TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƯƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG
QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI – 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHẠM PHƯƠNG THÙY
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG
QUANH VỚI CHỦ ĐỀ “GIA ĐÌNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Vũ Thị Tuyết
HÀ NỘI – 2018
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề.............................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................... 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.................................................................. 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 5
7. Bố cục của khóa luận .................................................................................. 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN....................... 7
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ sở sinh lí học..................................................................................... 7
1.1.1.1. Đặc điểm vùng bán cầu đại não........................................................... 7
1.1.1.2. Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn................................. 8
1.1.2. Cơ sở tâm lí học...................................................................................... 8
1.1.3. Cơ sở giáo dục học ................................................................................. 9
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................. 10
1.1.4.1. Khái niệm từ và vốn từ ....................................................................... 10
1.1.4.2. Đặc điểm của từ ................................................................................. 11
1.1.4.3. Phân loại từ........................................................................................ 12
1.1.5. Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn ................................................ 26
1.1.6. Khái quát về hoạt động làm quen môi trường xung quanh............... 28
1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 29
1.2.1. Nội dung hướng dẫn trẻ làm quen với môi trường xung quanh ....... 29
1.2.2. Hình thức tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với môi trường xung
quanh .............................................................................................................. 35
1.2.3. Nội dung chương trình của hoạt động cho trẻ mẫu giáo lớn làm quen
môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình” ........................................... 37
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 39
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách con người. Việc thiếu quan tâm đến giáo dục mầm non
chính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện triển vọng cho trẻ em. Chính vì thế, hầu hết
các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một
mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người.
Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “thời kỳ vàng của cuộc đời”. Luật
Hệ thống giáo dục quốc gia Indonesia đã công nhận giáo dục mầm non là giai
đoạn tiền đề cho hệ thống giáo dục cơ bản. Luật Giáo dục Thái Lan nhấn
mạnh gia đình và Chính phủ phải cùng chia sẻ trách nhiệm đối với giáo dục
mầm non nhằm thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Còn theo ông
Sheldon Shaeffer, Giám đốc Văn phòng Giáo dục UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương, giáo dục mầm non thúc đẩy sự phát triển tình cảm cũng
như các kỹ năng về ngôn ngữ, nhận thức và thể chất của trẻ, chính những kỹ
năng mà đứa trẻ tiếp thu được qua các chương trình chăm sóc giáo dục mầm
non sẽ là nền tảng cho hoạt động học tập sau này của trẻ, bởi đây là giai đoạn
phát triển đặc biệt quan trọng của não bộ trẻ.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước và toàn xã hội luôn quan tâm coi trọng
tầm quan trọng của giáo dục mầm non, coi giáo dục mầm non là một bậc học
cần thiết và bắt buộc phải có trong hệ thống giáo dục. Từ chỉ thị 53/CP của
Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12/8/1966 đã xác định mục tiêu của giáo dục mầm
non: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”.
Điều 22, luật giáo dục 2005 quy định mục tiêu của giáo dục mầm non
là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy
1
nhiệm vụ của trường mầm non là phát triển toàn diện cho trẻ, tạo điều kiện
cho trẻ có đầy đủ các năng lực, yếu tố để chuẩn bị cho hoạt động học tập ở
trường phổ thông. Và một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phát triển
trường xung quanh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh
với chủ đề “Gia đình”.
2. Lịch sử vấn đề
Trẻ em luôn dành được nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và
xã hội; những vấn đề về trẻ em được các nhà nghiên cứu khoa học hết sức
quan tâm. Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn
không còn là một đề tài mới mẻ nữa, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở
nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” nhà
xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên
cứu rất kĩ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sở những đánh giá
chung về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ
của bộ môn ngôn ngữ học với những bộ môn khác, tác giả đã đưa ra một số
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn
đề phát triển vốn từ cho trẻ. Cuốn sách là tài liệu bổ ích cho các giáo viên và
sinh viên ngành mầm non cũng như các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này.
Trong “Tạp chí ngôn ngữ số 3-4/1984”, ông còn có bài viết: “Phát triển năng
lực hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường”. Bài viết đã gây
được sự quan tâm của nhiều bạn đọc.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã cung cấp những tri thức cơ bản về tiếng
Việt trong 2 tập “Tiếng Việt”, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2003; từ đó
giúp giáo viên mầm non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển
ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ mầm non.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm
non”, nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2014, cũng chú trọng đến việc dạy trẻ
nhận biết - tập nói trong ba năm đầu, phát triển ngôn ngữ tuổi mẫu giáo như
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã tìm được cho mình một hướng đi
riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm ra các biện pháp để phát triển vốn từ
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh
với chủ đề “Gia đình” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ngôn ngữ cho trẻ
mầm non.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6) tuổi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hoạt động làm quen môi trường xung
quanh với chủ đề “Gia đình”.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài.
- Đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua hoạt động làm quen môi trường xung quanh với chủ đề “Gia đình”.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và phân tích hệ thống hóa các tài liệu về sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ (đặc biệt là vốn từ), về việc tổ chức hoạt động làm quen môi trường
xung quanh của trẻ mẫu giáo lớn.
6.2. Phương pháp điều tra
- Điều tra trực tiếp (đàm thoại với giáo viên).
- Điều tra gián tiếp (dùng phiếu câu hỏi để tìm hiểu).
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng các phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính đúng
đắn của giả thuyết khoa học được đưa ra trong đề tài.
vùng giác quan: Vùng thị giác (thùy 17, 18, 19), vùng thính giác (vùng 22, 41,
42), vùng thị giác (vùng 43), vùng khứu giác (vùng 34), vùng cảm giác (vùng
1, 2, 3), vùng vận động (thuộc hồi trán lên), vùng lời nói (vùng Broca, vùng
Wernicke).
1.1.1.2. Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ mẫu giáo lớn
Bộ máy phát âm bao gồm: Phổi, hệ thống cơ hoành và khí quản; thanh
quản và dây thanh; khoang miệng (với các bộ phận cấu âm quan trọng như:
môi, răng, lưỡi, ngạc cứng, ngạc mềm); khoang mũi.
Sự phát âm của trẻ phụ thuộc vào bộ máy phát âm. Để dạy trẻ phát âm
đúng cần thường xuyên luyện tập một số cơ quan phát âm như: môi, lưỡi,
răng, sự phát triển linh hoạt của hàm. Giáo viên cần giúp trẻ biết điều chỉnh
nhịp nhàng các cử động của bộ máy phát âm.
Rất nhiều trẻ mẫu giáo lớn nói không rõ, từ này cộng với từ kia tạo
thành một tập hợp âm khó hiểu. Nguyên nhân là cử động chậm chạp của môi
và lưỡi, tính linh hoạt của hàm còn yếu, do đó miệng của trẻ há không to và
các nguyên âm phát ra không đúng, sự phát âm không rõ ràng, các từ phụ
thuộc vào sự phát âm của các nguyên âm có đúng hay không và sau đó phụ
thuộc vào sự điều hòa các hoạt động bộ máy phát âm khi xác lập các phụ âm.
Tập luyện cơ của bộ máy phát âm và trọng âm là quan trọng và cần thiết như
tập thể dục hàng ngày đối với trẻ mẫu giáo.
1.1.2. Cơ sở tâm lí học
* Thứ nhất: Trẻ xác định được ý thức bản ngã và tính chủ định trong
hoạt động tâm lý.
- Tiền đề của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đã
được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi. Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được
kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở để tự đánh giá một
cách đúng đắn hơn và là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt.
- Sự tự ý thức còn biểu hiện trong sự phát triển giới tính của trẻ. Trẻ
thần chủ động sáng tạo như I.F.Kharlamop đã định nghĩa: “Tính tích cực là
trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động. Vậy tính tích
cực nhận thức là trạng thái hoạt động của trẻ em, đặc trưng bởi khát vọng
học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình lắm vững kiến thức”.
* Vấn đề giáo dục tích hợp ở trường mầm non
Xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội, con người là một
tổng thể thống nhất, lại do sự phát triển của trẻ dưới 6 tuổi chưa tách bạch
thành các chức năng riêng biệt, nên trong quá trình dạy học không thể thực
hiện các tác động riêng lẻ, tách rời các nội dung cũng như các mặt giáo dục.
Do đó, tích hợp trở thành nguyên tắc cơ bản của giáo dục mầm non. Tích hợp
trong giáo dục mầm non được hiểu như một phương thức liên kết, xâm nhập,
đan xen những quá trình sư phạm tạo thành một thể thống nhất, tác động đồng
bộ đến đứa trẻ như một chỉnh thể toàn vẹn. Nhờ đó, hiệu quả sư phạm được
nhân lên.
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.4.1. Khái niệm từ và vốn từ
* Khái niệm từ
Trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu, từ tiếng Việt gồm
một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhất
định, ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ và
nhỏ nhất để tạo thành câu.
* Khái niệm vốn từ
Từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trong
một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới). Vốn từ vựng thường xuyên
tăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thu
nhận kiến thức. Người ta phân biệt hai loại kho từ vựng là chủ động và bị
động. Kho từ vựng chủ động bao gồm các từ được sử dụng trong văn nói và
văn viết. Kho từ vựng bị động bao gồm các từ mà một người có thể nhận ra
Em bé chạy.
