luận văn Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt - Pdf 56

Tài liu lun vn kinh te1 of 63.

1

2

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn đề tài
Theo quan điểm của các nhà kinh tế, trách nhiệm cuối cùng của một DN là tối đa
hóa lợi nhuận và tạo ra giá trị cho cổ đông (Friedman, 1970). Do vậy, tài chính là động
lực duy nhất thúc đẩy các hoạt động của một DN. Ngày nay, quan niệm đó đã nhường
chỗ cho cách thức kinh doanh của DN ngoài sử dụng các nguồn lực của DN phục vụ cho
lợi ích của cổ đông còn cần quan tâm đến các bên liên quan cũng như cần được điều
hành từ một quan điểm đạo đức. Tư duy rộng mở hơn này, được gọi là "CSR của DN"
(Corporate Socail Responsibility – CSR) (Freeman, 1984).
Vinatex (Vinatex) là một trong những DN có đóng góp lớn cho nền kinh tế. Với
đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông; quá trình sản xuất của các DN
dệt may tác động trực tiếp đến môi trường; mức độ cạnh tranh trên thị trường trong
nước và thế giới cao, chịu nhiều rào cản khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ,
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác. Tuy nhiên, thực hiện CSR trong các DN
thuộc Vinatex vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại và thiếu sót. Nhiều DN vẫn chưa
thực sự chủ động tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng đến động lực thực hiện CSR, vẫn còn
nhiều DN thực hiện do sự ép buộc của hệ thống pháp luật, do sức ép từ các bên liên
quan hoặc thực hiện được hoạt động này nhưng lại vi phạm lĩnh vực khác dẫn đến
năng lực cạnh tranh còn thấp, chưa xây dựng được uy tín để thuyết phục niềm tin của
người tiêu dùng, của các đối tác, của cộng đồng và xã hội.
Để các DN thuộc Vinatex chủ động thực hiện CSR thì rất cần thiết phải xác
định được nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN. Do đó, việc lựa chọn
nghiên cứu về CSR với tên đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các
DN thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam” là rất cần thiết và có ý nghĩa.
Về tổng quan nghiên cứu CSR, thực hiện CSR và nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện

- Xây dựng mô hình nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc
Tập đoàn Dệt may Việt Nam.
- Kiểm định thang đo của các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN
thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.
- Kết luận về chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện
CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam để làm căn cứ cho việc đề xuất
hàm ý chính sách, giải pháp tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại đơn vị.
• Mục tiêu cụ thể:
- Lựa chọn định nghĩa CSR và thực hiện CSR cho phù hợp với bối cảnh, điều
kiện kinh doanh tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.
- Xây dựng mô hình lý thuyết và kiểm định nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện
CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam.
- Đưa ra hàm ý và đề xuất khuyến nghị đối với Nhà nước, các DN thuộc Tập
đoàn Dệt may Việt Nam trong quá trình xem xét, đánh giá, xác định thứ tự ưu tiên
của các nhân tố ảnh hưởng và nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng thực
hiện CSR.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án
• Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN
thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam?

1.1.

Footer Page 1 of 63.


Tài liu lun vn kinh te2 of 63.

3


1.6. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 5 chương, được trình bày trong 118 trang, với 31 bảng, 7 hình, 2
sơ đồ, 8 biểu đồ minh họa, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, khoảng trống và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và Kiến nghị

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, KHOẢNG TRỐNG
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Footer Page 2 of 63.

2.1. Một số vấn đề chung về thực hiện CSR
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của CSR
CSR những năm 1950: Đại diện là nghiên cứu của Bowen (1953), CSR thuộc
về những người kinh doanh; Những năm 1960: Phát triển cách hiểu CSR và tìm kiếm
hệ thống lý luận phù hợp, tiêu biểu là Davis (1960), McGuire (1963) với tư tưởng
hướng đến sự phản ứng của các đối tượng liên quan trong xã hội; Những năm 1970:
Xuất hiện tranh luận giữa 2 trường phái là quản trị “đại diện” là Milton Friedman
(1970), DN chỉ có trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận và quản trị “đa bên”, DN phải có
ý thức về những tác động lên xã hội và phải có trách nhiệm với chính hành vi của mình;
Những năm 1980: Nổi bật là Freeman (1984), nhấn mạnh sự ảnh hưởng của các đối
tượng liên quan đến thực hiện CSR của DN và mối quan hệ giữa CSR với hiệu quả hoạt
động của DN; Những năm 1990: Wood và Carroll (1999), CSR là công cụ chiến lược,
do vậy cần tích hợp CSR vào chiến lược của DN; Những năm 2000: Porter & Kramer
(2002), Kotler & Lee (2005) nhấn mạnh chiến lược CSR là lợi thế cạnh tranh của DN.
2.1.2. Lợi ích của thực hiện CSR
Thực hiện CSR sẽ giúp DN: Giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động;

