1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư bàng quang (UTBQ) là một bệnh khá phổ biến trong ung thư
đường tiết niệu nói riêng cũng như bệnh lý ung thư nói chung. Ở châu Âu
UTBQ đứng hàng thứ 5, ở Mỹ đứng hàng thứ 4, chiếm 6-8% các ung thư
thường gặp trên nam giới và 2-3% ung thư gặp ở nữ giới .
Ngày nay bệnh có xu hướng ngày càng tăng, theo số liệu của Tổ chức Y
tế thế giới (WHO) và Viện ung thư quốc gia Mỹ, mỗi năm ở Anh có trên
12.000 bệnh nhân UTBQ mới mắc, ở Mỹ năm 1990 có 47.000 đến năm 2005
đã tăng lên 60.000 người .
Tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội, trong 15 năm từ năm 1982 đến 1996 chỉ
có 436 trường hợp UTBQ vào điều trị, nhưng trong vòng 3 năm (2000-2002)
đã có 427 trường hợp, trong đó 51,75% là u tái phát và 48,25% là u mới phát
hiện .
Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC), ung thư bàng quang nông
(UTBQN) là loại mà thương tổn còn giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc màng đáy
(Lamina propria) chưa xâm lấn xuống lớp cơ, gồm các giai đoạn Ta, Tis và T1 .
Chẩn đoán UTBQN phải dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, cận lâm sàng,
tế bào học và giải phẫu bệnh học. Chẩn đoán giai đoạn UTBQ quyết định cho
chỉ định, kế hoạch điều trị cũng như kết quả và tiên lượng bệnh về sau .
Nếu chẩn đoán và điều trị kịp thời thì tỉ lệ sống sau 5 năm của UTBQN
có thể đạt tới 80-95% . UTBQ xâm lấn chỉ có 20-25% sống 5 năm và khi đã
di căn thời gian sống của bệnh nhân chỉ kéo dài được 12-33 tháng .
Điều trị UTBQ nhằm đạt được 3 mục đích là loại bỏ được sự hiện diện của
bệnh (loại bỏ u), dự phòng u tái phát và phòng u phát triển xâm lấn .
Phẫu thuật cắt u nội soi qua niệu đạo (TUR) vừa loại bỏ được u, vừa làm
giải phẫu bệnh xác định giai đoạn UTBQ. Trên thế giới TUR được áp dụng từ
2
chậu hông bé, ngoài phúc mạc và tiếp nối với hai thận bằng 2 niệu quản đổ
vào mặt sau dưới BQ cách nhau khoảng 2-3cm. Lỗ niệu đạo ở dưới cùng với
2 lỗ niệu quản hợp thành tam giác BQ (vùng trigone) .
Về mặt cấu tạo BQ được chia làm 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng là lớp tổ chức liên kết (Tunica adventila).
- Lớp giữa là cơ (Tunica muscularis) gồm cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở giữa
và cơ rối ở trong. Nửa trong của lớp cơ còn được gọi là lớp nông, nửa ngoài là
lớp cơ sâu. Lớp cơ là mốc rất quan trọng để phân chia giai đoạn UTBQ xâm
lấn (invasive) hay chưa xâm lấn (noninvasive), khi u chưa xâm lấn cơ BQ gọi
là UTBQN .
- Lớp trong cùng là niêm mạc (Tunica mucosa): Niêm mạc BQ là biểu
mô chuyển tiếp đường tiết niệu gồm 3-7 lớp tế bào . Giữa lớp niêm mạc và
lớp cơ là tổ chức liên kết dưới niêm mạc - Lớp màng đáy (Lammina propria) .
1.1.2. Liên quan của bàng quang .
- Mặt trên: được che phủ hoàn toàn bởi phúc mạc, lồi khi BQ căng,
phẳng hoặc lõm khi BQ rỗng. Mặt này liên quan với ruột non và đại tràng
Sigma, ở nữ giới liên quan với thân tử cung.
- Mặt sau: còn gọi là đáy BQ, phúc mạc che phủ phần trên của mặt này.
4
+ Ở nam phúc mạc từ mặt này lật lên liên tiếp với phúc mạc trực tràng
thành túi cùng BQ - trực tràng, phần dưới liên quan với ống dẫn tinh, túi tinh,
niệu quản và trực tràng.
