Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi dân gian tại trường mầm non đại thịnh – mê linh – hà nội - Pdf 56

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
MỘT SỐ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TẠI TRƯỜNG MẦM NON
ĐẠI THỊNH- MÊ LINH- HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
MỘT SỐ TRÒ CHƠI DÂN GIAN TẠI TRƯỜNG MẦM NON
ĐẠI THỊNH- MÊ LINH- HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn:

T S. Lê Thị Thùy Vinh

HÀ NỘI, 2018

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................................5
6. Bố cục khóa luận .........................................................................................................................6
NỘI DUNG ......................................................................................................................................7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ............................................................................7
1.1 Cơ sở lí luận..............................................................................................................................7
1.1.1. Đặc điểm trẻ lứa tuổi mầm non ............................................................................................7
1.1.2. Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ .....................................................................................13
1.1.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non ...............................................................................16
1.1.4. Trò chơi và một số phương pháp giáo dục trong trường mầm non.................................22
1.1.5. Trò chơi dân gian ................................................................................................................27
1.1.6. Trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non ...............................31
1.2. Thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà
Nội ..................................................................................................................................................42
1.2.1. Vài nét về trường mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội...............................................42
1.2.2. Thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn thông qua các trò chơi dân gian tại trường
mầm non Đại Thịnh- Mê Linh- Hà Nội
.......................................................................................43
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO
LỚN THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN.............................................................................46
2.1. Hình thành góc “Trò chơi dân gian” trong và ngoài lớp học..............................................46
2.2. Tổ chức cuộc thi “Bé tìm hiểu về trò chơi dân gian” trong trường mầm non ...................47
2.3. Phát động phong trào sáng tác đồng dao cho trò chơi dân gian .........................................48
2.4. Phối hợp giữa trường mầm non và gia đình trẻ...................................................................50
2.5. Cách thức tổ chức một số trò chơi dân gian cho trẻ mầm non ...........................................51
2.5.1. Trò chơi “Mèo đuổi chuột”.................................................................................................51
2.5.2. Trò chơi “Bỏ lá” (bỏ giẻ).....................................................................................................53
2.5.3. Trò chơi “Rồng rắn lên mây”.............................................................................................56
2.6. Một số lời đồng dao được sử dụng trong trò chơi dân gian ................................................60

của trẻ. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy vì thế ngôn ngữ có vai trò hết sức
quan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư
duy ở trẻ. Vì nhờ có ngôn ngữ, trẻ có thể nói lên những suy nghĩ, mong muốn
của mình và mở rộng khả năng giao tiếp trong học tập cũng như vui chơi.
1.2.

Qua nghiên cứu các nhóm phương pháp, biện pháp nhằm phát triển

ngôn ngữ cho trẻ, chúng tôi nhận thấy nhóm phương pháp trò chơi là nhóm
phương pháp chủ đạo trong các hoạt động học tập tại trường mầm non. Trò
chơi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của trẻ. Khi chơi
trẻ sẽ trở thành những chủ thể riêng biệt, trẻ có thể chủ động trong các hoạt
động của mình. Trẻ có thể tự do trò chuyện, giao tiếp với cô giáo và các bạn
cùng chơi từ đó vốn từ của trẻ sẽ được nâng cao hơn. Như thế, trò chơi là
phương tiện giáo dục có mối quan hệ rất chặt chẽ ở trường mầm non, nó góp
phần thúc đẩy sự phát triển nhận thức của trẻ. Trong các trò chơi của trẻ, trò
chơi dân gian đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nhận thức
cũng như phát triển ngôn ngữ đối với trẻ. Trò chơi dân gian là những trò chơi
sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản
1


sắc văn hóa dân gian. nó được kết tinh từ quá trình lao động và sinh hoạt,
trong đó nó tích tụ cả trí tuệ và cả niềm vui sống của bao thế hệ người Việt
xưa. Mỗi một trò chơi đều mang những nét bản sắc văn hóa dân tộc riêng,
không cầu kì cao sang mà vô cùng dân dã, bình dị, gần gũi đúng như bản chất
của nhân dân Việt Nam từ xưa đến nay. Điểm tiêu biểu của trò chơi dân gian
là hầu hết đều gắn với các bài đồng dao vui nhộn, dễ học, dễ thuộc, gần gũi
với thiên nhiên và phù hợp với lứa tuổi mầm non. 5-6 tuổi là giai đoạn quan
trọng trong sự hình thành nhân cách cũng như sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ.

