SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 3
***************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA HOẠT
ĐỘNG KHỞI ĐỘNG”.
Người thực hiện : Vũ Thị Thuỳ
Chức vụ: Giáo viên
SKKK thuộc môn :Ngữ Văn
THANH HÓA,NĂM 2018
MỤC LỤC
-------MỤC
I
1
2
3
4
II
1
2
3
4
6
9
16
17
17
18
1
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài :
Từ xưa đến nay, sự phát triển của xã hội, của con người về mọi mặt từ
vật chất đến tinh thần, đều không thể thiếu vai trò của giáo dục. Giáo dục
đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên. Vijaya Lakshmi
Pandit đã nói :
Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cách kiếm sống hay cung cấp công
cụ để đạt được sự giàu có, mà đó phải là con đường dẫn lối tâm hồn con
người vươn đến cái Chân và thực hành cái Thiện.[1]
Giáo dục là môt lĩnh vực vô cùng rộng lớn bao gồm giáo dục nhân cách
làm người, làm cho con người chúng ta nhận thức được cái đúng, cái sai, cái
thiện, cái ác, cái chính, cái tà để từ đó chúng ta sống một cuộc sống thật sự
có ý nghĩa, hợp với đạo lí làm người, góp phần làm cho cuộc sống xã hội
ngày càng tốt đẹp hơn. Môn Ngữ Văn trong nhà trường chính là một trong
những bộ môn quan trong để thực hiện và hoàn thành sứ mệnh đó .Thế
nhưng, một thực trạng đáng lo ngại đó là học sinh hiện nay yêu thích và theo
đuổi môn Văn rất ít. Một phần vì môn Văn là bộ môn duy nhất thi theo hình
thức tự luận buộc học sinh phải đọc nhiều và phải có kĩ năng diễn đạt . Mặt
khác, một số em dù rất thích môn Văn nhưng không phải em nào cũng tiếp
thu dễ dàng. Học sinh có năng khiếu về môn Văn rất hạn chế. Vậy nguyên
Văn cho học sinh THPT thông qua hoạt động Khởi động” .
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tôi khi nghiên cứu vấn đề này là đề xuất một số phương
pháp tạo hứng thú học tập môn Ngữ Văn cho học sinh THPT thông qua hoạt
động Khởi động. Mặt khác , tôi cũng mong thông qua đề tài này sẽ tạo ra
được sự tương tác giữa người dạy và người học một cách tích cực, kích thích
3
trí tò mò, thức dậy niềm đam mê học hỏi từ học sinh , tạo được không khí
sôi nổi cho tiết học ngay từ đầu. Từ đó, định hình kiến thức và thu hút học
sinh tích cực tham gia vào các hoạt động tiếp theo.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về Hoạt động khởi động và một số phương pháp Khởi động để
tạo hứng thú học tập trong giờ dạy-học môn Ngữ Văn ở trường THPT Hậu
Lộc 3- Huyện Hậu Lộc – Thanh Hoá.
4. Phương pháp nghiên cứu :
-Phương pháp đối chứng .
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
-Phương pháp kiểm tra.
II. PHẦN NỘI DUNG.
1.Cơ sở lí luận :
1.1. Luật Giáo dục Điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tích tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù
hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa, đó là “Biểu hiện
của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm,
một trong những tiền đề dẫn đến sáng tạo và tài năng và chúng tôi tin rằng
quá trình dạy học nhất định sẽ đạt được kết quả cao.
“Hứng thú, ham mê học tập là một trong những nguồn gốc chủ yếu nhất
của việc học tập có kết quả cao, là con đường dẫn đến sáng tạo và tài
năng.”[5]
5
Tóm lại, hứng thú là một phương tiện dạy học có hiệu quả. Và
người giữ vai trò quyết định tạo ra hứng thú trong quá trình dạy học không
ai khác chính là người thầy.
“Một ông thầy mà không dạy cho trò được việc ham muốn học tập thì
chỉ là đạp búa trên sắt nguội mà thôi”[6]
1.2.Khái niệm Khởi động
Là hoạt động đầu giờ giúp các em hứng thú bước vào tiết học mới hoặc
thông qua hoạt động khởi động để ôn lại những kiến thức cũ có liên quan
đến nội dung bài học mới.