Hình 1.1: Thiết đồ cắt đứng dọc giữa chậu hông nam
+ Ở nữ: Phúc mạc từ đáy BQ lật lên liên tiếp với phúc mạc tử cung tạo
thành túi cùng BQ - tử cung. Mặt sau BQ liên quan với cổ tử cung và thành
trước âm đạo.
6
- Nhánh của động mạch thẹn trong và động mạch bịt cung cấp cho phần
trước- dưới bàng quang .
*. Tĩnh mạch.
Các tĩnh mạch tạo nên một đám rối ở hai bên bàng quang, đám rối tĩnh
mạch bàng quang rồi từ đó đổ vào tĩnh mạch chậu trong.
* Bạch huyết: của bàng quang đổ vào các hạch bạch huyết dọc động
mạch chậu trong.
*. Thần kinh
Gồm các thần kinh tách ra từ đám rối hạ vị và các thần kinh cùng 2 và
cùng 3 (S2 - S3). Các thần kinh này chi phối vận động cho lớp cơ bàng quang
đồng thời nhận những cảm giác từ bàng quang, chủ yếu là cảm giác căng đầy,
cảm giác đau và rát bỏng.
Hình 1.3: Thiết đồ cạnh giữa phải nhìn bên chậu hông nữ.
1.1.4. Sinh lý bàng quang:
* Hoạt động của bàng quang có bốn tính chất: cảm giác, đàn hồi, trương
lực và co bóp.
- Nhận cảm giác:
7
+ Bàng quang có cảm giác nội cảm thụ đầy căng, khi thể tích nước tiểu
lên tới 400ml, và chính cảm giác này làm trỗi dậy phản xạ muốn đi tiểu.
+ Bàng quang có cảm giác ngoại cảm thụ đau và buốt khi niêm mạc bàng
quang bị viêm. Cảm giác đau này tăng lên khi đi tiểu xong, do mặt trước và
mặt sau bàng quang bị cọ xát vào nhau.
- Đàn hồi: Nhờ tính chất này, mặc dù bàng quang bị căng phồng khi quá
tuổi ngoài 40 mắc bệnh UTBQ chiếm 20/100.000 . Người da trắng chiếm tỷ lệ
17,7/ 100000, người da đen 9,2/ 100000, người châu Á 7,5/ 100000 dân.
Trong đó nam giới có tỷ lệ là 28,2/ 100000, nữ giới là 7,5/ 100000 .
Tuổi mắc bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi hơn là ở người trẻ tuổi. Theo De
Braud P (2002) , tuổi mắc bệnh trung bình ở nam giới là 69 và ở nữ là 71.
Tỷ lệ sống phụ thuộc nhiều vào độ tiến triển của bệnh. Theo y văn, tỷ lệ
sống trên 5 năm của bệnh nhân u nông bàng quang là 51% - 79%. Tỷ lệ này
giảm xuống còn 25% - 47% khi u phát triển xâm lấn và di căn.
Việt Nam u bàng quang chiếm khoảng 2% trong tổng số các loại ung
thư. Theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội (1991- 1992) tỷ lệ mắc ung thư bàng
quang là 2,2/ 100000 dân. Bệnh thường gặp ở bệnh nhân có khoảng tuổi 6070, rất hiếm gặp ở trẻ em, đứng hàng thứ 20 trong các bệnh ung thư tính
chung cho cả 2 giới. Tuy nhiên gần đây bệnh có xu hướng gia tăng. Theo Đỗ
Trường Thành, ung thư bàng quang ở nam giới đứng hàng thứ 4 sau ung thư
tuyến tiền liệt, phổi và trực tràng. Ở nữ giới bệnh đứng hàng thứ 8 trong số
các ung thư (20H Đỗ Trường Thành (2004), “Kết quả điều trị phẫu thuật ung
thư bàng quang tại bệnh viện Việt Đức trong 3 năm’’’). Bệnh thường mắc ở
nam cao hơn nữ với tỷ lệ 3/1.
Cũng như các loại ung thư khác, UTBQ phát triển do nhiều yếu tố gây
nên. Những yếu tố sau đây có nhiều nguy cơ gây bệnh nhất:
9
* Môi trường nghề nghiệp.
