Ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng và chi phí đến
quyết định đầu tư của DNNVV tại Việt Nam
Nguyễn Mạnh Cường, Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Đỗ Hải Hưng, Đại học Công Nghiệp Hà Nội
Tóm tắt
Bài báo nghiên cứu ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng và chi phí đến quyết định đầu tư của
DNNVV tại Việt Nam. Không giống như một số nghiên cứu cho rằng cơ sở hạ tầng chỉ quan
trọng với các doanh nghiệp lơn. Dựa trên bộ dữ liệu từ 231 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt
Nam, kết quản nghiên cứu đã phát hiện thấy rằng với đặc trưng của các DNNVV hiện nay, cả
hai yếu tố cơ sở hạ tầng và chi phí đều có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp,
Và do đó, nếu các địa phương muốn thúc đẩy đầu tư của các DNNVV hiện nay thì việc cải
thiện cả hai yếu tố này là cần thiết..
Từ khóa: Cơ sở hạ tầng, chi phí, môi trường đầu tư, quyết định đầu tư, doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Giới thiệu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là chủ thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ quan trọng trong tất
cả các nền kinh tế. Vấn đề cải thiện môi trường đầu tư trong đó có vấn đề về cơ sở hạ tầng và
chi phí cho các doanh nghiệp ngày càng thu hút các nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuy
nhiện, các nghiên cứu trước đây phần lớn tập trung ở góc độ vĩ mô hay cấp độ quốc gia, chủ
yếu quan tâm đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, ít
nghiên cứu đến các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do đó,
kết quả nghiên cứu không cung cấp nhiều kết quả cụ thể về vai trò của cơ sở hạ tầng và chi
phí trong việc thúc đẩy đầu tư của các DNNVV tại một phạm vi nhỏ hơn, chẳng hạn là tại một
địa phương. Hơn nữa, bằng chứng từ các nghiên cứu tại các quốc gia khác có thể không phản
ánh chính xác trong bối cảnh các DNNVV tại Việt Nam.
Do đó, xuất phát từ cấp độ từng doanh nghiệp để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
của cơ sở hạ tầng đến quyết định đầu tư của DNNVV tại Việt Nam là cần thiết và sẽ góp phần
bù đắp vào các khoảng trống nghiên cứu nói trên.
1. Tổng quan nghiên cứu
1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa và quyết định đầu tư của doanh nghiệp
muốn tận dụng cơ hội, thời cơ kinh doanh để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng và phát triển.
1.2. Ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng và chi phí đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp
Nhìn chung, quá trình ra quyết định đầu tư được thừa nhận là chịu ảnh hưởng tổng hòa
của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài doanh
nghiệp.
Các yếu tố bên trong (Enoma và Mustapha, 2010) hay các yếu tố vi mô và yếu tố
chiến lược (theo cách gọi của Wei và Liu, 2005; Zhang,2002; Chin-Shan Lu và cộng sự,
2006) phản ánh chiến lược, khả năng của doanh nghiệp, chúng thường liên quan tới các mục
tiêu dài hạn và khả năng của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ thị trường, khả năng đa dạng
hóa các hoạt động kinh doanh để đạt được hoặc duy trì một chỗ đứng tại địa điểm đầu tư
cũng như bổ sung một loại hình đầu tư.