Khởi động còn gọi là Lời mở đầu, là một phương thức dẫn dắt học sinh
một cách có ý thức , có mục đích đi vào tri thức mới, là khâu mở đường , bắt
đầu của dạy học trên lớp.
Khi có được sự khởi động con người đi sâu vào bản chất của đối
tượng nhận thức mà không dừng lại ở bề ngoài của hiện tượng, nó đòi hỏi
con người phải hoạt động tích cực, chịu khó tìm tòi hoặc sáng tạo.
1.2.1.Vai trò của Khởi động .
Khởi động trong quá trình dạy học của bất kì phân môn nào, đặc biệt môn
Ngữ Văn sẽ thức dậy lòng ham muốn đi tìm chân lí và hứng thú học tập của
học sinh. Xét lâu dài, khởi động còn có vai trò bồi dưỡng tinh thần tự giác
học tập cho học sinh, kích thích trì tò mò và khả năng học hỏi . Dạy học là
một quá trình, nó bắt đầu từ khâu thiết kế , biên soạn và lên lớp. Trong đó
nhiều ý tưởng sáng tạo.Qua hoạt động này để tạo cuốn hút cho học sinh ngay
từ đầu tiết học. Như vậy, người giáo viên sẽ truyền được cảm hứng , định
hướng bài học ngay từ những phút đầu tiên .
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm .
7
2.1. Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, tiến trình hoạt động theo mô hình
trường học mới Việt Nam bao gồm 5 bước. Quy trình này được vận dụng
vào mỗi bài học hoặc một chủ đề , cụ thể gồm các hoạt động :
-Hoạt động khởi động: Hoạt động này giúp học sinh huy động những kiến
thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có lien quan đến bài
học mới .
- Hoạt động hình thành kiến thức mới: Hoạt động này giúp học sinh tìm hiểu
nội dung kiến thức của chủ đề, rèn luyện năng lực cảm nhận, cung cấp cho
học sinh cơ sở khoa học của những kiến thức được đề cập đến trong chủ đề .
- Hoạt động luyện tập: Hoạt động này yêu cầu học sinh phải vận dụng những
kiến thức vừa tiếp thu được ở hoạt động 2 để giải quyết những nhiệm vụ cụ
thể , qua đó giúp giáo viên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và
nắm ở mức độ nào.
- Hoạt động vận dụng: Hoạt động này nhằm tạo cơ hội cho học sinh vận
dụng những kiến thức, kĩ năng,thể nghiệm giá trị đã đượchọc vào trong cuộc
sống thực tiễn ở gia đình, nhà trường và cộng đồng .
-Hoạt động tìm tòi mở rộng: Hoạt động này khuyến khích học sinh tiếp tục
tìm hiểu them để mở rộng kiến thức, nhằm giúp học sinh hiểu rằng ngoài
kiến thức đã học trong nhà trường còn rất nhiều điều cần phải tiếp tục học
hỏi, khám phá .
Trong các hoạt động đó, có thể thấy hoạt động Khởi động là hoạt động đầu
tiên tạo tâm thế và góp phần nâng cao hiệu quả giờ học .
lên được những suy nghĩ trước tập thể và trong những trang viết của mình
.và làm sao trong mỗi tiết giảng luôn để lại cho học sinh những ấn tượng khó
quên, bởi chính học sinh là người đã tìm tòi, khám phá ra những cái hay, cái
đẹp của giá trị tác phẩm văn chương.Và cũng từ sau mỗi tiết học đó, học
9
sinh đặt câu hỏi ngược trở lại cho giáo viên Vì sao?Tại sao? thiết nghĩ đó
tiết học thành công.
3. Phương pháp pháp cụ thể:
Người Việt Nam chúng ta quan niệm “đầu xuôi đuôi lọt”, mốc khởi
đầu làm nền tảng vô cùng quan trọng cho những việc tiếp theo. Tiến trình
lên lớp gồm 5 hoạt động, tôi chọn hoạt động Khởi động để nâng cao hiệu
quả giờ dạy cũng là có nguyên do của vấn đề từ quan niệm đó. Với tư cách
là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn, rút kinh nghiệm từ thực
tế giảng dạy tôi xin đề xuất một số phương pháp tạo hứng thú trong giờ
dạy- học Ngữ Văn THPT thông qua hoạt động Khởi động như sau:
3.1 Thi tìm các câu danh ngôn.
a. Khái niệm
Danh ngôn là chỉ những lời răn dạy và những câu triết lí hàm nghĩa
sâu sắc, có tác dụng răn dạy, được mọi người sử dụng hằng ngày trong cuộc
sống. Có danh ngôn là lời nói, lời răn của danh nhân như: “Học, học nữa,
học mãi” (Lê – nin); “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn
khó chữa” (M. đơ Mông – te – nhơ); “Tình yêu là niềm say mê đem lại hạnh
phúc cho người khác” (F.Sile); “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách
núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học)…Cũng có danh
ngôn là thành ngữ, tục ngữ như “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Chuột sa chĩnh
gạo”, “Ăn cây nào rào cây ấy”, “Đũa mốc đòi chòi mâm son”, “Ở hiền gặp
lành”, “Uống nước nhớ nguồn”,….
tượng của học sinh , bồi dưỡng lối sống cao đẹp, nhân hậu – và như thế
người dạy vừa truyền đạt được kiến thức, vừa rèn luyện khả năng tiếp thu ở
các em.
11
3.2 Kết hợp thực tế
a. Khái niệm
Kết hợp thực tế có nghĩa là kết hợp giữa thực tế học tập – cuộc sống –
xã hội. Kết hợp thực tế sẽ giúp cho hoạt động dạy học thân thiết hơn, gần gũi
và khoáng đạt hơn. Dùng phương pháp này chỉ là cái “cớ” để dẫn vào bài
học, vừa làm phong phú nội dung dạy học, vừa phát huy tính tích cực ở học
sinh và tính chỉ dẫn của người dạy.
b. Ví dụ
Ví dụ 1:
Tiết 36.Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt [trang 113, Ngữ Văn 10 - tập 1]
- GV: (có thể lấy dẫn chứng từ thực tế để hỏi học sinh). Quá trình giao tiếp
giữa bạn bè trong giờ ra chơi, hoạt động dạy học trong nhà trường, hoạt
động mua bán ngoài chợ,… theo các em thuộc ngôn ngữ gì?
- HS: Ngôn ngữ sinh hoạt ạ!
- GV: Đúng rồi. Những quá trình giao tiếp đó thuộc ngôn ngữ sinh hoạt. Vậy
ngôn ngữ sinh hoạt có những đặc điểm gì? Chúng ta cùng nhau đi vào tìm
hiểu nội dung bài học.
Ví dụ 2
Tiết 36. Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt [trang 31, Ngữ Văn 12 - tập
1]
- GV: (lấy 1 hoặc vài bài viết của học sinh để làm mẫu + áp dụng trong tiết
trả bài kiểm tra). Yêu cầu học sinh khác phát hiện và sửa lỗi chính tả cho
đúng.
Sử dụng máy chiếu là một loại dạy học trực quan so với sử sụng tranh
ảnh minh họa, băng ghi hình,… Dù hình thức có khác nhau nhưng đều đem
lại hiệu quả tích cực trong dạy học. Sử dụng máy chiếu có phạm vi tương
13
đối rộng. Tiêu đề, các mục đề, tóm tắt nội dung, từ vựng, hình tượng trong
bài, hiệu ứng,… đều có thể chiếu. Sử dụng máy chiếu so với việc dạy học
truyền thống sẽ tiết kiệm thời gian, sức lực và học tập có phần hiệu quả
nhanh gọn, khoa học hơn.
b. Ví dụ .
Ví dụ 1:Tiết 26.Đất Nước - Chương V –Trường ca “Mặt đường khát
vọng”–Nguyễn Khoa Điềm [ Trang 117, Ngữ Văn 12, Tập 1].
- GV:
+Sử dụng 6 bức ảnh chiếu được đánh số theo thứ tự : 1. Hòn Vọng Phu,
2.Hòn Trống Mái, 3.Đền Hùng ,4.Sông Cửu Long, 5.Núi con Cóc, 6.Núi
con Gà.
+ Công bố thể thức thi giữa các tổ : Sau mỗi hình là một bức tranh , lớp chia
thành 3 tổ, mỗi tổ cử đại diện chọn số thứ tự bức tranh , hình ảnh hiện ra và
tổ đó gọi đúng tên .Nếu tổ đó sai nhường quyền cho tổ còn lại .
