I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Giáo dục mầm non có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân, là khâu đầu tiên của quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người,
đồng thời góp phần chuẩn bị cho trẻ đến trường tiểu học. Trẻ bước vào lớp 1 có
sự chuyển dần hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang hoạt động học tập. Đây là
quá trình rất cần có sự tổ chức, hướng dẫn và giáo dục đúng đắn của cả gia
đình, nhà trường và xã hội. Nếu không được chuẩn bị tốt trước khi vào lớp 1 thì
có thể ở một số trẻ sẽ có những biểu hiện như: tâm lí sợ sệt, bỡ ngỡ không thích
ứng với cuộc sống và hoạt động ở trường phổ thông; khó khăn trong việc thực
hiện nhiệm vụ học tập và thiết lập các mối quan hệ với mọi người xung
quanh,...chính vì vậy, việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 giữ một vai trò quan trọng
và cần thiết”. [1]
Khi trẻ lên 6 tuổi nghĩa là trẻ hết tuổi mầm non là lúc trẻ đạt xong nền
móng của nhân cách cho trẻ. Sự phát triển về mặt đạo đức cho trẻ sau này đều
mang dấu ấn của thời ấu thơ. Vì thế từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát
triển toàn diện cho trẻ, trên cơ sở đó từng bước hình thành nhân cách cho trẻ
theo phương hướng, yêu cầu và xã hội đặt ra. Có thể nói thời kỳ trẻ 6 tuổi là bản
lề cho sự phát triển mang tính bước ngoặt. Đặc biệt khi trẻ ở giai đoạn này sẽ
chuyển từ giai đoạn mầm non và bước sang giai đoạn tiểu học. Lúc này chúng ta
sẽ nhận thấy đặc điểm phát triển của trẻ 6 tuổi là phát triển về thể chất, tâm sinh
lý nhận thức, có sự thay đổi khi trẻ tiếp xúc với môi trường học đường.
“Việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 là rất quan trọng. Theo các nhà tâm lí giáo dục, học tập ở lớp 1 có tác động rất lớn đến việc bé có yêu trường học, yêu
việc học hành và tìm được phương pháp học tập tốt cho những năm sau này hay
không. Thực tế cho thấy, nhiều trẻ đến lớp 1 trong những ngày đầu đầy hăm hở
và chỉ vài tuần sau đã chán nản đòi bỏ học ở nhà. Trước hết, cần khẳng định,
vào lớp 1 là một “bước ngoặt” lớn trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ: đang từ
cuộc sống khá thoải mái về mặt thời gian cũng như tinh thần, trẻ phải chuyển
qua một môi trường đòi hỏi “làm việc” một cách thực sự; cần biết tập trung chú
ý trong cả một tiết học dài 40-45 phút... đây là việc không đơn giản khi trẻ bắt
đầu bước vào những tuần học đầu tiên ở lớp 1.”[1]
2
“ Có thể nói đi học lớp 1 là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của trẻ
vì trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo sang hoạt
động học tập là chủ đạo của học sinh ở trường tiểu học.
Ở trường tiểu học, học là hoạt động chủ đạo và bắt buộc, không thích
cũng phải học, học phải tạo ra sản phẩm (phải hoàn thành các nhiệm vụ học
tập, làm bài tập, trả lời câu hỏi... theo tiến độ của cả lớp). Vì vậy cần chuẩn bị
tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 cho trẻ để giúp trẻ thành công ngay từ những ngày
đầu, tuần đầu của lớp 1, để trẻ tự tin và thích được đi học lớp 1”[2]
Theo nhà tâm lý học: Nguyễn Ánh Tuyết thì: Bước ngoặt 6 tuổi và sự
chuẩn bị về mặt tâm lý cho trẻ vào lớp 1 như sau:
“Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em.
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến
đổi của hoạt động chủ đạo. Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong
trong suốt thời kỳ mẫu giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên
dạng hoàn chỉnh của nó, những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh.
Cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự
chín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm
thế để trẻ có thể thích nghi bước đầu với điều kiện học tập ở lớp 1.