đáp ứng các trách nhiệm về kinh tế và pháp lý một cách đồng thời (Carroll, 1979,
Galbreath, 2010). Trách nhiệm đạo đức. Mặc dù cả trách nhiệm về kinh tế cũng như trách
nhiệm về luật pháp đều thể hiện một góc độ nào đó của trách nhiệm đạo đức (Carroll,
1979). Tuy nhiên, trách nhiệm đạo đức vẫn có những điểm khác biệt đó là những mong
đợi của xã hội mà không được quy định thành luật, đòi hỏi DN phải đáp ứng những yêu
cầu, chuẩn mực cao hơn là luật pháp (Carroll, 1979) đó chính là các quy tắc đạo đức và
chính các quy tắc này xác định các hành vi được coi là chuẩn mực ứng xử của xã hội
(Galbreath, 2010). Khía cạnh cuối cùng là trách nhiệm tình nguyện, đây là các trách nhiệm
đòi hỏi sự tuân thủ của các DN là ít nhất, còn ít hơn các trách nhiệm đạo đức. Trách nhiệm
tình nguyện là các trách nhiệm mà xã hội không bắt buộc, pháp luật không yêu cầu, thậm
chí hoàn toàn không tổn hại đến đạo đức nếu không thực hiện (Galbreath, 2010, Carroll,
1979). Đó có thể là đóng góp từ thiện, đào tạo cho những người khó có khả năng lao
động, trợ giúp những người nghiện ma túy (Carroll, 1979), đầu tư vào các công trình phúc
lợi ở địa phương (Galbreath, 2010).
* CSR và thực hiện CSR. Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm CSR
của Maignan và cộng sự, được xây dựng dựa trên quan điểm của Carroll về thành
phần cấu tạo của CSR, theo đó “CSR của một DN là mức độ mà DN đó đáp ứng
những trách nhiệm về kinh tế, luật pháp, đạo đức và những trách nhiệm mang tính
tình nguyện khác mà những người liên quan mong đợi ở họ” (Maignan et al., 1999,
Maignan and Ferrell, 2000, Maignan and Ferrell, 2001, Galbreath, 2010). Trong đó,
Maignan và cộng sự cho rằng CSR là mức độ đáp ứng với đòi hỏi của xã hội nói
chung, như vậy, khái niệm này đã bao hàm thực hiện CSR của DN. Nói cách khác,
khái niệm CSR cũng chính là khái niệm thực hiện CSR.
2.2.2. Các hướng nghiên cứu về thực hiện TNXH trong các DN.
Các nghiên cứu thường có hai hướng chính là các kiến thức lý thuyết CSR và
truyền thông, công bố CSR. Những nghiên cứu hướng tới truyền thông, công bố CSR
thường nhắm tới tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc DN quyết định truyền thông,
công bố về mức độ thực hiện CSR tới những người liên quan (khách hàng, các nhà
hoạt động xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước…). Ở góc độ khác, các nghiên cứu
về kiến thức lý thuyết CSR, thường được chú trọng hơn (Alcañiz et al., 2010), với

Carroll đã đưa ra bốn khái niệm cấu thành CSR, gồm: trách nhiệm kinh tế,
trách nhiệm luật pháp, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tình nguyện. Kế thừa mô
hình của Carroll, Maignan và cộng sự đã đưa ra quan điểm được nhiều sự ủng hộ các
nhà nghiên cứu khác, phù hợp với yêu cầu đo lường CSR trên thực tế, đó là bốn
thành phần cấu thành của CSR có vai trò như nhau (Maignan et al., 1999, Maignan
and Ferrell, 2000, Galbreath, 2010). Đồng thời, Maignan và cộng sự cũng đưa ra định
nghĩa về CSR, tạo cơ sở lý thuyết vững chắc cho các nghiên cứu sau này (Galbreath,
2010). Rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình kim tự tháp về CSR của Carroll
trong các nghiên cứu của mình về thực hiện CSR ở các lĩnh vực khác nhau, ở các nền
văn hóa khác nhau, như: (Wartick and Cochran, 1985); (Maignan et al., 1999);
(Joyner and Payne, 2002); (Schwartz and Carroll, 2003); (Galbreath, 2010)…
2.2.3.3. Kết hợp sử dụng cả hai lý thuyết Mô hình kim tự tháp của Carroll và Quản
trị các bên liên quan của Freeman

Footer Page 3 of 63.


Tài liu lun vn kinh te4 of 63.

7

8

Luận án kế thừa cơ sở lý thuyết của cả hai lý thuyết nền tảng trên, với cốt lõi là
mô hình Kim tự tháp của Carroll về các thành phần cấu thành của thực hiện CSR
(Carroll, 1979), được điều chỉnh vai trò của các thành phần này trong tổng thể bởi
Maignan và cộng sự (Maignan et al., 1999, Maignan and Ferrell, 2000). Còn các nhân tố
tác động tới thực hiện CSR lại dựa trên cơ sở lý thuyết về Quản trị các bên liên quan của
Freeman. Hầu hết các nghiên cứu tiếp cận theo mô hình kim tự tháp của Carroll đều đi
theo hướng kết hợp này ((Maignan et al., 1999); (Maignan and Ferrell, 2000); (Maignan

hoạch chiến lược (Goyal and Kumar, 2017).