Trịnh Quỳnh Hoa cũng có những nhận định về đặc điểm và tác dụng của
trò chơi dân gian qua bài viết “ Cuộc sống trẻ qua các trò chơi dân gian”
trong báo Văn Hóa số Xuân Bính Tuất 2006. Tác giả cho rằng tông qua các
trò chơi dân gian đơn giản, dễ chơi, dễ tổ chức đã rèn luyện cho trẻ sự nhanh
nhạy, khéo léo, phát triển khả năng phán đoán suy luận, khả năng tính toán,
tính kỉ luật.
Trò chơi dân gian của trẻ rất phong phú và đa dạng, theo G.S Vũ Ngọc
Khánh có bốn loại trò chơi dân gian: trò chơi vận động, trò chơi học tập, trò
chơi sáng tạo và trò chơi mô phỏng.
Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện nay thì sự đa dạng và phong
phú của trò chơi dân gian Việt Nam ngày càng bị mai một. Điều đó được thể
hiện rất rõ trên trang Chametainang.net tác giả Trần Xuân Toàn với bài viết
Đồng dao và trò chơi trẻ em, những hình thức giáo dục trẻ dần bị lãng quên.
Qua bài viết tác giả Trần Xuân Toàn đã nói lên được tầm quan trọng của kho
tàng trò chơi trẻ em đó, nó là phương tiện giáo dục đức, trí, thể, mỹ, góp phần
hình thành nhân cách của trẻ.
Đứng trên phương diện là một nhà giáo dục, một nhà tâm lí, Nguyễn Ánh
Tuyết đã nghiên cứu rất nhiều về trò chơi dân gian dối với sự phát triển của
trẻ mầm non. “ Giáo dục mầm non- những vấn đề lí luận và thực tiễn” cuốn
sách được thừa hưởng những quan điểm về hoạt động vui chơi của các nhà
triết học, nhà giáo dục học như: Vugotxki, Leonchiep..; những nhà tâm lí học
3


Macxit: Freud. Tác giả đã đưa ra những nhận định của mình về hoạt động vui
chơi, trò chơi và trò chơi dân gian đối với sự phát triển của trẻ, đây là một
hoạt động có tác động mạnh mẽ tới trẻ mầm non, góp phần hình thành và giáo
dục nhân cách trẻ. Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu những mặt hạn chế
của trò chơi dân gian, nó có ảnh hưởng đến sự phát triển và có thể dẫn đến sự
phát triển lệch lạc của trẻ sau này[8,218]

lớn thông qua một số trò chơi dân gian tại trường Mầm non Đại
Thịnh- Mê Linh- Hà Nội
- Trên cơ sở của hai nhiệm vụ trên chúng tôi đưa ra một số đề xuất
nhằm phát triển trò chơi dân gian tại trường mầm non Đại ThịnhMê Linh- Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài nghiên cứu này là biện pháp phát triển gnoon
ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Đại Thịnh- Mê LinhHà Nội thông qua một số trò chơi dân gian.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu tại khối 5 tuổi trường Mầm non Đại
Thịnh- Mê Linh- Hà Nội
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thực nghiệm
- Thủ pháp phân tích, tổng hợp
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu

5


6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
khóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
thông qua trò chơi dân gian

6

7


này nhu cầu giao tiếp của trẻ phát triển, người lớn là khâu trung gian giữa trẻ
và đồ chơi.

