thức pháp luật về môi trường đến mọi tổ chức, cá nhân trên địa bàn bằng các
hình thức và phương pháp cụ thể qua đó giúp nâng cao nhận thức, ý thức của

giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng nội
dung bảo vệ môi trường trong hương ước; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo
vệ môi trường vào đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư

13


và gia đình văn hóa; quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum,
sóc, tổ dân phố và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ môi
trường trên địa bàn; hàng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo
vệ môi trường...
Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ địa chính xây dựng và môi trường
xã, phường, thị trấn trong QLNN về môi trường: Cán bộ địa chính, xây dựng
và môi trường xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cán bộ môi trường cấp xã)
là công chức nhà nước cấp cơ sở thuộc UBND cấp xã, thực hiện chức năng
tham mưu, giúp UBND cấp xã QLNN về tài nguyên và môi trường, bao gồm:
tài nguyên đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; quản
lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (đối với các xã, phường, thị trấn
có biển, đảo) [50, tr.113].
Như vậy, các công việc quản lý phụ thuộc vào vị trí, vai trò của chính
quyền mỗi cấp theo cấp chính quyền và sự phân cấp quản lý. Trong quản lý,
vì là cơ quan thuộc chính quyền cấp cơ sở, UBND cấp xã không có các công
việc có tầm vĩ mô hoặc thuộc chính quyền cấp trên như: Quy hoạch bảo vệ
môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và
kế hoạch bảo vệ môi trường, thanh tra....
Đề cập chủ thể và nội dung QLNN về môi trường ở cấp xã cũng cần thấy
ở cấp này, các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường trên địa bàn tuy không
thực hiện QLNN, nhưng đóng vai trò quan trọng hỗ trợ QLNN về môi trường.
Tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường do cộng đồng dân cư thành lập và hoạt
động theo nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm, tuân theo quy định

(2) Nguyên tắc kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ
và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường
Đây là nguyên tắc thể hiện rất rõ đặc điểm địa lý của công tác quản lý
môi trường là không phụ thuộc vào biên giới hành chính quốc gia mà phụ
thuộc vào không gian, thời gian của từng vùng địa lý. Các sự cố môi trường

15


xảy ra ở vùng lãnh thổ, quốc gia này có thể gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp đến vùng khác, quốc gia khác. Chẳng hạn, vấn đề khí hậu toàn cầu đang
nóng lên gây ngập lụt ở các quốc gia trên thế giới, hay thảm họa sóng thần
ảnh hưởng đến một số nước Đông Bắc Á đòi hỏi phải có sự phối hợp và nỗ
lực mang tính quốc tế. Do đó, việc hợp tác quản lý giữa các vùng, các quốc
gia là vô cùng cần thiết thông qua việc ký kết và tham gia các công ước quốc
tế về môi trường.
(3) Nguyên tắc quản lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện
pháp và công cụ tổng hợp thích hợp
Như phần trên đã đề cập, môi trường có vị trí và tầm quan trọng không
chỉ đối với mỗi con người, cộng đồng dân cư, mỗi quốc gia mà còn đối với
toàn nhân loại. Để giải quyết các nhu cầu thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và
phát triển, con người khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường tự nhiên
vào hoạt động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất. Tuy nhiên, do vô ý hoặc
cố tình chạy theo mục đích kinh tế, con người không tự giác nhận thức được
những tác động tiêu cực do mình gây ra đối với môi trường. Hơn nữa, tác hại
đối với môi trường không nhìn thấy được mà muốn “định lượng” chính xác
phải sử dụng các phương tiện, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại và có giá
thành rất cao. Điều này vượt quá khả năng tài chính của các quốc gia nghèo,
các quốc gia đang phát triển. Mặt khác trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng,
tác hại của con người gây ra đối với môi trường không đưa đến hậu quả

(5) Nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong QLNN về môi trường
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện
một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Pháp chế và pháp luật có quan
hệ mật thiết với nhau, nhưng không đồng nhất. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế
trong QLNN về môi trường cần được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của bộ máy QLNN về môi trường. Các tổ chức chính trị, xã hội cũng có

17


nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của Nhà nước về môi trường.Thực hiện tốt
nguyên tắc pháp chế là cơ sở bảo đảm cho bộ máy QLNN về môi trường hoạt
động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệu lực của mình và bảo đảm
công bằng xã hội. Hiến pháp của Việt Nam năm 2013 của nước ta quy định
“Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa” [36].
Đảm bảo hoạt động pháp chế trong QLNN về môi trường là tổng thể các
biện pháp, phương tiện có tính tổ chức - pháp lý do các cơ quan quản lý Nhà
nước, tổ chức xã hội và công dân áp dụng nhằm thực hiện chức năng, quyền
hạn, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước về quản lý môi trường và các tổ
chức ấy cũng như việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong vấn
đề môi trường.
Đảm bảo pháp chế trong QLNN về môi trường được hiểu như là những
điều kiện, những phương tiện và những khả năng hiện thực trên thực tế đối
với pháp luật hiện hành nhằm xây dựng và củng cố chính quyền của dân, do
dân, vì dân, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của công dân trên tất cả các mặt
của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực môi trường.
1.2.2. Quản lý môi trường bằng pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp xã
QLNN về môi trường của UBND cấp xã có thể tiếp cận theo nhiều góc độ

luật môi trường, qua đó nâng cao nhận thức của cộng động về vấn đề môi
trường. Điển hình như một số đoàn thể ở một số địa phương đã xây dựng các
mô hình như phong trào ngày chủ nhật xanh sạch đẹp, làm sạch đường làng
ngõ xóm, đoạn đường tự quản, huy động sức đóng góp của nhân dân để làm
sạch môi trường cũng là một cách thức để huy động nguồn lực xã hội. Sử
dụng nguồn lực của Nhà nước về bảo vệ môi trường chủ yếu để phục vụ công
tác tuyên truyền, quản lý, chỉ đạo các hoạt động về bảo vệ môi trường [50,
tr.122].
Hiệu quả điều chỉnh của các văn bản pháp luật đến đâu, nó có được đi

19


vào cuộc sống hay không thì một trong những việc làm mang tính quyết định,
đó là tổ chức hiện hiện pháp luật hay nói cách khác là đưa pháp luật đi vào
thực tiễn đời sống. Tổ chức thực hiện pháp luật trong QLNN về bảo vệ môi
trường là một hình thức của thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường. Nó
được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với tư cách là chủ thể
QLNN có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Đây là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành theo các
trình tự thủ tục luật định. Ví dụ: quy trình thẩm định và phê duyệt đánh giá tác
động môi trường được thực hiện bởi một bên là cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện chức năng QLNN về bảo vệ môi trường với một bên là cá
nhân, tổ chức thuộc đối tượng chịu sự QLNN có nghĩa vụ tuân thủ, chấp hành
các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Để tăng cường hiệu quả và nhằm đưa pháp luật thực sự là công cụ quản
lý của Nhà nước trong bảo vệ môi trường thì việc tổ chức thực hiện lĩnh vực
pháp luật này không chỉ diễn ra đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà
còn phải biết huy động nguồn lực xã hội, các tổ chức chính trị, đoàn thể nhân
dân, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và mọi cá nhân tham gia bảo vệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status