Những tác nhân gây ung thư như chất Amin thơm (2 naphtylamine,
benzidine, xenylamine, 4 aminophenyl…), hóa chất amin không thơm
(Tryptophan, Acetamine, Flourine…) là những chất có nhiều khả năng gây
ung thư.
Một công trình nghiên cứu thực hiện bởi Maffezzini (1998)
hay
(hình dáng của các nếp gấp niêm mạc). Khối u có màu hồng nhạt, mật độ
mềm, mủn và rất dễ chảy máu khi va chạm. Vì vậy khi soi bàng quang hoặc
sinh thiết cần tránh thao tác mạnh và thô bạo gây chảy máu.
- Ung thư biểu mô thể đặc: Là những khối u đặc sùi như hình súp lơ,
màu trắng ngà, tuy chắc hơn thể nhú nhưng cũng mủn và dễ chảy máu. Trên
bề mặt khối u có thể thấy tổ chức mủn hoại tử hoặc lắng đọng canxi gần giống
như sỏi. Khi cắt khối u ra (hoặc cắt qua nội soi) thấy mật độ khối u chắc mịn,
đôi khi thấy có hoại tử vùng trung tâm.
- Ung thư tại chỗ (Carcinoma in situ): là khối u nằm trong niêm mạc
BQ. Loại này được nhìn thấy như một phần sẫm màu trên nền niêm mạc hồng
khi soi, trên bề mặt khối u có thể thấy các Tb hình ô bình thường của niêm
mạc .
Về mặt số lượng có thể là một u hoặc từ hai hay nhiều u, thậm chí khối u
dày đặc cả lòng BQ. UTBQ có khoảng 70% là u nhú, 10% là u tại chỗ và 20%
là u hỗn hợp .
* Vi thể: Các tế bào UTBQ đều xuất phát từ lớp Tb biểu mô bình
thường của BQ gồm:
- Ung thư tế bào chuyển tiếp (Transition cell carcinoma-TTC): Chiếm
trên 90% UTBQ, biểu hiện bằng tăng số lớp Tb biểu mô, có sự rối loạn trật tự
11
sắp xếp các Tb và mất tính phân cực. Tùy từng giai đoạn mà sự rối loạn về
cấu trúc và hình thái Tb học từ màng đáy tới bề mặt ở mức độ khác nhau.
Đặc trưng của các Tb u loại này là: tế bào lớn, nhiều nhân, tỷ lệ nhân
trên bào tương tăng bắt màu đậm, nhiễm sắc thể kết thành khối và tăng hiện
tượng phân bào .
- Ung thư tế bào vảy (Squamous cell carcinoma): Đặc trưng của ung thư
Tb vảy là có các Tb hóa sừng và các Tb này tập hợp thành những hình đồng
tâm giống như vảy ngọc trai. Ung thư Tb vảy thường có sự biệt hóa tốt, rất
To:
Không có bằng chứng của u ban đầu
T a:
Ung thư thể nhú không xâm lấn (lớp niêm mạc)
Tis:
Ung thư in situ (u phẳng trong niêm mạc)
T1:
Khối u xâm lấn vào lớp màng đáy (Lammina propria)
T2:
U xâm lấn xuống lớp cơ
T2a. U xâm lấn lớp cơ nông (nửa trong)
T2b. U xâm lấn cơ sâu (nửa ngoài)
T3:
U xâm lấn tổ chức quanh bàng quang
T3a. U nhỏ ở lớp mỡ quanh bàng quang
T3b. Khối u lớn ngoài thành bàng quang.
T4:
hóa vừa, khoảng 25-50% Tb không biệt hóa. Khối u gồm những nhú có trục
liên kết rộng, rối loạn trật tự sắp xếp các Tb từ màng đáy tới bề mặt, mất dần
tính phân cực Tb, tỉ lệ nhân trên bào tương tăng cao và thường thấy nhân chia.
+ Grade 3 (độ mô học 3- G3): Là ung thư biểu mô Tb chuyển tiếp kém
biệt hóa hoặc không biệt hóa, có tới 50-100% Tb không biệt hóa. Khối u có sự
rối loạn rất lớn về trật tự cấu trúc Tb cũng như Tb học và mất hoàn toàn tính
14
phân cực Tb. Tế bào u đa dạng về hình thái, kích thước nhân, tỉ lệ nhân trên
bào tương tăng rất cao và thấy nhiều nhân chia .