Trong khi đó, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (Enoma và Mustapha, 2010), cũng
được gọi là các yếu tố vĩ (theo cách gọi của Wei và Liu, 2005; Zhang,2002; Chin-Shan Lu và
cộng sự, 2006) bao gồm các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, môi trường chính trị và xã hội
và các chính sách, quy định của chính phủ. Cùng với các yếu tố bên trong, nhiều nghiên cứu
thực nghiệm thừa nhận rằng tất cả các doanh nghiệp đang chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố
bên ngoài trong quá trình ra quyết định đầu tư của mình. Cơ sở hạ tầng và chi phí thuộc nhóm
các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Về cơ sở hạ tầng:
2
Theo các nghiên cứu của Seyoum And Lin (2015); Khadarool and Seetanah (2010);
Jose I Galan (2007); David Dollar và cộng sự (2005); Oum and Park (2004); Dunning (1981,
1988,1993) và nhiều nghiên cứu khác, chất lượng và sự sẵn có của cơ sở hạ tầng bao gồm
giao thông vận tải, năng lượng, thông tin, nước, chất lượng và kỹ năng lao động, khả năng
tiếp cận tài chính … có thể có một tác động lớn đến hiệu quả sản xuất, tiềm năng tăng trưởng,
cũng như về khả năng các doanh nghiệp sẽ xác định vị trí đầu tư trong một khu vực. Theo đó,
số môi trường đầu tư cho thấy cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh
nghiệp thông qua các chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), hiệu suất đầu tư, tăng trưởng
việc làm. Chin-Shan Lu và Ching-Chiao Yang (2006), nghiên cứu đã tìm thấy mối hệ tích cực
giữa cơ sở hạ tầng và ý định phát động đầu tư của doanh nghiệp trong khu vực hậu cần quốc
3
tế. Nếu một khu vực tăng cường cơ sở hạ tầng bao gồm cả cơ sở hạ tầng cứng như thông tin
liên lạc và cung cấp năng lượng và cơ sở hạ tầng mềm như các thông tin và kỹ năng lao động,
các nhà đầu tư tiềm năng sẽ sẵn sàng để đầu tư vào khu vực đó. Thêm vào đó là của Jose I
Galan và cộng sự (2007), dựa trên phân tích mẫu với 103 doanh nghiệp đa quốc gia Tây Ban
Nha trong quyết định đầu tư của họ tại các nước Mỹ La Tinh và Liên Minh Châu Âu, kết quả
phân tích cho thấy các nhà quản lý doanh nghiệp đa quốc gia của Tây Ban Nha gán một vai
trò trung tâm đối với yếu tố cơ sở hạ tầng và công nghệ khi họ xác định vị trí đầu tư tại các
quốc gia thuộc khối Châu Âu. Các doanh nghiệp đặc biệt nhấn mạnh vào các yếu tố như sự
sẵn có và chất lượng của cơ sở hạ tầng phát triển tốt, mức độ cao của sự phát triển công nghệ
và tiếp cận với các nhà cung cấp đáng tin cậy.
Trong bối cảnh các nước đang phát triển, vai trò của cơ sở hạ tầng càng trở nên rõ ràng
hơn. Ở đó, tính sẵn có của cơ sở hạ tầng là một đòi hỏi mang tính cấp thiết để tạo dựng môi
trường đầu tư hấp dẫn và hỗ trợ tích cực cho đầu tư tư nhân (Wheeler và Mody, 1992).
Nghiên cứu của Dollar và cộng sự (2005); Hallward-Driemeier và Wallsten (2006) nhấn
mạnh thêm rằng, sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng tại các nước đang phát triển hiện nay là một hạn
chế đáng kể cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của các quốc gia
này.
Như vậy, xét về tổng thể các nghiên cứu cho thấy trong một môi trường đầu tư có cơ
sở hạ tầng có chất lượng, vận hành trơn tru là điều kiện giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí
kinh doanh và do đó nâng cao tỷ lệ lợi nhuận đầu tư cơ sở hạ tầng tốt là một điều kiện cần
thiết cho các nhà đầu tư hoạt động thành công và do đó sẽ thu hút được đầu tư của các doanh
nghiệp. Giống như Wei (2000) đã kết luận "một địa điểm với cơ sở hạ tầng tốt là hấp dẫn hơn
những nơi khác”.
địa điểm dự kiến. Do đó sự chênh lệch mức giá hay chi phí đầu vào giữa các địa điểm, quốc
gia sẽ là vấn đề quan trọng trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Wu và Strange (2000) đã chứng minh tầm quan trọng của việc xem xét chi phí và cho
rằng nó có ảnh hưởng nhất định đến sự lựa chọn của các vị trí của các công ty bảo hiểm nước
ngoài tại Trung Quốc. Oum và Park (2004), Graeme Newell và Ross Seabrook (2006) cũng tái
khẳng định rằng yếu tố chi phí là một yếu tố quan trọng với ra quyết định vị trí đầu tư. Trong
nghiên cứu về các yếu tố tác động tới ý định đầu tư của doanh nghiệp vào khu vực hậu cần
xuyên quốc gia, Chin-Shan Lu, Ching-Chiao Yang (2006) cũng cho thấy có sự tác động của
các yếu tố chi phí tới dự định đầu tư của doanh nghiệp. Phát hiện cũng cho thấy các nhà quản
trị cần phải cung cấp các đầu vào có ưu thế như đất đai và lao động với chi phí thấp và ưu đãi
thuế để thu hút các nhà đầu tư.