Trẻ em

Đồ chơi
Người lớn

Trong khoảng 7-8 tháng trẻ đã nghe tốt và phân biệt được một số giọng
nói quen thuộc như giọng của mẹ, bố, ông bà, anh, chị,...
Cuối năm thứ nhất chủ yếu phát triển về vận động và định hướng vào
môi trường xung quanh chủ yếu dựa và thị giác, thính giác và xúc giác. Có thể
nói rằng định hướng của trẻ vào thế giới xung quanh trước hết bằng sự vận
động và thao tác với đồ vật, trên cơ sở đó mà làm phát triển của quá trình tâm
lí, rồi sau đó mới có sự định hướng bằng các quá trình tâm lí.
Ở lứa tuổi nhà trẻ hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo, trẻ tò mò
muốn khám phá mọi thứ xunh quanh. Trẻ thường đăt ra các câu hỏi “ tại sao”,
“ vì sao”
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có chủ định: trẻ học
suy nghĩ về đối tượng thật khi tham gia trò chơi nghĩ là trò chơi đã góp phần
vào việc chuyển từ tư duy trực quan- hành động sang tư duy trực quan- hình
tượng.
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, là thời kì bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt
động chủ đạo. Hoạt động vui chơi vẫn là hoạt động chủ đạo trong suốt thời kì
mẫu giáo. Tuy nhiên, bước sang độ tuổi mẫu giáo lớn những yếu tố của hoạt
động học tập bắt đầu nảy sinh và dần giữ vai trò chủ đạo. Do đó, bước ngoặt 6
tuổi là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục phải quan tâm, một măt là

Do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày của trẻ giảm
xuống còn 11 tiếng trên ngày.

9


Về hệ vận động, trẻ 5-6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm
cơ như ở người lớn. Tuy nhiên việc tiếp thu những thói quen và vận động còn
phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể trẻ nhất là sự tập luyện phù hợp.
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ cũng tăng lên và biến đổi về
chất: huyết sắc tố 80-90%; hồng cầu 4,5-5 triệu dơn vị; bạch cầu 7-10 nghìn;
tiểu cầu 200-300 nghìn. Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên từ 80110 lần trên phút.
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
1.1.1.3 Đặc điểm tư duy nhận thức
Từ kết quả nghiên cứu tâm lí học, trong giáo dục học trẻ em chia ra làm 2 giai
đoạn lớn: giai đoạn từ 0-3 tuổi gọi là lứa tuổi nhà trẻ, giai đoạn từ 3-6 tuổi
được gọi là giai đoạn mẫu giáo. Mỗi giai đoạn trên lại được chia thành các
giai đoạn nhỏ hơn. Mỗi giai đoạn đều được đặc trưng bởi các đặc điểm phát
triển nhất định.
*Lứa tuổi nhà trẻ (0-3 tuổi)
Trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ được đặc trưng bởi tốc độ phát triển nhanh về thể chất
và tâm lý. Sự phát triển thể chất có quan hệ và ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát
triển trí tuệ của trẻ. Trước khi biết nói trẻ đã biết chỉ tay vào đối tượng để trả
lời câu hỏi của người lớn. trẻ lứa tuổi nhà trẻ đã lĩnh hội ngôn ngữ gắn liền
với sự phát triển tư duy. Những biểu hiện đầu tiên của tư duy xuất hiện vào
cuối năm thứ nhất và đầu năm thứ hai khi trẻ lĩnh hội các hành động thực
hành, định hướng vào việc làm rõ mối quan hệ giữa các đối tượng. Đây là tư
duy trực quan hành động, cũng ở giai đoạn này trẻ đã phát triển những quá
trình tâm lí khác như ghi nhớ, chú ý. Ở cuối năm thứ ba trẻ đã có thể phân

vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã qua để suy luận những
vấn đề mới tuy nhiên chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài chứ chưa
đi sâu vào bản chất bên trong. Trẻ mẫu giáo lớn đã biết so sánh các dấu hiệu
giống và khác nhau của hai đối tượng. Trong giao tiếp trẻ đã có ý thức đối với
11