Tùng là sinh viên.
- Khả năng chi phối các thành phần phụ trong cụm từ, trong câu.
Ví dụ:
Động từ ngoại động: gặt (lúa), đánh (giặc), làm (nhà)…
Động từ nội động: sôi, chảy, tan, chìm…
1.1.4.3. Phân loại từ
a. Phân loại từ theo đặc điểm ngữ pháp
a.1. Danh từ
* Đặc điểm của danh từ
- Danh từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật (sự vật được hiểu theo nghĩa
khái quát nhất: đồ vật, con vật, cây cối, người, khái niệm…).
- Danh từ có khả năng kết hợp với các từ chỉ số lượng ở trước và từ chỉ
định ở sau để tạo nên cụm danh từ mà nó làm thành tố trung tâm.
Ví dụ:
Lan là học sinh ngoan. (Lan là chủ ngữ)
Cô giáo khen Lan. (Lan là bổ ngữ)
Học sinh được tặng bằng khen là Lan. (Lan là vị ngữ)
* Các tiểu loại danh từ
- Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một người, một địa danh hay một
vật. Ví dụ: Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Hà Nội, Đồng Tháp Mười…
- Danh từ chung: là “tên gọi của một lớp sự vật đồng chất về một
phương diện nào đó” (Diệp Quang Ban). Ví dụ: bàn, ghế, giường, sách…
Danh từ chung gồm:
Bé đang học. (động từ làm vị ngữ)
Bà tôi thích nghe hát quan họ. (động từ làm bổ ngữ)
Thi đua là yêu nước. (động từ làm chủ ngữ)
* Các tiểu loại động từ
- Động từ không độc lập: là những động từ thường không dùng một
mình mà phải dùng với một từ khác hoặc một cụm từ đi sau làm thành tố phụ.
Ví dụ: toan, dám, phải, cần, nên, hóa thành, trở nên…
- Động từ độc lập: là những động từ được dùng một mình trong chức
năng ngữ pháp trong câu. Chúng được phân chia thành hai nhóm:
+ Nội động từ: là những động từ chỉ hoạt động, trạng thái tự thân,
không tác động đến một đối tượng nào. Nội động từ gồm các nhóm nhỏ sau
đây: Nhóm chỉ tư thế, nhóm chỉ sự tự di chuyển, nhóm chỉ quá trình, nhóm
chỉ trạng thái tồn tại, nhóm chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí.
+ Ngoại động từ: là những động từ chỉ hoạt động có chuyển đến, tác
động đến một đối tượng nào đó. Ngoại động từ gồm các nhóm nhỏ sau đây:
Động từ tác động, động từ chỉ hoạt động phát nhận, động từ chỉ hoạt động gây
khiến, động từ chỉ hoạt động đánh giá đối tượng, động từ chỉ cảm nghĩ, nói
năng. a.3. Tính từ
* Đặc điểm của tính từ
- Tính từ có nghĩa khái quát là chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của
hoạt động, trạng thái.
- Tính từ có thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính
phụ mà các thành tố phụ là các phụ từ (trừ phụ từ chỉ mệnh lệnh), trong đó khá
tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ. Ví dụ: rất nổi tiếng, hơi nhanh, đẹp quá…
- Tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp trong câu. Ngoài ra tính từ cũng có
thể làm chủ ngữ, định ngữ, bổ ngữ…
Ví dụ:
nghìn, tỉ…), và số từ chỉ số lượng không chính xác (dăm, mươi, dăm bảy…).
- Số từ chỉ thứ tự: cấu tạo y nguyên như số từ chỉ số hoặc có thêm yếu
tố thứ hay số. Ví dụ: Vua Hùng thứ mười tám, nhà số năm...
a.5. Đại từ
* Đặc điểm của đại từ
- Đại từ có chức năng để xưng hô, để trỏ, hoặc để thay thế (cho danh từ,
động từ, tính từ).
- Tùy theo từng trường hợp cụ thể, đại từ thay thế cho từ thuộc từ loại
nào thì mang đặc điểm ngữ pháp của từ loại đó.
Ví dụ: Tôi ăn cơm. Nó cũng thế.