-WHO/ISUP (1998) không xếp độ biệt hóa tế bào UTBQ theo G1,G2,
G3 mà chia thành: U nhú có độ ác tính tiềm tàng (PNLMP -Papillary
neoplams of low malignant potential), khối u có độ mô học thấp (Low
-Grade), khối u có độ mô học cao (High- Grade).
Theo WHO/ISUP thì sự phân chia này tránh sự khó khăn trong xếp loại
những khối u trung gian và nhiều khi khoảng trung gian này là rất rộng như
giữa G1 và G2 (G1-2) hoặc giữa G2 và G3 (G2-3).
Về cơ bản hai cách phân loại của WHO (1973) và WHO/ ISUP (1998) là
giống nhau, có mối liên quan với nhau theo sơ đồ sau:
WHO, 1973
WHO/ISUP, 1998
U nhú
U nhú (Papillary)
Grade 1
thấy khối u vùng dưới rốn, thấy hạch bẹn hoặc khối u chèn ép, xâm lấn vào lỗ
niệu quản gây giãn thận hoặc thận to gặp ở ung thư giai đoạn muộn .
Trước một BN có nghi ngờ UTBQ người thầy thuốc phải khám một cách
toàn diện, tỉ mỉ về tiền sử bệnh, diễn biến bệnh và chú ý tiền sử liên quan đến
thuốc lá, nghề nghiệp, u đường tiết niệu trên… .
1.4.2. Các dấu hiệu cận lâm sàng.
- Xét nghiệm tìm tế bào u trong nước tiểu (Cytology): có thể lấy nước
tiểu sáng sớm khi đi tiểu lần đầu hoặc là nước rửa BQ. Tuy độ nhạy tùy thuộc
vào độ biệt hóa Tb khối u, nhưng độ đặc hiệu đạt tới 90-100%, cytology được
coi là tiêu chuẩn để xác định UTBQ chưa xâm lấn, đặc biệt là ung thư tại chỗ
(carsinoma in situ) mà soi BQ khó phát hiện .
- Siêu âm phát hiện u: Đánh giá vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn
tương đối của u tại thành BQ hoặc ra ngoài. Tuy nhiên không phải lúc nào
cũng nhìn thấy được u, nhất là trong BQ có máu cục hoặc u nhỏ .
- Soi bàng quang và sinh thiết: Đây là phương pháp rất quan trọng để xác
định u và loại trừ các bệnh lý khác. Thủ thuật này tốt nhất là làm trong phòng
mổ với điều kiện vô trùng, vô cảm tốt. Soi BQ xác định vể số lượng, hình
dáng (có cuống hay không) và vị trí u. Khi soi có thể bấm sinh thiết để chẩn
đoán Tb học, xác định độ biệt hóa và giai đoạn khối u .
16
- Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): Đánh giá tình trạng BQ, chức năng
thận -niệu quản, nhất là những trường hợp UTBQ xâm lấn vào lỗ niệu quản
gây giãn đài bể thận- niệu quản hoặc có u đường tiết niệu trên .
- Chụp vi tính cắt lớp (CT scaner) hoặc cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) xác
định u, kích thước u và đánh giá mức độ xâm lấn của u tại thành BQ hoặc xâm
lấn di căn ra ngoài. Tuy nhiên các kỹ thuật cũng không phải là phù hợp nhất để
chẩn đoán giai đoạn UTBQ N, mà có giá trị hơn đối với UTBQ xâm lấn. CT và
MRI cũng chỉ chính xác từ 70%-80% giai đoạn so với GPB .
nhiều lần trên những BN tái phát nhưng vẫn ở giai đoạn UTBQN vừa nhằm
mục đích điều trị vừa chẩn đoán xác định giai đoạn UTBQ (Malmstron PU,
2003) .
Tuy nhiên, 40-80% u tái phát trong vòng 12 tháng và thường bắt đầu từ
3-6 tháng sau TUR. Tỷ lệ u phát triển xâm lấn 5 năm sau TUR là 25-35% và
10 năm khoảng 60-63%. Tỷ lệ BN sống 5 năm từ 55-80% .