Trong khi, ở các nước phương Tây, vai trò của hoạch định chiến lược đối với
thực hiện CSR được nghiên cứu khá nhiều, thì ở Việt Nam các nghiên cứu về CSR
nói chung, theo hiểu biết của tác giả, kể cả các nghiên cứu về CSR đứng trên góc độ
hoạch định chiến lược còn khá hạn chế.
2.2.4.2. Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa DN cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh tới thực hiện CSR của DN
(Galbreath, 2010, Wood, 1991). Văn hóa DN đề cập đến các giá trị, niềm tin mà các
thành viên của DN nắm giữ (Kalyar et al., 2012). Các giá trị này định hình mức độ
thực hiện các hành vi kinh doanh có trách nhiệm hoặc vô trách nhiệm (Kalyar et al.,
2012), phản ánh ý thức trách nhiệm với các bên liên quan là điều kiện, tiền đề cho
DN vừa thành công trong kinh doanh bền vững vừa đảm bảo hành vi đạo đức
(Sinclair, 1993). Văn hóa DN cũng góp phần định hình lên các hành vi đạo đức trong
quảng cáo, trong đối xử với người lao động, với chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng
như ứng xử với khách hàng (Herndon et al., 2001). Văn hóa DN cùng với định hướng
văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới hiệu suất tổng thể của DN và bao gồm hai
phần quan trọng là định hướng văn hóa và cường độ văn hóa đều ảnh hưởng tới thực
hiện CSR của DN (Galbreath, 2010). Hậu quả là nhu cầu và lợi ích của cộng đồng,
của các bên liên quan nhiều khả năng bị bỏ qua và gắn với đó là một mức thực hiện
CSR thấp (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012). Văn hóa nhân văn mang tính xây
dựng, hợp tác hơn là cạnh tranh, làm cho các mối quan hệ giữa các thành viên trong
DN và giữa DN với các bên liên quan trở nên hài hòa, dễ chịu hơn. Do đó, khi văn
hóa nhân văn được chú trọng, các thành viên và DN không chỉ quan tâm tới nhu cầu
và lợi ích riêng của họ mà còn quan tâm và thực hiện các hành vi mang lại lợi ích cho
xã hội và các bên liên quan (Galbreath, 2010) và đó là cơ sở của việc thực hiện CSR
trong các DN (Kalyar et al., 2012).
Nghiên cứu của Kalyar và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, yếu tố văn hóa nhân
văn là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới mức độ thực hiện CSR của DN, với β = .642,
p < 0.001 (Kalyar et al., 2012). Kết quả nghiên cứu của Kalyar và cộng sự nhận được

luật pháp của đất nước mà DN xuất khẩu sản phẩm, do đó, DN càng có quy mô doanh
thu lớn thì càng chịu sự tác động từ phía khách hàng, chính phủ của nước nhập khẩu về
thực hiện CSR (Galbreath, 2010, Maignan and Ferrell, 2000, Maignan et al., 1999). Như
vậy, có thể nói, với DN dệt may thì số lượng lao động, số năm hoạt động và doanh thu
có khả năng sẽ ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN.
2.2.5. Khoảng trống nghiên cứu
Dường như các yếu tố đầu vào của CSR chưa được các nhà nghiên cứu trong
bối cảnh Việt Nam chú ý nhiều. Phần lớn các nghiên cứu theo hiểu biết của tác giả đều
hướng trọng tâm vào nghiên cứu lợi ích của CSR như: CSR với hiệu quả hoạt động của
DN; CSR là nguyên nhân đưa đến sự bền vững trong tăng trưởng (Long, 2015); CSR
tăng cường khả năng quản trị DN (Luu, 2012a); CSR và truyền thông CSR (Bilowol and
Doan, 2015); CSR với thương hiệu (Luu, 2012b); CSR với tăng cường học tập và chia
sẻ tri thức, từ đó tăng khả năng cạnh tranh (Luu, 2013a, Luu, 2013b)… Ở Việt Nam,
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN nói chung, trong đó các
nhân tố như hoạch định chiến lược và văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới thực hiện
CSR nói riêng, vẫn là một khoảng trống cần phải có thêm các nghiên cứu để bổ sung các
hiểu biết về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong DN.
2.2.6. Mô hình, giả thuyết nghiên cứu và thang đo
2.2.6.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
H1: Hoạch định chiến lược bên ngoài ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR
của DN trong Vinatex.
H2: Hoạch định chiến lược bên trong ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR
của DN trong Vinatex.
H3: DN càng có mức độ thực hiện văn hóa nhân văn cao thì mức độ thực hiện
CSR của các DN trong Vinatex càng cao.

