Đánh giá kết quả phẫu thuật thay thế thực quản bằngống dạ dày thuận chiều khôngtạo hình môn vị - Pdf 56

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý khá phổ biến ở Việt Nam, đứng
hàng thứ 5 trong các loại ung thư [7], [9], [21], đứng hàng thứ 9 trong các loại
bệnh ác tính. Nam gặp nhiều hơn nữ [26], [58]. Tạo hình thực quản (THTQ)
là phẫu thuật thay thế một phần thực quản hay toàn bộ thực quản bằng một
đoạn ống tiêu hóa. Mục đích THTQ là giúp cho bệnh nhân ăn uống qua đường
miệng mà không phải ăn qua ống mở thông dạ dày hoặc mở thông hỗng tràng
[1], [15].
Trong phẫu thuật UTTQ, sau cắt thực quản, việc lập lại lưu thông
đường tiêu hóa thường được làm trong cùng một thì. Đoạn ống tiêu hóa
thường được chọn là dạ dày, ngoài ra có thể chọn đại tràng, hỗng tràng, các
quai ruột tự do có ghép vi mạch [18]. Kỹ thuật thay thế thực quản bằng ống
dạ dày thuận chiều thường được sử dụng nhiều nhất.
Trên thế giới, năm 1884 Mikulicz là người đầu tiên sử dụng ống dạ
dày thay thế thực quản cổ. Roux (1907) và Herzen (1908) đã THTQ thành
công bằng một đoạn hỗng tràng. Vuilliet (1911) sử dụng đại tràng ngang
ngược chiều nhu động. Kelling (1911) đã sử dụng đại tràng ngang thuận chiều
nhu động và Roith (1928) sử dụng đại tràng phải [15]. Năm 1920 Kisschner
đã đề xuất phương pháp THTQ bằng dạ dày toàn bộ thuận chiều nhu động.
Gavrillu (1951) sử dụng dạ dày ngược chiều để thay thế thực quản. Akiyama
(1971) mô tả cách sử dụng dạ dày gần toàn bộ thuận chiều để THTQ kèm
theo cắt bỏ u thực quản cùng trong một thì mổ và ngày nay là phương pháp
được sử dụng phổ biến nhất [16].
Ở Việt Nam, năm 1959 Tôn Thất Tùng là người đầu tiên sử dụng đại
tràng phải để thay thế thực quản tại Bệnh viện Việt Đức. Đỗ Đức Vân sử dụng
đại tràng ngang thay thế để THTQ trong những trường hợp hẹp thực quản do


2

sẹo bỏng và dạ dày toàn bộ thuận chiều trong những trường hợp UTTQ [13].


TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU THỰC QUẢN.
1.1.1. Hình dáng, vị trí, kích thước thực quản.
Thực quản là đoạn đầu của ống tiêu hoá, nối hầu với dạ dầy. Miệng
thực quản nằm ngang bờ dưới sụn nhẫn. Đầu dưới đổ vào bờ phải phình vị
lớn gọi là tâm vị.
Ở người lớn, chiều dài thực quản vào khoảng 25cm, đường kính trung
bình là 2 - 3 cm [2]. Thực quản có 4 chỗ hẹp, ngang vị trí của sụn nhẫn, chỗ
chia đôi của khí quản, cơ hoành và tâm vị.
Từ trên xuống dưới, thực quản đi qua vùng cổ trước, trung thất sau, lỗ
cơ hoành để xuống bụng. Như vậy thực quản có 3 phần chính, phần cổ dài 5
– 6 cm, phần ngực dài 16 – 18 cm, phần bụng dài 2 – 3 cm.

Hình 1.1: Giải phẫu và liên quan thực quản.
1.1.2. Cấu trúc mô học của thực quản.
Về cấu trúc mô học, thành thực quản có 4 lớp:
- Lớp niêm mạc: gồm lớp biểu mô vẩy, không sừng hóa, rất dày và bền
chắc, phía dưới là lớp đệm và lớp cơ niêm.