+ Thư kí công bố kết quả , cả lớp tuyên dương bằng tràng pháo tay hoặc
giáo viên có thể lấy thưởng điểm cho tổ xuất sắc đó vào điểm miệng.
- HS các tổ lần lượt gọi tên hình ảnh,nêu được mối liên hệ giữa các bức hình
đều là những thắng cảnh đẹp điểm tô của đất nước.
- Gv : Những cuộc đời đã hoá núi sông ta để tạo nên danh thắng nổi
tiếng.Vậy ai tạo ra ? Đó chính Nhân dân và cũng chính là thông điệp tác giả
Nguyễn Khoa Điềm gửi gắm qua chương V này.
Ví dụ 2:
Tiết 33. Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân [trang 107, Ngữ Văn 11-tập 1]
Ví dụ 1:
Chủ đề Ca dao :Tiết 27. [ Ngữ Văn 10 - tập 1]
- GV: Phát phiếu điều tra thông tin theo mẫu :
15
Họ và tên .................................................Lớp
Điều em đã biết
Điều em muốn biết
Điều em đã biết sau khi học
xong bài
- HS điền vào cột 1,2 sau đó GV thu lại, cuối buổi học phát tiếp để các em
hoàn thành cột 3.
- GV: Các em trình bày đều có ý. Mang theo những vấn đề đó, sau đây
chúng ta cùng tìm hiểu nội dung bài học để trả lời cho câu hỏi nhé.
Ví dụ 2:
Tiết 49.Đọc văn : Chí Phèo – Nam Cao [trang 137, Ngữ Văn 11 - tập 1]
Áp dụng như bảng biểu trên.
3.5.Trò chơi ô chữ văn học
a. Khái niệm
Trò chơi ô chữ là hình thức người chơi tổ chức đưa ra những ô vuông
để trống , yêu cầu người chơi phải điền cho đúng những chữ mà người tổ
chức đã gợi ý cho mỗi ô chữ bằng một chìa khoá .căn cứ vào chìa khoá và
năng lực của bản thân người chơi có thể hoàn thành ô chữ
b. Ví dụ
Ví dụ : Tiết 79. TRUYỆN KIỀU-NGUYỄN DU [trang 92, Ngữ Văn 10
- Kiểm tra được nội dung kiến thức xâu chuỗi giữa bài cũ và bài mới một
cách linh hoạt, số lượt học sinh tham gia 100% chứ không phải chỉ vài ba em
hoạt động để kiểm tra bài cũ .
- Tạo sự tương tác tốt giữa người dạy và người học theo mối quan hệ hai
chiều, giáo viên dễ dàng định hướng và điều khiển các hoạt động một cách
nhẹ nhàng.
17
-Kích thích trí tò mò, ham học hỏi, tư duy lô gíc ở học sinh, giáo viên không
phải thuyết trình từ đầu đến cuối mà trở thành người định hướng, truyền cảm
hứng .
Như vậy so với thời điểm mà tôi chưa áp dụng phương pháp khởi động
trong giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy rằng: Nếu như trước đây các
em học sinh lo lắng khâu kiểm tra bài cũ, sợ áp lực điểm số và tâm lí thấy
tiết học dài hơn thì nay, khi áp dụng phương pháp đổi mới hoạt động Khởi
động các em háo hức đón chờ tiết học. Đó là kết quả mà tôi không thể mong
đợi hơn. Vẻ rất lo ngại mỗi khi đến tiết Ngữ văn thì bây giờ các em rất hồ
hởi và phấn khởi. Bởi lẽ, từ sự thích thú, yêu mến môn học này đã giúp các
em chăm chỉ học tập và kết quả học tập ngày càng tốt hơn. Cụ thể như trong
năm học 2016-2017, kết quả xếp loại học lực môn Ngữ văn vào cuối năm
của học sinh 04 lớp tôi dạy tại Trường THPT Hậu Lộc 3
Hai lớp không áp dụng phương pháp Khởi động :
Tổng số
76
Giỏi
02
So sánh với kết quả của hai nhóm lớp , tôi nhận thấy rằng việc học tập
của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt. Nhiều em trước đây học còn trung bình
hoặc yếu thì nay có sự tiến bộ rất nhiều. Kết quả này đã được nhà trường,
đồng nghiệp cũng như các bậc phụ huynh học sinh ghi nhận và tỏ ra rất hài
lòng.