2.2.6.2. Thang đo sử dụng trong nghiên cứu
Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài: Có 8 thang đo; Hoạch định
chiến lược định hướng bên trong: Có 8 thang đo; Văn hóa nhân văn của DN: Có 7
thang đo; Thực hiện CSR của DN: Có 5 thang đo

3.2.4. Kết quả nghiên cứu định tính
3.2.4.1. Kiểm tra tính phù hợp của thang đo, xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các
biến độc lập và phụ thuộc.
Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, một số thang đo được các chuyên gia về chiến
lược và các nhà quản lý cấp cao đề nghị điều chỉnh.


Tài liu lun vn kinh te6 of 63.

11

12

3.2.4.2. Bổ sung thêm nhân tố mới
Trong quá trình thực hiện phỏng vấn sâu, với câu hỏi “Theo Anh/chị còn yếu tố
nào ảnh hưởng tới việc DN thực hiện CSR của DN mình mà chưa được phản ánh trong
bảng hỏi và nên được quan tâm đưa vào bảng hỏi?”. Tác giả đã nhận được một số gợi ý
về hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật. Tác giả đã tiến hành tổng quan lại và nhận
thấy có một số nghiên cứu đã ủng hộ quan điểm này. Do đó, tác giả đã mô phỏng ý
tưởng của đối tượng phỏng vấn sâu và đưa thêm một yếu tố là: Pháp luật và thực thi
pháp luật vào trong bảng hỏi. Sau khi nghiên cứu định tính, với sự góp ý của các
chuyên gia và mô hình nghiên cứu dự kiến, tác giả đã chỉnh sửa mô hình nghiên cứu
chính thức, gồm 4 nhân tố ảnh hưởng, các giả thuyết nghiên cứu được viết lại như sau:
H1: Hoạch định chiến lược bên ngoài ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR
của DN trong Vinatex.
H2: Hoạch định chiến lược bên trong ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR
của DN trong Vinatex.
H3: Luật và thực thi pháp luật càng cao thì mức độ thực hiện CSR của DN
trong Vinatex càng cao.
H4: DN càng có mức độ thực hiện văn hóa nhân văn cao thì mức độ thực hiện

khoảng tương ứng với 5 mức độ từ thấp đến cao và bề rộng mỗi khoảng là 0.8 đơn vị. Khi
đó, tác giả sẽ căn cứ vào các mức độ ở trên để đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận
về thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex.

Biến kiểm soát:
Hoạch định chiến lược
định hướng bên ngoài

Số lượng lao động
Doanh thu
Số năm hoạt động

Hoạch định chiến lược
định hướng bên trong
Văn hóa nhân văn của DN

Thực hiện trách
nhiệm xã hội của các
DN thuộc Vinatex

Luật và thực thi pháp luật
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức
Nguồn: từ tổng quan và nghiên cứu định tính của tác giả

Bảng hỏi chính thức sau khi nhận được sự góp ý của các chuyên gia, được sử
dụng làm bảng hỏi chính thức trong nghiên cứu định lượng (bảng 3.3). Như vậy, sau
khi chỉnh sửa lại, bảng hỏi chính thức bao gồm bốn biến độc lập, một biến phụ thuộc
và có tổng cộng 24 biến quan sát. Trong đó: Biến độc lập Hoạch định chiến lược định
hướng bên ngoài có 6 biến quan sát, từ BN1 đến BN6; Biến độc lập Hoạch định chiến
lược định hướng bên trong có 5 biến quan sát, từ BT1 tới BT5; Biến độc lập Luật và

tranh của các DN thuộc Vinatex, giúp tạo ra giá trị của DN, đồng thời chiếm được
lòng tin và sự tôn trọng của người tiêu dùng, đối tác nói riêng và cộng đồng xã hội
nói chung; Trách nhiệm với các vấn đề về môi trường, con người và xã hội là cốt lõi
của sự phát triển bền vững; nâng cao hiểu biết và thực hiện CSR nhằm tăng cường
liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất bền vững; Lợi ích dài hạn của
CSR là cho chính nội bộ DN nên việc xây dựng VHDN trong Tập đoàn là ưu tiên
hàng đầu. VHDN và đạo đức kinh doanh trong Tập đoàn được quán triệt xuyên suốt
qua việc tập trung vào cải thiện quan hệ công việc nhằm giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ
nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động…
4.1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong các DN thuộc Vinatex
Hoạch định chiến lược phát triển cho cả 1 Tập đoàn kinh tế lớn đòi hỏi sự
chuẩn bị rất kỹ lưỡng, phải xem xét đến rất nhiều yếu tố. Các yếu tố bên trong như là
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, công nghệ đang sử dụng, sự sáng tạo của

Footer Page 7 of 63.