4

- Lớp dưới niêm mạc: là mô liên kết lỏng lẻo nhưng bền chắc, có các
tuyến thực quản và một mạng mạch dưới niêm mạc.
- Lớp cơ thực quản: dày từ 1- 1,5 mm, lớp cơ vòng ở trong và cơ dọc ở
ngoài. Các thớ cơ trơn của thực quản kém bền chắc khi khâu nối [18],
[20], [22].
- Lớp vỏ: lớp vỏ là một tổ chức liên kết lỏng lẻo dễ bóc tách, tạo thành
lớp áo ngoài của thực quản, phần thực quản dưới cơ hoành được bao

Phần ngực dài 16-18 cm, nằm sâu nhất trong lồng ngực, tạo ra trục tạng
của trung thất sau, có thể chia thành 3 đoạn bởi quai động mạch chủ và quai
tĩnh mạch đơn, ngang mức đốt sống ngực 4.
 Liên quan phía trước.
Từ trên xuống dưới, thực quản liên quan với 3 thành phần chính là khí
quản, phế quản gốc trái, khoang giữa khí quản - phổi, tim và màng ngoài tim.
Thực quản nằm sau và lệch nhẹ sang trái khí quản. Trong khe thực quản - khí
quản có thần kinh quặt ngược trái đi từ dưới lên. Xuống thấp hơn, thực quản
bắt chéo phía sau của phế quản gốc trái. Ở xa hơn trước khí quản là thân động
mạch cánh tay đầu trái đi lên và hai thân tĩnh mạch cánh tay đầu hợp lại thành
tĩnh mạch chủ trên. Khoang hình thoi được tạo ra bởi ngã ba khí phế quản và
chỗ chia đôi của thân động mạch phổi, chứa bạch huyết. Xuống thấp hơn,
thực quản tiếp xúc với màng tim, tim. Dưới cùng, thực quản liên quan với
khoang mỡ Portal do màng tim, phần đổ ra sau cơ hoành tạo ra.
 Liên quan phía sau.
Phía sau, thực quản liên quan với cột sống và các mạch máu trước cột
sống. Các mạch máu chạy dọc của trung thất sau bao gồm động mạch chủ
xuống đi chếch xuống, ra trước và vào trong, nằm trước cột sống. Tĩnh mạch
đơn lớn đi lên, ở bên phải mặt trước cột sống, tới D4, D5 thì uốn cong ra
trước, tạo ra quai tĩnh mạch đơn đổ vào tĩnh mạch chủ trên. Tĩnh mạch bán
đơn trên và dưới nằm trên bờ trái của cốt sống, đổ vào tĩnh mạch đơn lớn.


6

Ống ngực đi lên, nằm giữa tĩnh mạch đơn lớn và động mạch chủ xuống, đến
nền cổ thì tạo ra quai tận và đổ vào hợp lưu Pirogoff. Màng phổi trung thất tạo
ra hai túi cùng màng phổi.
 Liên quan bên trái.
Liên quan bên trái được chia làm 3 đoạn dựa vào chỗ bắt chéo với quai

3-5cm. Phúc mạc thành phủ mặt trước thực quản, mặt sau thực quản không có
phúc mạc, thực quản treo vào cơ hoành bởi 2 nếp phúc mạc. Mặt trước thực
quản có thân thần kinh X trước đi xuống và các nhánh mạch thực quản của
động mạch thực quản tâm phình vị trước đi lên.
Mặt sau thực quản tựa trực tiếp vào cột trụ trái cơ hoành và các dây
chằng hoành dạ dày. Bờ trái thực quản đối diện với bờ phải của phình vị lớn
để tạo ra góc His.
1.1.4. Mạch máu và thần kinh chi phối.
1.1.4.1. Động mạch.

Hình 1.2: Các động mạch của thực quản.


8

Phần cổ và phần ngực trên quai động mạch chủ, thực quản được cấp
máu bởi động mạch giáp dưới.
Phần thực quản ngực dưới quai động mạch chủ được cấp máu bởi 2 hệ
động mạch: động mạch phế quản phải tách ra từ động mạch liên sườn một,
động mạch phế quản trái cho một hoặc nhiều nhánh bên cấp máu cho mặt sau
bên trái thực quản.
Phần thực quản bụng được cấp máu bởi động mạch hoành dưới trái,
nhánh thực quản tâm phình vị trước và sau của động mạch vị trái, nhánh tâm
vị thực quản của động mạch lách.
1.1.4.2. Tĩnh mạch.
Hệ thống tĩnh mạch thực quản xuất phát từ các mao mạch, toả ra trên
thành thực quản 2 đám rối tĩnh mạch, đám rối dưới niêm mạc và đám rối tĩnh
mạch cạnh thực quản.
Các tĩnh mạch dẫn lưu máu theo từng vùng vào các tĩnh mạch giáp
dưới, tĩnh mạch đơn. Hai tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch chủ trên. Một số

Dạ dày là tạng nằm tầng trên mạc treo đại tràng ngang, là một túi phình
của ống tiêu hóa.
Dạ dày có hai mặt (trước, sau), có hai bờ cong (bờ cong lớn, bờ cong
nhỏ), có lỗ tâm vị thông thương với thực quản và môn vị thông thương với tá
tràng.