III.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1.Kết luận .
18
” Mở đầu là một nghệ thuật vĩ đại”[7]. Học văn trước hết là để hiểu
văn: biết cảm thụ, phân tích văn. Sau đó là hiểu đời, rút ra được bài học sâu
xa về cuộc sống để có cách sống đẹp. Vì vậy dưới sự dẫn dắt của giáo viên,
các em phải tham gia phân tích tác phẩm một cách chủ động, tích cực, tự
giác với niềm hăng say thật sự qua hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra hoặc có
thể tự mình nêu vấn đề và trình bày ý kiến cảm nhận vào một chi tiết, một
hình ảnh, một câu thơ, một phần tác phẩm hay toàn bộ tác phẩm. Các ý kiến
đó có thể đánh giá cái hay cái đẹp và cả những hạn chế nữa.
Khi xác định được trọng tâm dạy – học như vậy, kết hợp với việc áp
dụng các phương pháp Khởi động như trên. Bước đầu, cả người dạy và
người học khi bắt đầu một tiết học Ngữ văn đã phá bỏ được sự nhàm chán,
uể oải khi tiếp cận văn bản. Giáo viên đã truyền được niềm đam mê và hứng
thú học tập cho các em. Bên cạnh đó chính người dạy đã nhận được những
phản hồi tích cực từ phía học sinh, kêt thúc mỗi tiết dạy bao giờ cũng là
những câu hỏi ngoài lề, liên hệ thực tế. Vậy nên, quá trình dạy học trên lớp
chỉ gói gọn trong vòng 45 phút, khiến cả người dạy – người học cảm thấy rất
ngắn, tiết học trôi qua rất nhanh, trọng tâm kiến thức được truyền đạt, đồng
thời hình thành kĩ năng sống, giao tiếp và học tập cho học sinh. Đây chính là
gây hứng thú cho học viên đối với bộ môn Ngữ văn.
* Đối với giáo viên Ngữ văn:
- Ngoài việc nắm vững chuyên môn còn phải rèn luyện, nghiên cứu
thêm về nghệ thuật sư phạm, tìm tòi các biện pháp gây hứng thú học tập, tạo
một không khí học tập vui vẻ, thoải mái giúp học viên ngày càng yêu thích
bộ môn Ngữ văn.
20
- Bên cạnh đó, phải thường xuyên học hỏi kinh nghiệm của đồng
nghiệp, phát huy thế mạnh của công nghệ thông tin vào dạy học bằng cách
tìm các thông tin mới, hấp dẫn trên mạng internet, đưa vào giáo án điện tử
làm cho các tiết học sinh động, lượng thông tin học viên thu được nhiều và
chính xác hơn so với phương pháp dạy học truyền thống.
Trong quá trình xây dựng đề tài, ắt hẳn không tránh khỏi những thiếu
sót nhưng hi vọng đề tài này sẽ góp phần làm thay đổi không khí lớp học,
làm cho học sinh ngày càng yêu mến và hứng thú học tập môn Ngữ văn hơn.
Người viết rất mong nhận được sự đóng góp của quý đồng nghiệp để đề tài
sáng kiến kinh nghiệm này đầy đủ hơn và có thể áp dụng có hiệu quả trong
quá trình dạy và học môn Ngữ văn.
Xác nhận cuả thủ trưởng
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 05 năm 2018.
đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của tôi viết , không sao chép nội
dung của người khác .
[6]Horaceman(1796-1859),Nhà hoạt động cải cách giáo dục người Mĩ.
[8]Longfellow(1807-1882 ),Nhà thơ chân quê nước Mĩ.
PHỤ LỤC
1. PHỤ LỤC GIẢI PHÁP 3.3 : SỬ DỤNG MÁY CHIẾU NHÌN HÌNH -GỌI TÊN
Tiết 26: Đất Nước- Chương V Trường ca “Mặt đường khát vọng”
23
HÌNH 1: HÒN VỌNG PHU
HÌNH 2: HÒN TRỐNG MÁI
HÌNH 3: ĐỀN HÙNG