14
nhân viên, văn hóa DN, phong cách của người lãnh đạo và thậm chí cả lợi ích của cả
nhà đầu tư/cổ đông. Các yếu tố bên ngoài như mức độ cạnh tranh, chất lượng sản
phẩm, các vấn đề cộng đồng quan tâm. Cùng 1 lúc Tập đoàn phải thực hiện tốt và
đồng bộ nhiều nhiệm vụ, nên khi hoạch định chiến lược, Vinatex phải phân bổ các
nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, con người cân đối hài hòa (Ông Lê Nho Thướng).
Đề cập đến Văn hóa nhân văn của DN, đại diện lãnh đạo Công đoàn Tập đoàn,
Ông Lê Nho Thướng cho rằng “vì cách hiểu, cách thực hành CSR trong các DN còn
nhiều khác nhau nên để thực hiện CSR song song đó các DN cần xây dựng và thực
hiện VHDN từ đó sẽ làm rõ nguyên tắc cơ bản trong các ứng xử. Trong đó đạo đức
và vấn đề về tính nhân văn của đội ngũ lãnh đạo, của DN được xem là yếu tố tiên
quyết ảnh hưởng đến các hoạt động của CSR” “Văn hóa nhân văn của lãnh đạo, của
DN là lắng nghe nguyện vọng của nhân viên, khuyến khích và thưởng phạt nhân viên
hợp lý, dành thời gian và hỗ trợ nhân viên khi gặp khó khăn”.

đã tạo sức lan tỏa cao đến tất cả thành viên trong DN. Thực hiện CSR trong DN
không chỉ là khẩu hiệu mà là các hành động cụ thể, có ý nghĩa và giá trị thực.
Hạn chế trong thực hiện CSR như: Thụ động (do buộc phải tuân thủ) và áp dụng
chưa đầy đủ các quy tắc ứng xử CoC, CoE. Chưa thấy rõ được cơ hội và tính ưu việt của
thực hiện CSR nên quá trình triển khai thực hiện CSR còn mang tính bị động và đối phó,
chủ yếu tập trung vào DN làm hàng xuất khẩu, DN có đối tác là nước ngoài. Thậm chí
CSR tại Việt Nam thường xuyên bị gạt ra ngoài trong nhiều hoạt động của DN và không
được đặt phù hợp với các mục tiêu kinh tế (Nguyen and Truong, 2016).
Nguyên nhân chủ yếu: Nhận thức và hiểu của các cấp quản lý về thực hiện
CSR trong một số DN, một số nhà lãnh đạo, quản lý thuộc Tập đoàn còn hạn chế,
chưa đầy đủ. DN gặp khó khăn trong tuân thủ CSR là do mỗi nhà nhập khẩu lại có bộ
tiêu chuẩn CoC riêng. Nguồn lực tài chính để đầu tư đổi mới công nghệ, cho bộ phận
R&D nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường không đủ nên không
thể triển khai nhanh được.
4.2. Thực trạng thực hiện CSR và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại

trích là 75.212 và số nhân tố phân tích được là 6. Tổng phương sai được giải thích trong
phân tích EFA lần 2 của 18 thang đo trong nghiên cứu có giá trị phương sai trích là
75.212% với điểm dừng các nhân tố Eigenvalues bằng 1.024 (bảng 4.4).

các DN thuộc Vinatex
4.2.1. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố ảnh hưởng đến thực
hiện TNXH các DN thuộc Vinatex

Lần
1

Bảng 4.1: Bảng tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 1
Số nhân
Tổng số

Số nhân tố
Phương
Hệ số
Sig
quan sát
sát bị loại
KMO
sai trích phân tích được
18
1
0.768
0.000
75.212
6
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Qua bảng số liệu cho thấy, hệ số KMO = 0.768 thỏa mãn điều kiện 0.5
sát bị loại
KMO
sai trích
tích được
16
0
0.779
0.000
69.922
4
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Khi tiến hành phân tích EFA lần thứ 4 thu được hệ số KMO = 0.779 và giá trị
Sig.=0.000, tổng số biến quan sát là 16, số biến quan sát bị loại là 1, phương sai trích là
69.922 và số nhân tố phân tích được là 4. Tổng phương sai được giải thích trong phân
tích EFA lần 4 của 16 thang đo nghiên cứu có giá trị phương sai trích là 69.922% với
điểm dừng các nhân tố Eigenvalues bằng 1.389 (bảng 4.8).
Như vậy, sau khi thu thập số liệu và phân tích cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến thực
hiện TNXH tại các DN thuộc Vinatex phù hợp với mô hình lý thuyết. Để có thể tiến hành các
bước nghiên cứu ứng dụng tiếp theo, các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH tại các
DN thuộc Tập đoàn Dệt may VN được mã hóa lại khái niệm và thang đo (bảng 4.9)
4.2.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại
các DN thuộc Vinatex
Thang đo nhân tố “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài” có hệ số
Cronbach’s Alpha là 0.833>0.6, đạt yêu cầu. Thang đo nhân tố “Hoạch định chiến lược
định hướng bên trong” có 04 quan sát và hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0.749>0.6 và hệ số
tương quan biến tổng của cả 04 biến quan sát đều lớn hơn 0.3, các hệ số Cronbach’s Alpha
nếu bỏ biến của các biến quan sát đều nhỏ hơn 0.749 nên đây là thang đo tốt và phù hợp.
Thang đo nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” có hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0.774>0.6 là
thang đo phù hợp. Thang đo nhân tố “Văn hóa nhân văn của DN” có hệ số Cronbach’s