10

1.2.1. Hình thể ngoài.
Hình thể ngoài dạ dày thay đổi theo tuổi, giới, tư thế, theo tình trạng
lồng ngực hẹp hay rộng. Dạ dày có hai phần:
Phần đứng: chiếm 2/3 dạ dày, nằm đứng dọc theo sườn trái cột sống
gồm phình vị lớn, thân vị, phình vị bé.
Phần ngang: nằm vắt ngang trên cột sống, chếch từ trái sang phải. Đoạn
đầu phình to gọi là hang vị, rồi dần thu hẹp lại gọi là đường môn vị.
1.2.2. Kích thước.
Dạ dày là một túi rỗng nên kích thước thay đổi tùy theo lúc đầy hay
vơi. Khi căng chiều dài đo được 25cm, chiều ngang 12cm.
1.2.3. Vị trí.
Dạ dày nằm ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang. Phình to nằm dưới cơ
hoành, thân vị mạng sườn trái, phần ngang ở mũi ức. Đối chiếu với xương:
tâm vị ngang đốt sống lưng thứ X, phình vị to lên mãi tận xương sườn thứ V
(trên đường vú trái), thân vị nằm dọc bờ trái cột sống, môn vị ngang mặt
phải đốt sống thắt lưng thứ I.
1.2.4. Liên quan.
 Liên quan mặt trước: dạ dày có hai phần liên quan với bụng và với ngực.
- Liên quan với ngực: liên quan với xương sườn thứ 5 đến thứ 9 và một
khoang đi từ cạnh ức trái tới đường nách trước trái. Ở phía trước dạ
dày liên quan với phổi và màng phổi, gan, tim lách và thành ngực.

cung mạc nối và qua tiền đình với đầu tụy. Bờ trên của môn vị có mạc
nối nhỏ dính vào và có động mạch môn vị đi từ cuống gan xuống, lướt
dọc bờ trên từ phải sang trái tới bờ cong nhỏ dạ dày. Bờ dưới môn vị có
mạc nối lớn dính, trong mạc nối lớn có động mạch vị mạc nối phải. Động
mạch vị tá tràng tách từ động mạch gan đi thẳng xuống ở mặt sau khúc I
tá tràng nên nằm ở bên phải môn vị.


12

1.2.5. Cấu tạo của dạ dày.
Thành dạ dày được cấu tạo bởi 4 lớp:
- Thanh mạc: là lá phúc mạc phủ hai mặt dạ dày.
- Lớp cơ chắc, dầy, gồm 3 thớ: dọc, vòng, chéo.
- Lớp dưới niêm mạc: là một tổ chức liên kết lỏng lẻo, trong có nhiều
mạch máu và thần kinh.
- Lớp niêm mạc: màu đỏ có các ống tuyến đổ vào dạ dày.
1.2.6. Mạch máu của dạ dày.
 Động mạch: động mạch nuôi dưỡng dạ dày là các nhánh của động mạch
thân tạng, các nhánh này chủ yếu hợp thành 2 vòng mạch đi dọc theo 2
bờ cong của dạ dày.
- Vòng mạch bờ cong bé: do 2 động mạch vành vị và môn vị tạo nên.
+ Động mạch vành vị là một nhánh của động mạch thân tạng. Động
mạch phân nhánh ra hai ngành bên và hai ngành cùng. Hai ngành bên
là động mạch thực quản tâm phình vị, động mạch gan phụ, hai ngành
cùng gồm ngành trước nằm ở mặt trước dạ dày, ngành sau quan trọng
hơn chạy dọc theo bờ cong bé, cho nhánh nhỏ chạy vào dạ dày và tiếp
nối với hai ngành của động mạch môn vị.
+ Động mạch môn vị tách ở động mạch gan riêng.
- Vòng mạch bờ cong lớn: do 2 động mạch vị mạc nối phải và trái tạo