Sự tái phát và phát triển tiềm tàng của UBQN sau TUR là lý do phải điều
trị bổ trợ. Điều trị bổ trợ có vai trò rất quan trọng giảm tỷ lệ u tái phát và xâm
lấn tránh phải cắt bàng quang, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người bệnh .
Có hai cách điều trị bổ trợ là toàn thân và tại chỗ (tại BQ):
-Nhiều nghiên cứu còn cho rằng điều trị theo đường toàn thân và xạ trị ít
hoặc không có hiệu quả đối với UTBQN, đặc biệt là u tại chỗ (Tis) . Do vậy
đường toàn thân và xạ trị thường chỉ áp dụng cho UTBQ xâm lấn hoặc di
căn .
- Điều trị tại chỗ mang lại hiệu quả rất khả quan và có thể tránh được
những tác dụng phụ do đường toàn thân gây nên (shock, suy tủy, giảm hồng
cầu, bạch cầu và tiểu cầu…) .
18
Điều trị tại chỗ (tại bàng quang) gồm hóa trị liệu và miễn dịch trị liệu:
Sử dụng các tác nhân hóa chất hay miễn dịch bơm trực tiếp vào bàng quang
qua đường niệu đạo bằng một ống thông.
* Hóa trị liệu được chỉ định cho những bệnh nhân ung thư bàng quang
được áp dụng từ những năm 1960 của thế kỷ XX, qua nhiều năm nghiên cứu
điều trị, tới nay đã có rất nhiều hóa chất khác nhau được sử dụng.
+ Thiotepa (Triethylenethiophosphoramide): đây là tác nhân được sử
dụng bơm bàng quang cổ điển nhất vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay.
Thường với liều 30- 60mg một tuần kéo dài 6- 8 tuần và duy trì một tháng
Miễn dịch trị liệu trong BQ là sử dụng các tác nhân miễn dịch bơm trực
tiếp vao BQ, BCG (Bacillus Camette- Guerin), Interferon (IFN), Interleukin
(IL), Tumornecrosisfactor (TNF), Bropirimine…. nhằm mục đích điều trị ung
thư tại chỗ (Cis), dự phòng u tái phát và phòng u phát triển xâm lấn giai đoạn
Ta, T1 sau TUR.
Miễn dịch trị liệu trong BQ được chỉ định cho các trương hợp UTBQN
thuộc nhóm nguy cơ trung bình, nguy cơ cao và những trương hợp thất bại
với liệu pháp hóa trị liệu trong bàng quang. Có nhiều tác nhân miễn dịch khác
nhau, nhưng các tác nhân phổ biến thường dùng là:
+ Interferon (IFN): là một glycoprotein sản phẩm được tạo ra dưới tác
động của đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. IFN ức chế sự phát triển
của tế bào ung thư và điều khiển đáp ứng miễn dịch của cơ thể. IFN cũng là
một trong những sản phẩm cuối cùng của liệu pháp bơm BCG vào BQ. Loại
thường dùng là IFNa- 2b bơm trực tiếp vào BQ với liều 50- 100mg, 1 tuần 1
lần trong 6 tuần. Một số nghiên cứu đánh giá kết quả lạc quan, tuy nhiên trong
phần lớn các nghiên cứu thường không rõ rang và rất khó đánh giá so sánh
20
với các tác nhân khác. Bên cạnh đó tác dụng phụ do IFN gây ra cũng rất lớn
và được so sánh như với hóa chất.
+ Interleukin 2: IL2 có thể làm thoái lui u trong một số bệnh nhân
UTBQN.(1) Cũng giống như IFN, IL2 tác động lên các tế bào UTBQN cũng
giống như vai trò của các cytokine được tạo ra trong điều trị BCG. Tuy nhiên
cho tới nay liều lượng và kế hoạch điều trị vẫn chưa được thống nhất, nghiên
cứu vẫn còn ít nên chưa đánh giá được hiệu quả lâu dại.
+ Tumor necrosis factor- alpha: đây là yếu tố hoại tử u, nhiều thử nghiệm
lâm sàng đánh giá TNFa có hiệu quả trong điều trị UTBQN, thậm chí cả những
trường hợp không đáp ứng với những tác nhân khác. Tuy nhiên các nghiên cứu
còn nhỏ thiếu số liệu thuyết phục và đánh giá được kết quả lâu dài.