tuân thủ. Bên cạnh đó, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tình nguyện cũng đã được các
DN thuộc Vinatex hết sức quan tâm và tự nguyện thực hiện với giá trị trung bình là 3.825
điểm và 3.802 điểm. Ngoài ra, thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex cũng còn được thể
hiện trong ứng xử là luôn nỗ lực để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Như vậy,
có thể nói, hiện nay ý thức về thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex là tương đối cao và
mang tính chất tự nguyện cao.

trung bình các quan sát cũng tương đối đều nhau và dao động trong khoảng 4.064 – 4.264
điểm. Trong đó, cao nhất là thang đo BT1 với giá trị rất cao là 4.264 điểm, điều này cho
thấy, các DN thuộc Vinatex đã luôn đánh giá cao và xem xét rất tỉ mỉ các nhân tố bên trong
DN khi tiến hành hoạch định chiến lược.

4.2.3.2. Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài
Các biến quan sát được đánh giá ở mức độ trung bình với giá trị trung bình nhân tố
đạt 3.0164 điểm (ở mức 3, Nửa đồng ý, nửa không đồng ý) và giá trị trung bình các quan sát
dao động trong khoảng 2.831 – 3.195 điểm. Trong đó, cao nhất là thang đo BN1 với giá trị
cao nhất đạt được là 3.195 điểm, còn thang đo thấp nhất là BN2 có giá trị trung bình đạt
2.831 điểm. Kết quả này cho thấy, các vấn đề thuộc về môi trường bên ngoài ảnh hưởng
chưa thực sự rõ rệt tới hoạch định chiến lược của các DN thuộc Vinatex.
4.2.3.3. Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên trong
Các biến quan sát được đánh giá ở mức độ tương đối cao với giá trị trung bình nhân
tố đạt 4.1455 điểm (ở mức 4, Đồng ý, và mức điểm này cũng tiệm cận mức 5) và giá trị

Footer Page 9 of 63.

4.2.3.4. Thống kê nhân tố Luật và thực thi pháp luật
Các DN thuộc Vinatex đánh giá cao vai trò của nhân tố “Luật và thực thi pháp luật”
đối với việc thực hiện CSR của DN khi giá trị trung bình của nhân tố này đạt 4.258 điểm
(Mức 5, Rất đồng ý) và giá trị trung bình của các thang đo cũng cao và dao động trong
khoảng 4.221 – 4.308 điểm.Các DN thuộc Vinatex thực hiện tốt CSR thì vai trò của “Luật


20

lập có thể đưa vào mô hình để giải thích cho thực hiện CSR tại các DN thuộc
Vinatex. Ngoài ra hệ số tương quan giữa các biến độc lập có giá trị đáng kể nên mối
quan hệ giữa các biến này cần phải xem xét kỹ lưỡng trong phân tích hồi quy tuyến
tính bội nhằm tránh hiện tượng đa cộng tuyến.

định chiến lược định hướng bên trong đạt 0.185; (3) LP: Luật và thực thi pháp luật đạt
0.149; (4) VH: Văn hóa nhân văn của DN đạt 0.123.
Kết quả phân tích hồi quy có mô hình:
TN = 0.218BN + 0.185BT + 0.149LP + 0.123VH + 1.419 + e

4.3.4. Dò tìm sự vi phạm giả định mô hình hồi quy

4.3.6. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới thực hiện CSR tại

Tiếp theo trong phân tích cần kiểm định các giả định của mô hình hồi quy gồm các
phần dư phân phối chuẩn, không có mối quan hệ tương quan giữa các biến độc lập (đa cộng
tuyến). Như vậy, việc xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính giữa biến phụ thuộc (TN) với
các biến độc lập là hoàn toàn phù hợp (Xem phụ lục).