- Chuỗi tỳ:
Trong 3 chuỗi trên thì chuỗi theo động mạch vị trái nhận phần lớn bạch
huyết của dạ dày.
1.3. GIẢI PHẪU BỆNH.
1.3.1. Phân bố vị trí khối u.
UTTQ 1/3 giữa và 1/3 dưới gặp nhiều nhất [30]. Tỷ lệ thay đổi từng
nghiên cứu và tùy từng loại ung thư. Nói chung, ung thư biểu mô vẩy gặp


14

nhiều nhất ở 1/3 giữa và ung thư biểu mô tuyến lại thường gặp ở 1/3 dưới
thực quản. Thật vậy trong 6242 trường hợp ung thư biểu mô vẩy toàn nước
Pháp năm 1987, Richelme và Baulieux thấy rằng 3% ở miệng thực quản,
15% ở 1/3 trên, 58% ở 1/3 giữa và 23.5% ở 1/3 dưới. Nhưng trong 297 ung
thư biểu mô tuyến thì ung thư 1/3 trên là 2.6%, 1/3 giữa là 15.8% và 1/3 dưới
là 81%.
H Akiyama có 135 ung thư hạ họng, 96 UTTQ cổ, 225 UTTQ ngực 1/3
trên, 970 UTTQ ngực 1/3 giữa, 384 UTTQ ngực 1/3 dưới và 90 UTTQ bụng
trong 1900 trường hợp UTTQ được điều trị tại khoa phẫu thuật thuộc bệnh
viện Toranomon ở Nhật Bản từ năm 1976 - 1990 [31].
UTTQ ở 2 hay nhiều vị trí không phải hiếm gặp, trong nhiều nghiên
cứu của Mandard, ung thư 2 vị trí chiếm tới 13% [100].
1.3.2. Hình ảnh đại thể.
Trên 98% ung thư thực quản là ung thư biểu mô, được chia làm 2 loại
(thể kinh điển và ung thư sớm).
1.3.2.1. Thể kinh điển.
- Dạng sùi: chiếm trên 60% các trường hợp [13], đó là khối sùi vào lòng
thực quản, bề mặt không đều, thường có loét hoại tử ở trung tâm khối
u, bờ sung quanh gồ cao, dễ chảy máu, khi cắt ngang, u có màu ngà

- Loại rất biệt hoá: tế bào có hình đa diện với nhiều cầu nối, ít khi thấy có sự
không điển hình của nhân tế bào, thường có các cầu sừng giữa các tế bào.
- Loại ít biệt hoá: thường là tế bào đáy đa hình thái tế bào, tròn, bầu dục, ít
khi có cầu sừng nhưng lại có hiện tượng gián phân mạnh.
- Loại biệt hoá vừa: là loại nằm giữa hai thể trên, có vùng là các tế bào đáy,
có vùng là các tế bào trung gian và có các ổ biệt hoá hơn với các tế bào
vẩy và các cầu sừng. Các tế bào xếp thành bè tương đối đều, có hiện tượng
gián phân không điển hình.


16

1.3.3.2. Ung thư biểu mô tuyến.
- Ung thư biểu mô tuyến: chiếm khoảng 9%, ung thư xuất phát từ vùng biểu
mô tuyến lạc chỗ và có các loại vi thể theo mức độ biệt hoá như ung thư
biểu mô tuyến của dạ dày, gồm ung thư dạng tuyến nhú, ung thư dạng
tuyến nang, ung thư biểu mô tuyến nhầy, ung thư tế bào nhẫn.
- Ung thư tuyến - vẩy: có cấu trúc ung thư dạng tuyến và dạng biểu mô vẩy
biệt hoá xen kẽ nhau hoặc tách rời nhau.
- Ung thư biểu mô không biệt hoá: ung thư không có cấu trúc tuyến, các tế
bào ung thư xếp thành đám hoặc bè. Tế bào đa hình thái, có nhân quái
nhân chia. Một số trường hợp tế bào tròn nhỏ, đều giống tế bào lympho.
- Các loại ung thư khác như u nội tiết xuất phát từ hệ thống nội tiết lan toả
(carcinoide) rất ít gặp.
1.3.3.3. Ung thư tế bào hắc tố.
Cấu trúc khối là các tế bào hắc tố lớn, nhiều mặt hoặc hình tục thoi có
nhân lớn. Chẩn đoán dựa vào sự có mặt chất sắc tố trong tế bào bằng phản
ứng mô hóa học.
1.3.3.4. Sarcom.
Rất ít gặp, chiếm khoảng 1% các trường hợp [11]. Bao gồm các ung