hành động và lời nói của mình. Trẻ biết thực hiện nghĩa vụ bản thân và tuân
thủ những quy định, nề nếp trong vui chơi, học tập, lao động và sinh hoạt ở
gia đình cũng như ở trường mầm non.
-Mẫu giáo lớn (5 đến 6 tuổi)
Ở giai đoạn này trẻ đã biết tương đối nhiều về bản thân, biết điều khiển những
cảm xúc và hành vi, điều đó tạo điều kiện cho sự chủ động của hành vi. Ở
mẫu giáo lớn, ý thức bản ngã của trẻ đã được xác định, trẻ có khả năng so
sánh mình với những người khác. Trẻ đã hiểu được giới tính của mình và biết
phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính. Trẻ có thể lĩnh hội các
khái niệm sơ đẳng và có các lập luận chính xã khi được dạy dỗ. Sự chú ý của
trẻ cũng được nâng cao hơn, bền vũng hơn, ghi nhớ cũng có tính chủ động
hơn. Trẻ mẫu giáo lớn đã có khả năng tổng hợp và khái quát hóa đơn giản
những dấu hiệu tiêu biểu bên ngoài. Trẻ biết so sánh đặc điểm giống và khác
nhau của một vài đối tượng, biết phân nhóm các đối tượng theo một vài dấu
hiệu rõ rệt.
Ở trẻ mẫu giáo lớn, kiểu tư duy trực quan hình tượng vẫn mạnh mẽ, vào cuối
tuổi mẫu giáo lớn đã xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ. Nó cho phép trẻ đi
sâu vào những mối liên hệ phức tập của sự vật và mở ra khả năng nhìn thấy
bản chất sự vật, hiện tượng, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức ở trình độ khái quát
cao nhưng vẫn nằm trong phạm vi của tư duy trực quan hình tượng nói chung.
Theo tác giả L.A.Venger, tư duy trực quan sơ đồ của trẻ 5-6 tuổi là quá trình
hình thành các biểu tượng về không gian với hai thao tác trí tuệ là sơ đồ hóa
(mã hóa), tức là sắp xếp vị trí của các sự vật trong không gian thật (3 chiều)

trọng nhất” (Lenin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau,
cùng nhau hành động vì những mục đích chung. Không có ngôn ngữ con
người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ
em, một sinh thể yếu ớt rất cần sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn.
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng
của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giúp
13


đỡ. Giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt
động và trong hoạt động hình thành nhân cách.
1.1.2.2 Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy nhận thức
Trong quá trình trưởng thành của một đứa trẻ, bên cạnh thể chất là trí tuệ,
trong đó ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy. Ngôn ngữ chính là hiện
thực (sự hiện hữu) của tư duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được
(nhất là tư duy trừu tượng) đều nhờ vào ngôn ngữ. Tư duy và ngôn ngữ có
mối quan hệ mật thiết với nhau; nếu không có ngôn ngữ thì tư duy của con
người không thể diễn ra. Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cụ
thể hóa, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và bản thân chủ thể
tư duy. Ngược lại nếu không có tư duy và các sản phảm của nó thì ngôn ngữ
chỉ là những âm thanh vô nghĩa. Phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ có mục
đích phát triển bản thân mà có ngôn ngữ tư duy của trẻ được phát triển. Đây là
hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại mạnh mẽ đến nhau
(Galperin: ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ em). Ngôn
ngữ phát triển đồng thời làm cho tư duy phát triển. Ngược lại, tư duy phát
triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ. Mối quan hệ đó có thể được
sơ đồ hóa như sau:

Tư duy


cơ bản trẻ đã phát âm chính xác tất cả các âm vị, thanh điệu của tiếng mẹ đẻ.
Trẻ đã nói năng tương đối lưu loát, biểu cảm. Về mặt ngữ pháp, hầu hết các
mẫu câu tiếng Việt trẻ cũng đã sử dụng vào lúc 6 tuổi. Sự thật là từ những giờ
học ngôn ngữ đầu tiên đối với mỗi con người là ngay từ khi lọt lòng mẹ.
Trường mầm non là trường học đầu tiên. Ở đây, có điều kiện, có cơ hội để
giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học
tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm
nhất.
15


1.1.3 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
1.1.3.1 Khái niệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
U.Sinxki đã khẳng định “tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn
quý của mọi tri thức”. Từ đó có thể thấy rằng ngôn ngữ có vai trò rất to lớn
trong cuộc sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, đồng thời là
công cụ tư duy. Nhờ ngôn ngữ con người có thể trao đổi với nhau những kinh
nghiệm hay tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín.
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành
những con người phát triển toàn diện.
Về mặt đạo đức: ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo
đức cho trẻ. Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ dồi
dào những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực, đạo đức, rèn luyện cho
trẻ những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống.
Về trí tuệ: ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục trí tuệ cho
trẻ. Thông qua ngôn ngữ, trẻ có thể nhận thức thế giới xung quanh một cách
sâu rộng, rõ ràng, chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt
động trí tuệ. Vì vậy, việc phát triển trí tuệ cho trẻ không tách rời phát triển
ngôn ngữ.
Về mặt thể lực: giáo dục thể lực trong trường mầm non là quá trình tác

Các nhà khoa học Hoa Kì, Australia ( Morrow Lesley, Otto Bervelly,...),... coi
phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ tích hợp các thành tố ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp, lời nói mạch lạc, ngữ dụng, thêm vào đó là phát triển khả năng tiền
đọc- viết (emergent literacy) của trẻ.
Như vậy, có thể thấy rằng: Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình
từ thấp đến cao với các giải mang những đặc trưng khác nhau tùy thuộc vào
từng độ tuổi của trẻ; ở mỗi giai đoạn có sự kế thừa và phát triển những thành
tựu của giai đoạn trước.
Các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau chia hai giai đoạn: Giai
đoạn tiền ngôn ngữ và giai đoạn ngôn ngữ chính thức.
17


- Giai đoạn tiền ngôn ngữ: Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình học
nói của đứa trẻ. Mặc dù trẻ chưa có các từ, chưa hiểu cách sử dụng các quy
tắc ngữ pháp nhưng trẻ đã bắt đầu vào giao tiếp. Các nhà tâm lí học cho rằng
thời kì tiền ngôn ngữ này là chung cho tất cả các ngôn ngữ và thời kì âm bập
bẹ của trẻ em trên toàn thế giới là như nhau. Đứa trẻ sử dụng các âm bập bẹ,
cử chỉ, thái độ để giao tiếp với người lớn.
- Giai đoạn ngôn ngữ: Bắt đầu từ tháng 12 trở đi sẽ xuất hiện những
âm bập bẹ có nghĩa đầu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp
với người lớn. Các âm bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các từ
tham gia vào cấu tạo câu sử dụng trong giao tiếp. Những từ đầu tiên xuất
hiện, các kiểu câu đơn giản gồm 2-3 từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻ
tăng lên. Trẻ tích cực hơn trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.
Nhu cầu giao tiếp tăng lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, kết quả là
các kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ được hình thành.
Các tác giả Penny Tassony và Kate Beith trong cuốn Nursery Nursing
(chăm sóc trẻ thơ) đã khái quá các bước phát triển chung ngôn ngữ cho
trẻ em theo bảng dưới đây:

6-12 tháng

như: me me me me, da da da da,...
- Âm bập bẹ trở nên du dương hơn, sáng tạo
hơn và đến 9 tháng tuổi hầu hết các âm thanh
được sử dụng đều cần thiết để trẻ học nói.
- Đến tháng 10, trẻ đã hiểu được khoảng 15 từ.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status