các DN thuộc Vinatex

4.3.5. Xây dựng mô hình nghiên cứu thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex
bằng phương pháp hồi quy bội
Bảng 4.18: Bảng kết quả hồi quy của mô hình thực hiện CSR tại các DN
thuộc Vinatex
Model Summaryb
Model

hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” được giải thích bởi 04 nhân tố ảnh hưởng nêu trên.
Bảng phân tích phương sai ANOVA (Bảng 4.19), giá trị F = 16.538 với mức ý nghĩa
Sig. = 0.000 < 0.05, bước đầu cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu và
có thể sử dụng được. Để đánh giá việc mô hình hồi quy không vi phạm hiện tượng đa cộng
tuyến nghiên cứu xem xét hệ số phóng đại phương sai VIF. Hệ số phóng đại phương sai VIF
(bảng 4.20) của tất cả các nhân tố đều nhỏ hơn 2, có thể kết luận rằng, mô hình hồi quy không
vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến, tức là các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau.
Từ kết quả phân tích hồi quy cho thấy, các nhân tố tác động đều có ý nghĩa trong mô
hình (Sig.
Sai số chuẩn
R2 hiệu chỉnh
Durbin-Watson
định R2
của ước lượng
a
1
0.639
0.409
0.367
0.2496
1.996
a. Predictors: (Constant), Dthu1, Tbinh_VH, Laodong1, Tbinh_LP, Tbinh_BT,
So_Nam, Tbinh_BN
b. Dependent Variable: Tbinh_TN
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Kết quả phân tích hồi quy thu được cho thấy, trị số R = 0.639 nghĩa là mối quan hệ
giữa các biến trong mô hình đã chặt chẽ hơn khi chưa xem xét đến đặc điểm DN. Hệ số xác
định R2 = 0.409, điều này nói lên độ thích hợp của mô hình là 40,9% hay nói cách khác thì
40,9% sự biến thiên của “Thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” được giải thích bởi 04
nhân tố ảnh hưởng nêu trên và 03 nhân tố đặc điểm của DN là “Số năm hoạt động”, “Số
lượng lao động” và “Doanh thu”. Tuy nhiên, giá trị R2 hiệu chỉnh phản ánh chính xác hơn
sự phù hợp của mô hình với tổng thể, kết quả phân tích cho thấy, R2 hiệu chỉnh có giá trị
bằng 0.367 (hay 36,7%) tức là chỉ có 36,7% sự biến thiên của biến phụ thuộc (Y) “Thực
hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” được giải thích bởi 04 biến độc lập và 03 biến thuộc
về đặc điểm của DN, còn 63,3% sẽ do các yếu tố khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.
Để kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy tổng thể, nghiên cứu xem xét đến giá
trị thống kê F trong bảng phân tích phương sai ANOVA (Bảng 4.25), giá trị F = 9.683 với
mức ý nghĩa Sig. = 0.000 < 0.05, bước đầu cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp


(Constant) 1.434
Tbinh_BN 0.210
Tbinh_BT 0.186
Tbinh_LP
0.138
Tbinh_VH 0.128
So_Nam
-0.002
Laodong1 -0.008

0.332
0.087
0.080
0.062
0.055
0.002
0.011

Dthu1
0.017
0.014
a. Dependent Variable: Tbinh_TN

4.322 0.000
0.243 2.412 0.018
0.216 2.331 0.022
0.188 2.243 0.027
0.212 2.330 0.022
-0.094 -1.046 0.298

dựa trên sự tác động của các nhân tố là “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài”,
“Hoạch định chiến lược định hướng bên trong”, “Luật và thực thi pháp luật” và “Văn hóa
nhân văn của DN”.
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết quả chủ yếu của nghiên cứu
Nghiên cứu đã sử dụng các mô hình lý thuyết của (Caroll, 1991, Caroll, 1994, Caroll,
1999), (Freeman, 1984), (Maignan and Ferrell, 2000) và kết quả điều chỉnh, phát triển thang
đo của (Galbreath, 2010) để xây dựng các khái niệm và thang đo nghiên cứu về các nhân tố
ảnh hưởng “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài”, “Hoạch định chiến lược định
hướng bên trong”, “Văn hóa nhân văn của DN” và “Thực hiện CSR của DN”, đồng thời
phát triển thêm thang đo nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” trên cơ sở thực tiễn bối cảnh
hoạt động của các DN thuộc Vinatex. Kết quả nghiên cứu và kiểm định đã được trình bày
theo mục tiêu nghiên cứu ở phần đầu của luận án, nghiên cứu sinh tổng hợp lại như sau:
(1). NCS đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 04 nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện
CSR tại các DN thuộc Vinatex gồm Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài, Hoạch
định chiến lược định hướng bên trong, Luật và thực thi pháp luật, Văn hóa nhân văn của DN.
(2). Kết quả kiểm định cho thấy cả 04 nhân tố ảnh hưởng Hoạch định chiến lược
định hướng bên ngoài, Hoạch định chiến lược định hướng bên trong, Luật và thực thi pháp
luật, Văn hóa nhân văn của DN đều tác động thuận chiều đến thực hiện CSR của các DN
thuộc Vinatex với mức ý nghĩa Sig.
xây dựng và phát triển thang đo cho nghiên cứu định lượng. Vì vậy, trong nghiên cứu
này, vẫn tồn tại một số thang đo còn yếu về cơ sở lý luận đề xuất thang đo.
Thứ hai, hạn chế về mẫu nghiên cứu: Các thông tin của nghiên cứu định tính có
thể bỏ sót những phát hiện mới hoặc loại bỏ những tiêu chí chưa phù hợp với môi
trường kinh doanh ở Việt Nam và đặc thù riêng của ngành may mặc. Mặc dù, số mẫu
sử dụng trong luận án thỏa mãn điều kiện để phân tích, nhưng có thể gây nhầm lẫn
đến phạm vi nghiên cứu gắn với tên đề tài nghiên cứu.
Thứ ba, hạn chế trong xử lý dữ liệu: Kết quả khảo sát chính thức qua hai giai
đoạn đã thu được lượng mẫu đủ lớn nhưng trong phân tích EFA vẫn còn xuất hiện
một số biến lưỡng tính. Ngoài ra, luận án còn chưa thực hiện tiến hành phân tích nhân
tố khẳng định (CFA) để khẳng định mức độ mối quan hệ chặt chẽ giữa các biến trong
mô hình. Vì vậy, luận án mới dừng lại ở việc xem xét hữu hạn các nhân tố ảnh hưởng
tới việc thực hiện CSR của DN mà chưa kết luận được chính xác xem các nhân tố này
tác động trực tiếp hay gián tiếp đến thực hiện CSR.
5.5.Hướng nghiên cứu tiếp theo