 T
Tis: ung thư chỉ khu trú ở niêm mạc phủ.
T1: ung thư xâm lấn lớp niêm mạc và dưới niêm mạc
T2: ung thư xâm lấn lớp cơ nhưng chưa vượt qua lớp cơ.
T3: ung thư xâm lấn tổ chức liên kết.
T4: ung thư xâm lấn các tạng xung quanh.
 N: di căn hạch.
N0: không có hạch di căn.
N1: hạch vùng bị di căn (hạch cổ trong UTTQ cổ, hạch trung thất và
hạch cạnh dạ dày trong UTTQ ngực).


18

 M: di căn tạng hoặc hạch xa.
Mo: không có di căn xa.
M1: có di căn xa hoặc di căn hạch xa.
- UTTQ cổ: M1 (di căn hạch trung thất và hạch cạnh dạ dày).
- UTTQ ngực 1/3 trên: M1a (xâm lấn hạch cổ), M1b (di căn hạch
thân tạng).
- UTTQ 1/3 giữa: M1b (xâm lấn hạch cổ hoặc thân tạng).
- UTTQ 1/3 dưới: M1a (xâm lấn hạch thân tạng), M1b (xâm lấn hạch
cổ).
Phân giai đoạn UTTQ: sự tập hợp các yếu tố T, N, M phân chia UTTQ
thành 5 giai đoạn:

Hình 1.4: Sự xâm lấn của tổ chức UTTQ qua các giai đoạn.
- Giai đoạn 0: Tis N0 M0.
- Giai đoạn I: T1 N0 M0.
- Giai đoạn IIa: T2 –T3 N0 M0.

phân loại theo TNM của UICC được chấp nhận và áp dụng rộng rãi nhất hiện
nay [31].
1.5. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ THỰC QUẢN.
1.5.1. Chẩn đoán lâm sàng.


20

Dấu hiệu lâm sàng quan trọng và thường gặp nhất của UTTQ ở giai
đoạn tiến triển là nuốt nghẹn, trên 85% các trường hợp. Trong luận văn tiến sỹ
của Phạm Đức Huấn 2003, tác giả cho thấy 100% bệnh nhân UTTQ có nuốt
nghẹn, khi bệnh nhân đến khám vì lý do nuốt nghẹn ở các mức độ khác nhau
với thời gian trung bình từ khi có triệu chứng đến thời điểm chẩn đoán là 3.3
± 3.5 tháng. Gầy sút cân ở 70% các trường hợp (92.9% - theo Phạm Đức
Huấn 2003), mệt mỏi 73.8%, đau ngực 47.6%, tiền sử nôn máu 4,8%, thay đổi
giọng nói 4.8% [13]. Khoảng 7% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn đã
có xâm lấn rộng trung thất hoặc đã có di căn xa (xâm lấn thần kinh quặt
ngược, rò khí - phế quản, hạch cổ, hạch thượng đòn, di căn gan, cổ
chướng…).
Chẩn đoán sớm UTTQ khó do bệnh không có triệu chứng hoặc triệu
chứng rất mờ nhạt và kín đáo dễ bị bỏ qua. Trong 2418 trường hợp UTTQ
sớm được phát hiện ở 143 trung tâm của Nhật Bản từ 1990-1995, Kodama và
Kakegawa thấy rằng 1329 bệnh nhân (55%) không có triệu chứng, 168 bệnh
nhân (6.9%) có đau sau xương ức, 236 bệnh nhân (9.8%) có cảm giác vướng,
88 bệnh nhân (3.6%) có nuốt nghẹn, 184 bệnh nhân (7.6%) có cảm giác như
có dị vật, 35 bệnh nhân (1.4%) có nôn, buồn nôn, 18 bệnh nhân (0.7%) thấy
chán ăn, 264 (10.9%) có các triệu chứng khác. Ngay ở Nhật, một nước có
chiến lược phát hiện các khối u đường tiêu hoá trên nhưng tỷ lệ phát hiện sớm
UTTQ cũng chưa cao, 1900 trường hợp UTTQ trong nghiên cứu của Akiyama
từ 1972 - 1996 thì chỉ có 1401 trường hợp cắt được u (73.7%), trong đó có