Việc chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1 là chuẩn bị những tiền đề, những yếu
tố của hoạt động học tập để có thể thích ứng tốt nhất, nhanh nhất đối với việc
học ở lớp 1.” [3]
Việc chuẩn bị cho con trẻ vào học lớp 1 không chỉ là chuẩn bị đầy đủ
quần áo, sách vở, cặp bút dụng cụ học tập và cho con học trước chương trình lớp
1 là đủ mà phải chuẩn bị tâm lý cho trẻ, để trẻ bước vào lớp một với một tâm thế
vững vàng, đầy háo hức đón chờ một sự thay đổi nhiều điều mới lạ. Bởi lẽ trẻ
con háo hức muốn khám phá điều mới lạ thì trẻ mới ham thích đến trường, mới
say sưa tìm tòi để khám phá thế giới xung quanh. Đây là động cơ tốt, ta muốn
chuyên đề hàng năm được tham khảo nhiều tài liệu, sách báo… những thông tin
trên mạng và kiến thức chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp 1 đã giúp cho bản thân
có nhiều kiến thức để viết đề tài.
Lớp lớn tôi phụ trách có đầy đủ các trang thiết bị dạy học như: máy tính,
tivi các loại đồ dùng đồ chơi đầy đủ phục vụ cho chương trình giáo dục mầm
non của Bộ Giáo dục. Phòng học thoáng mát, có đủ ánh sáng cho trẻ hoạt động.
Tỷ lệ huy động trẻ ra lớp là 100%, 100% trẻ ăn bán trú tại trường.
Đa số các cháu có cùng độ tuổi, cháu đi học đều và ngoan, lễ phép, biết
vâng lời cô giáo.
Lớp tôi phụ trách có 25 cháu cùng độ tuổi, hầu như các cháu đã học qua
chương trình lớp mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) nên việc thực hiện lịch sinh hoạt hàng
ngày trẻ đã hiện tốt và đi vào nề nếp.
Nhiều cháu có khả năng lao động tự phục vụ. Qua đó cũng giúp tôi thành
công hơn trong việc chuẩn bị tâm thế cho trẻ trước khi vào tiểu học. Bên cạnh
đó thì tôi cũng được sự tín nhiệm và tin cậy của phụ huynh khi đem con đến lớp
gửi nên điều đó cũng phần nào giúp tôi có động lực trong công tác chăm sóc
giáo dục trẻ và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ lớp tôi khi vào trường tiểu học.
Bên cạnh những thuận lợi, bản thân tôi cũng còn gặp những khó khăn
nhất định, cụ thể.
2.2. Khó khăn
Việc nhận thức vấn đề cho con vào lớp 1 của một số phụ huynh còn lệch
lạc . Một số phụ huynh chưa thực sự hiểu về bậc học mầm non, họ cho rằng
“Trăng đến rằm thì trăng tròn”, trẻ đến 6 tuổi thì nghiễm nhiên đi học lớp 1,
không phải cần chuẩn bị tâm thế cho trẻ cũng như không cần biết khả năng nhận
thức và sức khỏe của trẻ có thể đảm bảo được cho trẻ học tập hay không.
Mặt khác, đa số trẻ phạm vi giao tiếp còn hạn chế trẻ còn rụt rè, bỡ ngỡ,
nhiều cháu chưa mạnh dạn…
Đồ dùng, đồ chơi của lớp mới đủ so với yêu cầu tối thiểu, nhưng còn
thiếu đồ dùng hiện đại.
Căn cứ vào tình hình trên trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài bản thân
6
Tâm thế trẻ tự tin thể hiện rõ mong
muốn của mình.
Trẻ có nề nếp, kỷ luật tốt trong việc
tham gia các hoạt động.
Trẻ có kỹ năng tự phục vụ.
Khả năng tư duy, giải quyết nhanh
nhẹn mọi vấn đề.
Đảm bảo đủ điều kiện về mặt thể chất.
Khả năng phát triển về ngôn ngữ và
nhận thức.
25
11
44 14
56
25
10
40 15
60
25
*Nhận xét: nhìn vào bảng kết quả khảo sát, chất lượng của trẻ còn thấp:
- Đa số trẻ chưa mạnh dạn, tự tin thể hiện rõ mong muốn trước chỗ đông
người.
- Trẻ chưa có nề nếp, kỷ luật khi tham gia các hoạt động tại lớp.
- Kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn hạn chế đa số trẻ còn ỷ lại cô giáo chưa
biết tự phục vụ bản thân.
- Khả năng tư duy, giải quyết mọi vấn đề còn hạn chế.
- Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng còn cao. Khả năng vận động của một số trẻ
còn hạn chế.
- Một số kỹ năng chuẩn bị cho học tập còn hạn chế.
Đứng trước tình hình trên, tôi thiết nghĩ cần phải có kế hoạch để nâng cao
chất lượng chăm sóc, phát triển đầy đủ các mặt giáo dục cho trẻ để trẻ có tâm
thế sẵn sàng bước vào trường tiểu học đạt kết quả tốt nhất.
3. Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trường mầm non sông
Âm chuẩn bị tốt tâm thế để vào trường tiểu học.
3.1. Chuẩn bị tốt về mặt thể chất cho trẻ:
* Tăng cường công tác giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe:
Như chúng ta đã biết: Một điều kiện quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình học tập của học sinh là thể lực. Một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật
chất giúp cho trẻ phát triển năng lực hoạt động trí tuệ ở trường tiểu học. Thể lực
phát triển tốt tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách.
Ngay từ những ngày đầu trẻ lên lớp, được nhà trường kết hợp với trạm y
tế xã cân và khám sức khỏe định kỳ cho trẻ, dựa trên kết quả cân, đo và khám để
biết tình hình bệnh tật của từng trẻ. Trên cơ sở đó tôi phân loại sức khoẻ theo
kênh, và phân loại theo bệnh tật của trẻ. Tôi theo dõi và quan tâm hơn với những
5
trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi và béo phì để đề xuất với ban giám hiệu nhà trường
Tuy nhiên muốn phát triển tốt lĩnh vực thể chất cho trẻ ngoài chú trọng về
mặt dinh dưỡng chúng ta còn phải chú trọng phát triển vận động qua các hoạt
động học tập, vui chơi đúng cách, vừa sức với trẻ.
* Tăng cường giáo dục phát triển vận động cho trẻ:
Vận động giữ vai trò quan trọng trong giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo,
làm cho cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, do đó tăng cường hoạt động các hệ
hô hấp, hệ tuần hoàn, tăng cường trao đổi chất và tăng cường sức khỏe. Trẻ vận
động tốt chứng tỏ trẻ có sức khỏe tốt.
Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm lý
của trẻ. Vì vậy, tôi lựa chọn bài tập, trò chơi vận động có tác dụng chung đến cơ
thể và nhiều cơ bắp tham gia, chọn bài tập, trò chơi gây hứng thú và phải vừa
sức, tăng cường các nhóm cơ bắp còn yếu về mặt sinh lý và giáo dục tư thế
đúng, giáo dục kỹ năng hành động và vận động trong tập thể.
Ví dụ: Các trò chơi vận động như nhảy lò cò, mèo đuổi chuột, dung dăng
dung dẻ, bịt mắt bắt dê… trò chơi thể thao như ném bóng rổ, đá bóng mi ni, tung
bóng qua dây, chạy nhanh 40m, chơi boling… là những hình thức hoạt động hấp
dẫn trẻ em và có tác dụng giáo dục rất cao, giúp trẻ đoàn kết khi chơi, tính đồng
đội, tính kiên trì nhẫn nại, tính kỷ luật cũng được hình thành từ các trò chơi vận
động này, trẻ tham gia chơi hiệu quả là góp phần nâng cao chất lượng lĩnh vực
phát triển thể chất.
Hình ảnh trẻ chơi “mèo đuổi chuột”.
Để đảm bảo sức khỏe cho trẻ giáo viên cần chú ý thực hiện nghiêm túc
chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ.
Chế độ sinh hoạt phải thỏa mãn nhu cầu phát triển phù hợp với độ tuổi.
đảm bảo điều kiện vệ sinh cho trẻ và tạo ra cảm giác an toàn, xuất phát từ nhu
cầu tự nhiên, không gò ép, áp đặt.
Khi thực hiện phải linh hoạt, mềm dẻo dựa trên hoàn cảnh, điều kiện và
hướng dẫn phù hợp. Trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn hoạt bát tự tin trong mọi hoạt
động kỹ năng vận động năng lực phối hợp cảm giác năng lực định hướng trong
vận động tốt và 100% trẻ có thói quen vệ sinh tốt, giữ gìn thân thể gọn gàng,
sạch sẽ.
3.2. Chuẩn bị tốt về mặt ngôn ngữ và khả năng tiền đọc- viết cho trẻ.
Tất cả những nội dung, kiến thức nói đều phải thông qua tiếng mẹ đẻ. Vì
vậy việc chuẩn bị cho trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng
ngày là việc quan trọng nhất để chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Trẻ có ngôn ngữ
mạch lạc phát triển tốt, thì đồng thời các quá trình tâm lý như tư duy, tưởng
tượng, trí nhớ, tri giác,… của trẻ cũng phát triển tốt.