TN = 0.218BN + 0.185BT + 0.149LP + 0.123VH + 1.419 + e

Với mô hình gồm 04 nhân tố tác động trong nghiên cứu này, chỉ có 37,2% sự biến
thiên của biến phụ thuộc (Y) “Thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” được giải thích
bởi 04 biến trong mô hình, còn 62,8% sẽ do các yếu tố khác ngoài mô hình và sai số ngẫu
nhiên (R2 hiệu chỉnh có giá trị bằng 0.372 (hay 37,2%)).
(4). Với các số liệu trong thống kê mô tả, nghiên cứu cũng đã cung cấp thêm nhiều
thông tin quan trọng và có ý nghĩa như phần lớn các DN trong mẫu điều tra có quy mô lao
động (>3000) và doanh thu lớn (80% trên 200 tỷ đồng, năm 2016). Ngoài ra, kết quả nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng, thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex hiện nay là tương đối tốt trên
cả 4 đối tượng là người lao động, người tiêu dùng, môi trường và cộng đồng.
5.2. Hàm ý đề xuất cho các nhà quản trị trong các DN thuộc Vinatex
Đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạch
định chiến lược phát triển DN. Lãnh đạo càng quan tâm đến hoạch định chiến lược phát triển

KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng được đề cập ở giả thuyết
ban đầu của hoạch định chiến lược có mối quan hệ tác động mạnh nhất tới thực hiện
CSR trong các DN thuộc Vinatex, đặc biệt là “Hoạch định chiến lược định hướng bên
ngoài”. Khi xem xét tác động của các đặc điểm DN tới thực hiện CSR của các DN
thuộc Vinatex thì chưa có đủ ý nghĩa thống kê để kết luận có sự tác động rõ rệt nào. Kết
quả phân tích hồi quy cho thấy, cả bốn nhân tố đề xuất trong mô hình lý thuyết đều có
tác động tích cực tới thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex, trong đó mức tác động
mạnh nhất là nhân tố “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài” có β1 = 0.253
chiếm 28,95%; xếp thứ hai là “Hoạch định chiến lược định hướng bên trong” có β2 =
0.216 chiếm 24,71%; thứ ba là “Văn hóa nhân văn của DN” có β4 = 0.203 chiếm
23,23%; cuối cùng là “Luật và thực thi pháp luật” có β3 = 0.202 chiếm 23,11%.
Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án có những đóng góp mới về mặt học thuật và lý
luận: Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc
Vinatex. Trong đó bao gồm 03 nhân tố kế thừa từ nghiên cứu của các tác giả như Caroll
(1979, 1991,1999), Maignan and Ferrell (2000) và kết quả điều chỉnh, phát triển thang đo
của Jeremy (2010) và 01 nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” được tác giả phát triển trong
điều kiện nghiên cứu thực tế ở Việt Nam.
Những đóng góp về thực tiễn và khuyến nghị của Luận án: Đề xuất mô hình
nghiên cứu và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến thực hiện
CSR của các DN thuộc Vinatex. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần
giúp các DN thuộc Vinatex nhận thức được tầm quan trọng của thực hiện CSR để từ
đó có định hướng cụ thể cho thực hiện CSR ngày một phù hợp và hiệu quả hơn. Mặc
dù tác giả đã cố gắng nghiên cứu, tìm kiếm thông tin, song các nội dung trong bản
Luận án khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tác giả rất mong nhận được sự góp
ý của các nhà khoa học để Luận án được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!

Footer Page 13 of 63.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status