niêm mạc thực quản về màu sắc (đỏ nhạt, trắng ngà, vàng nhạt), các thay đổi


22

hình thái niêm mạc (niêm mạc dày lên, lõm xuống), thay đổi tính chiết quang
của niêm mạc.
1.5.4. Chẩn đoán mô bệnh học và tế bào học.
Chẩn đoán mô bệnh học và tế bào là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán
UTTQ. Có 3 phương pháp lấy bệnh phẩm là:
- Sinh thiết qua nội soi.
- Chẩn đoán tế bào bằng phương pháp bàn chải.
- Chẩn đoán tế bào bằng chọc hút qua nội soi.
1.5.5. Chụp cắt lớp vi tính.
CCLVT là một thăm khám cận lâm sàng rất quan trọng để đánh giá
mức độ xâm lấn trung thất, phát hiện khối u thứ hai ở thực quản và phát hiện
di căn xa nhằm xác định giai đoạn bệnh trước mổ [109].
 Đánh giá xâm lấn thành thực quản và trung thất.
CCLVT khó xác định được mức độ xâm lấn thành thực quản nhưng có
thể xác định được xâm lấn các tạng lân cận.
Theo Picus, khi u tiếp xúc với chu vi thành động mạch chủ một góc
90º
thì chắc chắn có xâm lấn và không thể cắt u (theo nghiên cứu của Phạm Đức
o

o

Huấn thì cũng chỉ 50% ), nếu tiếp xúc từ 45 - 90 thì chưa khẳng định được
[119].
Khi u lồi vào trong lòng KPQ hoặc có rò sang KPQ là dấu hiệu chắc

SANS là phương pháp cận lâm sàng tốt nhất để đánh giá xâm lấn thành,
di căn hạch khu vực và đánh giá khả năng cắt u. SANS đạt độ chính xác từ
77% - 97%, độ nhậy từ 80% - 95% với xâm lấn thành thực quản [88], [138],
siêu âm nội soi vượt CCLVT trong xác định xâm lấn các tạng lân cận [42],
[57], [107], [118]. SANS có hạn chế trong đánh giá di căn hạch vùng và
không phát hiện được di căn xa [42], [132], [138].


24

1.5.7.2. Siêu âm ổ bụng.
Siêu âm ổ bụng là phương pháp đơn giản và có độ nhậy cao trong phát
hiện di căn gan, có thể đạt trên 90%.
1.5.7.3. Siêu âm vùng cổ.
Siêu âm vùng cổ có thể phát hiện các di căn hạch cổ, hạch thượng đòn.
Sinh thiết hạch cổ dưới siêu âm rất có giá trị để xác định giai đoạn bệnh.
1.5.8. Chụp cắt lớp phóng xạ positron (PET – Scan).
Phương pháp này đang được nghiên cứu để đánh giá xâm lấn tại chỗ,
hạch vùng của UTTQ [47], [62], [92] và phát hiện sớm ung thư tái phát sau
mổ.
1.5.9. Soi khí phế quản.
Soi khí phế quản nhằm phát hiện xâm lấn khí phế quản hoặc đè đẩy của
UTTQ 1/3 trên và 1/3 giữa.
1.5.10. Soi ổ bụng và soi lồng ngực.
Khi bệnh nhân đã có chỉ định mổ, một số tác giả đề nghị soi ổ bụng
trước. Soi ổ bụng đã làm thay đổi chiến thuật điều trị trong mổ, thậm chí là
tránh được mở bụng không cần thiết từ 6 - 12% mà trước mổ đánh giá là có
khả năng cắt u.
1.6. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THỰC QUẢN.
1.6.1. Điều trị phẫu thuật UTTQ.

Các loại TTTQ khác như đoạn hỗng tràng dài theo kỹ thuật của
Yudin và Petrop, đoạn hỗng tràng hoặc đoạn đại tràng sigma tự do được
nối cuống mạch nuôi với các mạch máu ở cổ rất ít được sử dụng.
Tóm lại, THTQ bằng dạ dày là phương pháp được dùng phổ biến nhất
sau khi cắt bỏ thực quản.
1.1.3.2. Các phương pháp điều trị phẫu thuật được áp dụng tại Việt nam.
 Phẫu thuật cắt thực quản qua đường mở ngực.
 Phẫu thuật Sweet: phẫu thuật cắt thực quản qua đường mở ngực trái



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status