Ngay từ đầu năm học tôi phải xây dựng kế hoạch rèn luyện và phát triển
ngôn ngữ cho trẻ một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt
động như: thông qua trò chuyện, giao tiếp thường ngày, thông qua các hoạt động
học tập nhất là hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học: đọc thơ, đồng
dao, kể lại chuyện… nhằm cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú về thế giới xung
quanh, phát triển ngôn ngữ nói mạch lạc. Tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt một
cách rõ ràng nguyện vọng của mình, uốn nắn kịp thời ngôn ngữ của trẻ.
Ví dụ: Qua câu chuyện “Tấm Cám” cô đặt câu hỏi cho trẻ hiểu được nội
8
dung chuyện: các con thấy cô Tấm là người như thế nào? Mẹ con nhà Cám là
người như thế nào?
- Qua câu chuyện này, con học được ở cô Tấm đức tính gì?
Hình ảnh giờ kể chuyện.
Sau khi trẻ đã nắm được nội dung câu chuyện, cô giáo hướng dẫn và cho
trẻ kể lại nội dung chuyện cô vừa kể, tập cho trẻ kể chuyện sáng tạo qua tranh...
Thông qua đọc thơ, kể chuyện nhằm cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú
về thế giới xung quanh, phát triển ngôn ngữ nói mạch lạc. Thông qua ngôn ngữ,
- Hướng dẫn trẻ viết qua các hoạt động diễn ra trong sinh hoạt hàng ngày
và qua các trò chơi như trò chơi vận động nhằm phát triển các cơ nhỏ của bàn
tay ngón tay cũng như sự phối hợp tay, mắt.
Ví dụ: Giờ tập tô, vẽ tranh, nặn...
- Cho trẻ tự viết: tạo môi trường chữ viết thuận lợi cho trẻ. Các cuốn sách,
tranh cho trẻ đọc, giấy, bút, thiệp, các bản sao chép các nét gần giống với nét
chữ, bảng chữ cái, bảng ký hiệu,... sẽ giúp trẻ học cách tự luyện tập, tự “viết”các
câu chuyện của mình đồng thời khuyến khách trẻ chia sẻ, giới thiệu những “sản
phẩm” mà mình đã tạo ra.
Như vậy, việc cho trẻ làm quen với đọc, viết đã phát triển khả năng tiền
đọc, tiền viết được chuẩn bị đồng thời với việc phát triển khả năng nghe và sử
dụng lời nói của trẻ. Các hoạt động này không nhấn mạnh đến việc phát triển
các kỹ năng riêng lẻ mà đã tập trung vào hình thành ở trẻ tất cả những tiền đề
cần thiết cho việc phát triển khả năng đọc , viết của trẻ vào tiểu học.
3.3. Chuẩn bị tốt về mặt nhận thức cho trẻ
Giáo dục nhận thức có một ý nghĩa quan trọng đối với việc chuẩn bị tâm
thế sẵn sàng đi học cũng như tập cho trẻ làm quen với những sinh hoạt gần gũi
với hoạt động học tập. Vì vậy trẻ cần phải có sự rèn luyện về các thao tác trí tuệ,
có sự hiểu biết vể bản thân, gia đình, môi trường xung quanh, các biểu tượng
định hướng về thời gian, không gian đồng thời có kỹ năng thực hiện hoạt động
trí óc như biết so sánh, phân tích, tổng hợp,….
- Dạy trẻ biết tập trung chú ý trong giờ học: Để giúp trẻ giải quyết nhiệm
vụ học tập tốt, tôi luôn chú ý rèn luyện cho trẻ biết tập trung chú ý vào những
vấn đề cần nhận thức. Trong các hoạt động hàng ngày, tôi luôn tạo điều kiện
giúp trẻ chú ý từ không chủ định sang chú ý có chủ định.
Ví dụ : Khám phá: Quả mít, quả xoài, quả dưa hấu. Tôi chia thành 3
nhóm, mỗi nhóm quan sát một loại quả và yêu cầu trẻ phải quan sát kĩ để nêu
được đặc điểm của từng loại quả...
10
như sáng, trưa, chiều, tối, hôm qua, hôm nay,… nhưng lớp tôi vẫn còn nhiều trẻ
nhầm lẫn, chưa phân biệt được. Vì vậy trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi, học
tập tôi thường xuyên rèn luyện cho trẻ. Vì nếu trẻ không phân biệt được vị trí
11
trong không gian và thời gian thì sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp thu kiến thức ở
các môn học.