Quá trình tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy, tầm quan trọng của các yếu tố chi phí
đối với các quyết định đầu tư có khả năng chịu ảnh hưởng bởi sự tương quan giữa địa điểm
đầu tư dự kiến và với địa điểm xuất phát của doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Jose I Galan
và cộng sự (2007), khi các doanh nghiệp đa quốc gia Tây Ban Nha xem xét chủ yếu đến nhóm
các yếu tố liên quan đến chiến lược tài sản trục lợi khi quyết định để xác định vị trí đầu tư của
họ trong nhóm các nước phát triển hơn Tây Ban Nha (Liên minh châu Âu), nhóm các yếu tố
chi phí không có vai trò quan trọng. Nhưng ngược lại, khi điểm đến dự kiến đầu tư là các
nước kém phát triển hơn, ngoài các yếu tố xã hội và văn hóa thì các yếu tố chi phí đã gây ảnh
hưởng tiêu cực và đáng kể về khi các doanh nghiệp Tây Ban Nha định vị đầu tư của họ ở châu
Mỹ Latinh. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Buckley và cộng sự (2007 và gần đây hơn là
nghiên cứu của Mebratu seyoum và Jihong Lin (2015) nghiên cứu về đầu tư của các doanh
nghiệp Trung quốc ra nước ngoài cho thấy, động cơ tìm kiếm các tài nguyên giá rẻ không có
vai trò quan khi các doanh nghiệp ra quyết định đầu tư, yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất là
lợi thế cụ thể của doanh nghiệp, tiếp theo là khả năng tiếp cận thị trường và ưu đãi của địa
phương. Họ luận giải rằng lý, tại thị trường nội địa Trung Quốc nguồn cung lao động và các
đầu vào khác là rất rồi rào với chi phí thấp, do đó nó không còn là lý do thúc đầy các doanh
nghiệp đầu tư nữa.
2. Mô hình và phương pháp nghiên cứu.
Từ nghiên cứu của Jose.I. Galan và cộng sự (2007); Chin Shan Lu và cộng sự (2006)
- Thang đo các biến:
Hình 1. Thang đo cơ sở hạ tầng và chi phí
2.1 Hệ thống giao thông tại địa phương đầy đủ, thuận lợi
2.2
1. Cơ sở
hạ tầng
Doanh nghiệp được sử dụng nguồn cung cấp điện,
nước ổn định
2.3 Thông tin liên lạc thuận tiện, ổn định
2.4
Nguồn lao động, cán bộ quản lý dồi dào và có chất
lượng
2.5
Quỹ mặt bằng để đầu tư sản xuất kinh doanh tại địa
phương phong phú.
Chin-Shan Lu và
cộng sự (2006);
Jose.I. Galan và
cộng sự (2007).
Sun và cộng sự
(2002); Dollar và
cộng sự (2005);
Mẫu nghiên cứu: Để thực hiện nghiên cứu, có 300 phiếu khảo sát được phát ra, số
phiếu thu về hợp lệ là 231 phiếu, đạt tỷ lệ 77%. Trong đó nếu tính theo quy mô vốn đầu tư tại
thời điểm điều tra, số lượng mẫu tương đối trải đều giữa các mức quy mô vốn, dao động từ 26
đến 38 doanh nghiệp. Cụ thể, nhóm doanh nghiệp có quy mô vốn đến dưới 0,5 tỷ đồng đến
dưới 1 tỷ đồng và từ 1 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng có số mẫu lớn nhất với 38 doanh nghiệp.
Thấp nhất là nhóm doanh nghiệp có quy mô vốn từ 50 đến 100 tỷ đồng với 26 doanh nghiệp
được điều tra.