UTBQ di căn xa, chủ yếu là điều trị triệu chứng, hóa chất toàn thân hoặc kết
hợp xạ trị với hy vọng chỉ kéo dài thời gian sống (vì tỷ lệ đáp ứng rất thấp),
thường BN chỉ sống được từ 12-33 tháng .
1.6. Tình hình nghiên cứu.
- Một trong các phương pháp chính Được sử dụng để điều trị UTBQN là
phẫu thuật loại bỏ khối u. Phương pháp này được thực hiện lần đầu tiên bởi
Joseph Grunteld vào năm 1881 với kỹ thuật xâm lấn tối thiểu. Năm 1908,
Edwin Beer lần đầu tiên sử dụng ống nội soi để phẫu thuật loại bỏ khối u. Đến
năm 1926, Maximilian Stern đã chế tạo ra ống nội soi cắt đoạn, kỹ thuật này
đòi hỏi sử dụng cả hai tay.Vào năm 1975, Jose Iglesias đã có một cải tiến ống
nội soi cắt đoạn để có thể sử dụng thuận tiên bằng 1 tay, cùng với đó sự phát
triển của công nghệ hình ảnh cũng nâng cao hiệu quả của việc phẫu thuật nội
soi. Từ đó đến nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi kết hợp cùng với
các phương pháp điều trị khác và được đánh giá là an toàn và hiệu quả .
Nghiên cứu của Saito năm 2001 trên 35 bệnh nhân có khối u bàng quang
với kích thước khác nhau được phẫu thuật nội soi cho thấy độ chính xác cao
22
và không có trường hợp nào có chảy máu không kiểm soát, thủng hoặc gây ra
các biến chứng nghiêm trọng khác .
Nghiên cứu của Sang Eun Lee năm 2004 cho thấy phẫu thuật nội soi cắt
bỏ khối u làm tăng tỷ lệ sống sót trên bệnh nhân hơn so với nhóm không được
phẫu thuật .
Trong nghiên cứu của Harry năm 2001, 432 bệnh nhân được điều trị
bằng phẫu thuật nội soi cho thấy tỷ lệ sống sót sau 10 năm ở 99 bệnh nhân
được điều trị dứt điểm là 76% .
- Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu UTBQ, nhất là áp dụng các phương
pháp điều trị u ở các giai đoạn cũng có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và
đề xuất phương pháp giải quyết.
chính xác là 95,3% .
Gần đây nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu điều trị bổ trợ sau cắt nội soi u
nông bàng quang bằng hóa chất. Tác giả Nguyễn Phương Hồng “Liệu pháp
BCG trong điều trị bổ trợ ung thư biểu mô nông nguyên phát của bàng quang”.
Tóm lại: Hướng nghiên cứu điều trị UTBQ nói chung và UTBQN nói
riêng của các tác giả Việt Nam (theo tài liệu chúng tôi được biết) là những
nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật của thế giới, có vận dụng cải tiến trong điều
kiện nước ta để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh UTBQN.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.
24
- Các bệnh nhân được chẩn đoán UTBQN và điều trị bằng phẫu thuật nội
soi cắt u qua đường niệu đạo tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/ 2014 đến
tháng 8/ 2018:
+ Nội soi thấy hình ảnh u BQ.
+ Trên hình ảnh siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, MRI tổn thương u chưa
xâm lấn lớp cơ BQ.
+ Kết quả giải phẫu bệnh u BQ ở giai đoạn Ta,T1,Tis theo bảng phân
loại của tổ chức chống ung thư thế giới (UICC) năm 1997.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
- Các bệnh nhân có kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật T 2 - T4 theo
bảng phân loại của Tổ chức chống ung thư thế giới (UICC ) năm 1997.
- Bệnh nhân phẫu thuật UTBQN có kèm theo phẫu thuật khác trong cùng
thời điểm.
- Bệnh nhân có bệnh về máu, bệnh tim mạch có dùng thuốc chống đông
+ Nghề khác
- Địa dư:
* Đặc điểm lâm sàng
- Lý do vào viện:
+ Đái ra máu.
+ Rối loạn tiểu tiện.
+ Đau vùng hạ vị.
+ Tình cờ đi khám phát hiện bệnh.
- Tiền sử bản thân liên quan các yếu tố bệnh nguyên:
+ Hút thuốc lá