Ví dụ: những chữ cái p, q, d, b chỉ khác nhau về vị trí các nét, các chữ cái
trong không gian. Nếu trẻ nào xác định vị trí trong không gian tốt sẽ đọc, viết dễ
dàng mà không bị nhầm lẫn.
Hoặc khi dạy trẻ biết các thời điểm trong ngày: sáng - chiều - tối - đêm.
Ví dụ : Buổi sáng mặt trời mọc, mọi người chuẩn bị đi làm….
Như vậy, qua việc tổ chức các họat động để phát triển nhận thức cho trẻ,
tôi thấy rằng: trẻ được thực hành, được trải nghiệm, tạo cơ hội cho trẻ được học
theo nhóm nhỏ, trẻ biết chia sẻ ý tưởng cùng nhau, tăng cường sự hợp tác giữa
giáo viên và trẻ...; kích thích tính sáng tạo, tính tự lập, tính tích cực nhận thức
của trẻ. Tạo tiền đề vững chắc về trí tuệ cho trẻ khi vào tiểu học.
3.4. Hình thành cho trẻ một số kỹ năng cần thiết tạo cho trẻ mạnh dạn
tự tin và mong muốn được vào học ở trường tiểu học.
Tự tin là khi trẻ mạnh dạn thể hiện các khả năng bản thân trong mối quan
hệ với xã hội, trẻ không ngại khám phá những điều mới mẻ, thú vị trong cuộc
sống. Từ đó tạo tiền đề giúp trẻ tự trau dồi và học tập các kiến thức, kỹ năng một
cách dễ dàng hơn. Tự tin cũng là yếu tố giúp trẻ vượt qua hầu hết những khó
khăn, trở ngại mà bất kỳ ai cũng sẽ phải đối mặt trong cuộc đời.
Để bước vào môi trường học tập và sinh hoạt mới mà ở đó đòi hỏi tính
độc lập, tự giác và chủ động cao, việc hình thành những kỹ năng sinh hoạt tối
thiểu cho trẻ là thực sự cần thiết, giúp trẻ tự giác, tích cực, tự tin tham gia vào
các hoạt động hàng ngày ở trường tiểu học. Những kỹ năng này bao gồm:
- Kỹ năng lao động và kỹ năng tự phục vụ: Các hoạt động lao động ở lứa
ra khỏi hộp đựng, túi, cặp và cất đúng chỗ sau khi sử dụng xong; dạy trẻ biết bảo
quản, giữ gìn đồ dùng học tập sạch sẽ, ngăn nắp.
Ngoài ra, tôi tham mưu với ban giám hiệu tổ chức cho trẻ cho trẻ đến
thăm quan trường tiểu học, làm quen với lớp học, thầy cô, các nội quy, hiểu biết
những hoạt động của trường tiểu học để trẻ làm quen dần với môi trường mới sẽ
làm cho trẻ bớt bỡ ngỡ khi chuyển sang ngôi trường mới. Cho trẻ cùng tham gia
các hoạt động với các anh chị qua các ngày lễ hội.
Ví dụ: Trẻ cùng hát múa với các anh chị tiểu học qua ngày tết trung thu,
ngày 20/11 do xã tổ chức.....
Qua đó, giúp trẻ mẫu giáo gần gũi với các anh chị lớp trên, trở nên mạnh
dạn, lanh lợi, biết thêm nhiều điều mới lạ, hấp dẫn và nảy sinh lòng mong muốn
đi học, mong muốn được trở thành học sinh tiểu học
3.5. Phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc thực hiện mục tiêu giáo
dục trẻ.
Thời điểm bắt đầu vào lớp một là một giai đoạn chuyển biến rất lớn từ
môi trường vui chơi là chủ đạo sang giai đoạn học là chủ đạo. Sự thay đổi này
dễ tác động đến tâm sinh lý, nếu không được gia đình chuẩn bị chu đáo rất dễ
tạo cho các cháu có cảm giác chán nản, lo sợ ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài cho
cả quá trình tiếp nhận kiến thức về sau. Trẻ học tốt trong năm đầu tiên ở trường
tiểu học có ảnh hưởng tích cực cho những năm học sau đó, và sự chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một không chỉ là việc của cô giáo mà còn là của gia đình trẻ.
Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch phối hợp với phụ
huynh để chăm sóc, giáo dục trẻ, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Trao đổi, thống
nhất với gia đình về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức chuẩn bị cho
trẻ vào lớp một. Giải thích cho phụ huynh hiểu tầm quan trọng việc cho trẻ 6
tuổi chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào trường tiểu học. Sự chuẩn bị này cần tập trung
vào các mặt: thể chất, dinh dưỡng, nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc, quan hệ xã
hội, động cơ học tập. Việc chuẩn bị này không phải tập trung vào kỹ năng học
tập (viết, đọc) mà là phát triển các chức năng tâm lý đảm bảo cho việc học.
13
lớp “Những điều cha mẹ cần biết” để phụ huynh hiểu được các kỹ năng học tập,
lao động tự phục vụ bản thân của trẻ qua các chủ đề trong năm học và từ đó giúp
họ hiểu hơn về công tác chuẩn bị để sẵn sàng cho trẻ vào lớp một.
4. Kết quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến
4.1. Đối với bản thân
Qua quá trình thực hiện tôi thấy mình được nâng cao hơn về chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm cũng như phương pháp giảng dạy, đặc biệt là biện pháp
giảng dạy trẻ linh hoạt, sáng tạo, tự tin hơn.
Bản thân cũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc chuẩn bị hành
tranh cho trẻ vào lớp một.
Mặt khác tôi còn nắm bắt và hiểu rõ hơn về tâm sinh lý của trẻ theo lứa
tuổi để từ đó có thể dễ dàng giúp trẻ sớm thích nghi với môi trường học tập mới.
4.2. Đối với phụ huynh
Tạo được niếm tin với phụ huynh khi gửi gắm con mình cho các cô tại
trường.
Yên tâm vì con đã có những hành trang ban đầu để vững bước vào trường
tiểu học.
14
4.3. Đối với trẻ
Trong quá trình tổ chức các hoạt động hàng ngày nhằm tạo tâm thế cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Sông Âm chuẩn bị vào lớp một. Bằng các
biện pháp cụ thế mà tôi đã thực hiện, chất lượng cuối năm học đã có những
chuyển biến rõ nét như sau:
Kết quả trước
Kết quả sau khi áp
Số
khi áp dụng sáng
dụng sáng kiến
2
Trẻ có nề nếp, kỷ luật
100
tốt trong việc tham gia
25 10 40 15 60 25
các hoạt động.
3
Trẻ có kỹ năng tự phục
100
25 11 44 14 56 25
vụ.
4
Khả năng tư duy, giải
100
quyết nhanh nhẹn mọi
25 9
36 16 64 25
vấn đề.
5
Đảm bảo đủ điều kiện
100
25 10 40 15 60 25
về mặt thể chất.
6
Khả năng phát triển về
100
25 10 40 15 60 25
ngôn ngữ và nhận thức.
Ngoài những kết quả nêu trên còn rất nhiều trẻ đến cuối năm học đã mạnh
dạn, nhanh nhẹn và tự tin hơn rất nhiều.
của đội ngũ giáo viên trực tiếp chăm sóc và giáo dục trẻ nói riêng. Từ đó làm
sao để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Cần có ý kiến báo cáo đề xuất kịp thời cho ban giám hiệu trong quá trình
chăm sóc giáo dục trẻ để đảm bảo sao cho trẻ được chăm sóc tốt về thể chất và
phát triển toàn diện cho trẻ. Giúp trẻ tự tin và mong muốn được học ở trường
tiểu học. Phải biết lắng nghe tham khảo học hỏi kinh nghiệm góp ý của ban
giám hiệu cùng đồng nghiệp để chọn lọc ý kiến tiếp thu ý kiến hay.
2. Kiến nghị.
Nhà trường cần tạo điều kiện cho các tổ chuyên môn được sinh hoạt 2
ngày/tháng để giáo viên có thời gian chia sẻ kinh nghiệm trong các công tác
giảng dạy.
Tăng cường trang thiết bị cho các nhóm lớp đảm bảo đúng theo yêu cầu.
Trên đây là :"Một số biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi vào lớp 1 ở trường mầm non Sông Âm” mà tôi rút ra được trong quá trình
giảng dạy. Những gì đạt được còn rất khiêm tốn và mới chỉ là nền tảng cho
những năm tiếp theo. Rất mong sự nhận xét góp ý của Hội đồng khoa học
trường mầm non Sông Âm, Hội đồng khoa học các cấp để bản thân có thêm
kinh nghiệm trong công tác nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Tôi xin chân thành cảm ơn.!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Ngọc Lặc, ngày tháng 04 năm 2019
................................................................ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
............................................................... viết, không sao chép nội dung của người khác.
................................................................
.................................................................
.................................................................
Người viết
Nguyễn Thị Anh