3. Kết quả và bình luận.
3.1. Kết quả nghiên cứu định tính: Nhìn chung các thang đo được các đối tượng
điều tra hiểu đúng ý nghĩa và có thể trả lời một cách dễ dàng. Vì vậy, các thang đo này sẽ
được giữ nguyên để đưa vào bảng hỏi chi tiết trong nghiên cứu định lượng sau khi có một vài
điều chỉnh nhỏ với thang đo cơ sở hạ tầng. Theo đó biến quan sát số 3 và biến quan sát số 6
được đề nghị gom lại thành biến quan sát phản ánh chung về Trình độ phát triển công nghệ,
hệ thống thông tin tại địa phương.
3.2. Kiểm định giá trị của thang đo chính thức bằng phương pháp phân
tích nhân tố khám phá (EFA):
Trước tiên, kiểm định KMO và Bartlett được thực hiện nhằm kiểm tra điều kiện phân
tích EFA của dữ liệu. Kết quả thu được là, giá trị KMO = 0,782, kiểm định Bartlett cho giá trị
Sig là 0,000. Kết quả này cho thấy các biến có quan hệ với nhau và đủ điều kiện để phân tích
nhân tố khám phá.
Nghiên cứu tiến hành chạy lại EFA, từ 10 biến quan sát đã trích được 2 nhân tố. Tổng
phương sai giải thích được khi nhóm nhân tố được rút ra là 64,994 (>50%). Các giá trị Factor
loading đều đạt giá trị từ 4.32 trở lên, đạt yêu cầu lớn hơn 0.3
3) Kết quả EFA cho Cơ sở hạ tâng gồm 5 tiêu chí đo lường được tải vào một nhân tố,
hệ số tải tương ứng được sắp xếp từ lớn đến nhỏ là: 0,835; 0,799; 0,768; 0,749 và 0,575. Như
vậy các hệ số tải về nhân tố tương ứng đều lớn hơn 0,55 nên có thể kết luận 5 biến quan sát
này có quan hệ ý nghĩa với biến Cơ sở hạ tầng .
.000
Biến phụ thuộc: Quyết đinh đầu tư
*. Tương quan có ý nghĩa ở mức 0.001 (2 phía).
Đối với Cơ sở hạ tầng: Các thông số hồi quy cũng cho thấy, cơ sở hạ tầng có ảnh
hưởng quan trọng và cùng chiều tới quyết định đầu tư với ß = 0.410 (p
[1.] Christian M. Rogerson, 2009. Local Investment Incentives for Urban Economic
Development: Recent Debates in South African Cities. Urban Forum.
[2.] David Dollar, Mary Hallward-Driemeier and Taye Mengistae, 2005. Investment
Climate and Firm Performance in Developing Economies. Economic Development
and Cultural Change.
[3.] Hoa, D.T.T. and Lin, J.Y., 2016. Provincial Governance and Foreign Direct
Investment in Vietnam: An empirical study at sub-nation level. International Journal
of Research in Finance and Marketing.
[4.] Mary Hallward-Driemeier, Scott Wallsten and Lixin Colin Xu, 2006.
Ownership, investment climate and firm performance Evidence from Chinese firms.
Economics of Transition.
9
[5.] Mauro, P., 1995. Corruption and growth. Quarterly Journal of Economics, 110,
pp. 681-712
[6.]
Tae Hoon Oum and Jong-Hun Park, 2004. Multinational firms’ location
preference for regional distribution centers: focus on the Northeast Asian region.
Transportation Research Part E.
[7.] Thuy, N.T. and Mathijs A. van Dijk, 2008. Corruption and growth_Private vs
state-owned firms in Vietnam. Journal of Banking & Finance.
[8.] Tuyen, T,Q., Huong, V.V., Tinh, D.T. and Hiep T.D., 2016. Corruption,
provincial institutions and manufacturing firm productivity: New evidence from a
transitional economy. Estudios de Economía, N.43, Vol.2.
[9.] Viet, P.H., 2013. Effects of changes in provincial governance on the economic
performance of the business sector: an empirical study using Vietnam’s Provincial
Competitiveness Index. Waseda business &economic, 49.