* Các tiểu loại đại từ
Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách các đại từ thành các tiểu loại
sau:
- Các đại từ xưng hô; các đại từ chỉ định; các đại từ để thay thế; các đại
từ để hỏi, các đại từ để hỏi còn được dùng theo nghĩa phiếm chỉ: chúng không
nhằm để hỏi, mà chỉ chung mọi người, mọi sự vật, mọi nơi chốn, thời gian…
nhưng không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào. Ví dụ: “Nhiệm vụ nào cũng
hoàn thành” (Hồ Chí Minh).
a.6. Phụ từ
* Đặc điểm của phụ từ
- Về ý nghĩa, phụ từ không thực hiện chức năng định danh, nó chỉ có
chức năng bổ sung một loại ý nghĩa nào đó cho các từ định danh.
- Về khả năng kết hợp, phụ từ chuyên đi kèm với một loại từ nào đó ở
phía trước hoặc phía sau.
- Trong câu, phụ từ không thể một mình đảm nhiệm chức năng của các
thành phần câu.
Ví dụ: Mẹ em đang tưới rau.
Trong ví dụ này từ đang là một phụ từ chỉ thời gian tiếp diễn cho hoạt
(người viết) đối với nội dung câu nói hoặc đối với người nghe (người đọc).
- Các tình thái từ không thể đóng vai trò thành phần cấu tạo trong cụm
từ hay trong câu.
* Các tiểu loại tình thái từ
- Các trợ từ nhấn mạnh: Đây là những từ được dùng ở trước từ hay cụm
từ cần nhấn mạnh: chính, cả, những, chỉ, đến, tận, ngay, đích…
Ví dụ:
Nó làm những ba bài tập. (nhấn mạnh số lượng)
Chính nó cũng không làm hết bài tập. (nhấn mạnh chủ thể)
- Các tiểu từ tình thái: Đây là những từ thường làm dấu hiệu chỉ rõ mục
đích nói của câu (hỏi, ra lệnh, kể, cảm thán…). Đồng thời, chúng cũng bộc lộ
thái độ, tình cảm của người nói (người viết).
Ví dụ: Chúng cháu chào cô ạ! (ạ biểu thị thái độ kính trọng).
Chúng mình đi xem nhé! (nhé biểu thị thái độ thân mật, hàm ý
hỏi).
- Các từ cảm thán: Đây là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc
của người nói: có thể dùng để gọi đáp (ơi, vâng, dạ…), có thể dùng để bộc lộ
cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, sợ hãi, tức giận (ôi, trời ơi, ô, ủa, ơ
kìa, hỡi ôi, eo ôi, ôi giời ôi, than ôi…).
b. Phân loại từ theo cấu tạo
b.1. Từ đơn
* Khái niệm
Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên.
* Phân loại
Trong tiếng Việt, từ đơn đơn âm chiếm đại đa số. Bên cạnh đó là các từ
đơn đa âm. Từ đơn đa âm có hai loại: từ đơn đa âm thuần Việt và từ đơn đa
ghép hư.
- Từ ghép thực là từ ghép do hai hoặc hơn hai hình vị thực (là hình vị
có nghĩa từ vựng hoặc vốn có nghĩa từ vựng) kết hợp với nhau theo phương
thức ghép mà có (ví dụ: nhà cửa, xe đạp…). Từ ghép hư là từ ghép do hai
hoặc nhiều hơn hai hình vị hư (hình vị không có nghĩa từ vựng) kết hợp lại
với nhau theo phương thức ghép mà có (ví dụ: vì thế, cho nên, để cho, nếu...).
Căn cứ vào tính chất của mối quan hệ giữa các hình vị, người ta lại chia
từ ghép thực thành hai loại: từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập.
+ Từ ghép chính phụ là từ ghép trong đó giữa hai hình vị có mối quan
hệ chính phụ. Hình vị chỉ loại lớn là hình vị chính, đứng trước, và hình vị phụ
bổ sung ý nghĩa cho hình vị chính đứng sau. Từ ghép chính phụ có nhiều loại:
Loại có thành tố chính chỉ sự vật (mặt trời, tên lửa…), loại có thành tố chính
chỉ hoạt động ( ăn ý, ăn rộm…), loại có thành tố chính chỉ tính chất (tốt bụng,
vui tính…)
+ Từ ghép đẳng lập là từ ghép trong đó hình vị có quan hệ đẳng lập,
ngang hàng. Ví dụ: ông bà, mua sắm, tươi vui… Trong từ ghép đẳng lập, các
hình vị trong một từ phải cùng loại, phải đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái
nghĩa. c. Phân loại từ theo phạm vi sử dụng
* Từ toàn dân
Từ vựng toàn dân là vốn từ dùng chung cho tất cả những người nói
tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau.
c.2. Từ địa phương
* Khái niệm
Là những lớp từ chỉ được sử dụng trong phạm vi một vùng miền và một
bộ phận dân cư có quan hệ nguồn gốc ở vùng miền đó. Từ địa phương có dự