Xây dựng tình huống có vấn đề thông qua thí nghiệm để tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học sinh ở một số bài - Pdf 57

MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU ..……………………………………….................Trang 2
1.1. Lí do chọn đề tài ............................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................3
1.3. Đối tượng nghiên cứu....................................................................3
1.4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................3
2. NỘI DUNG .....................................................................................4
2.1. Cơ sở lí luận...................................................................................4
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm........6
2.3.Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề..............................7
2.4. Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm...............................................13
3. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ.............................................................15
3.1. Kết luận .........................................................................................15
3.2. Kiến nghị........................................................................................16
PHỤ LỤC.............................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................19

1


1. MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với chương trình vật lí học ở phổ thông, là một môn khoa học thực
nghiệm, mọi kết luận và thành quả của nó đều được rút ra từ việc kiểm chứng
bằng quan sát, thí nghiệm đo lường. Vì vậy, thí nghiệm có vị trí và vai trò quan
trọng trong giảng dạy vật lí. Đó là phương pháp giúp học sinh xây dựng niềm tin
vào lí thuyết, nắm được bản chất và khắc sâu được kiến thức, từ đó giúp các em
có thêm hứng thú, đam mê đối với môn học, khi mà có thể vận dụng lí thuyết
giải thích các hiện tượng, vận dụng sáng tạo linh hoạt trong khoa học thực
nghiệm.
Bởi vậy dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng cần phải tăng cường

học sinh từ đó các em có nhu cầu tìm hiểu kiến thức để giải quyết hiện tượng
xảy ra trong thí nghiệm, qua đó chiếm lĩnh được kiến thức sâu sắc, lâu dài. Ở
2


khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy và
học vật lí trong nhà trường phổ thông và hi vọng cũng là một gợi ý cho quý
đồng nghiệp tham khảo trong quá trình giảng dạy bộ môn Vật lí của mình, tôi
xin mạn phép trình bày sáng kiến kinh nghiệm “Xây dựng tình huống có vấn
đề thông qua thí nghiệm để tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học
sinh ở một số bài trong chương trình vật lí THPT” làm đề tài cho nghiên cứu
của mình.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích chủ yếu của đề tài “Xây dựng tình huống có vấn đề thông
qua thí nghiệm để tạo hứng thú và phát triển năng lực cho học sinh ở một
số bài trong chương trình vật lí THPT” là nhằm giúp học sinh hứng thú với
vấn đề của bài học từ đó mong muốn tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức thông qua các
thí nghiệm đặt vấn đề của bài học. Các thí nghiệm khởi động phù hợp sẽ lôi
cuốn học sinh vào vấn đề của bài học, qua đó phát huy tính tích cực học tập của
học sinh, rèn luyện những kĩ năng cần thiết đặc biệt là kỹ năng thực hành, phát
triển năng lực tư duy của học sinh, nâng cao chất lượng học tập bộ môn vật lí
theo chuẩn kiến thức, kỹ năng. Nhờ vậy, học sinh có thể hiểu bài sâu hơn, rộng
hơn, có hứng thú và năng lực cho việc chiếm lĩnh tri thức suốt đời.
Bên cạnh đó, đề tài này nếu được vận dụng thường xuyên và mở rộng cho
nhiều bài thì còn rèn luyện kỹ năng ứng dụng thực hành, tư duy công nghệ vào
thực tiễn cho học sinh, hình thành cho học sinh thói quen muốn giải thích hiện
tượng, cao hơn là tự đề xuất được các thí nghiệm kiểm chứng, giúp các em có
niềm say mê và yêu thích môn học.
Đề tài nghiên cứu không chỉ dừng ở những thí nghiệm, hiện tượng khởi
động cho bài học mà đó còn là gợi ý cho các phần các khâu khác trong quá trình

giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng
sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”[2].
Nghị quyết cũng chỉ rõ nhiệm vu và giải pháp thực hiện trong đó “Phải
tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo
theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Đổi mới
chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí,
thể, mỹ, dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng
tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề, tăng
thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”[2].
Trong Nghị Quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục
phổ thông cũng có nêu rõ “Chương trình môn Vật lí mới ở phổ thông sẽ coi
trọng đánh giá khả năng đề xuất các phương án thí nghiệm và các kỹ năng
thực hành. Trong đó, thiết kế chương trình chú trọng vào bản chất, ý nghĩa vật
lí của các đối tượng, đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về toán
học, tạo điều kiện để giáo viên giúp học sinh phát triển tư duy khoa học dưới
góc độ vật lí, khơi gợi sự ham thích ở học sinh, tăng cường khả năng vận dụng
tri thức vào thực tiễn. Các chủ đề được thiết kế, sắp xếp từ trực quan đến trừu
tượng, từ đơn giản đến phức tạp, từ hệ được xem như một hạt đến nhiều hạt,
bước đầu tiếp cận với một số nội dung hiện đại mang tính thiết thực, cốt lõi.
Chú ý thích đáng đến việc phát triển năng lực thông qua thực hành”[6].
Bên cạnh việc sử dụng các mô hình vật lí và toán học, chương trình chú trọng
thích đáng đến việc hình thành năng lực tìm tòi khám phá các thuộc tính của đối
tượng vật lí thông qua các nội dung thí nghiệm, thực hành dưới các góc độ khác
nhau. Chương trình coi trọng việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng tri
thức vật lí vào việc tìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của
thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống, vừa bảo đảm phát triển năng lực trên
nền tảng những năng lực chung và năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên đã hình
thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, vừa đáp ứng yêu cầu định hướng vào một số

sách giáo khoa mới. Với dung lượng kiến thức và yêu cầu của kiến thức mới bắt
buộc giáo viên phải có một phương pháp dạy học phù hợp thì lượng kiến thức
truyền đạt đến học sinh mới có chất lượng cao. Hướng đổi mới hiện nay là giảm
lí thuyết hàn lâm tăng thời lượng thực hành. Vì vậy phương pháp dạy học bằng
thực nghiệm là hết sức hợp lí.
Tôi nhận thấy dù theo phương pháp dạy học cũ hay mới thì khâu đặt vấn
đề hay khởi động của bài học là hết sức quan trọng. Đó là bước quyết định
không nhỏ cho chất lượng của tiết học, vì vậy người giáo viên khi xây dựng giáo
án cần phải đầu tư tìm tòi để có cách khởi động hay nhất. Và đối với bản thân tôi
sau thời gian áp dụng phương pháp thực nghiệm vào khâu khởi động của bài học
các tiết học sôi nổi, học sinh hứng thú, chất lượng chuyên môn của giờ dạy được
nâng cao, học sinh chủ động và tích cực hơn rất nhiều trong các giờ học Vật lí.
Theo tôi trong đổi mới phương pháp dạy học vật lí THPT phải hướng tới
việc tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua phương pháp
dạy học bộ môn, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm. Vì vậy, trong đề tài này
tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm cụ thể về việc “Xây dựng tình
huống có vấn đề thông qua thí nghiệm để tạo hứng thú và phát triển năng
lực cho học sinh ở một số bài trong chương trình vật lí THPT” để làm đề tài
cho nghiên cứu của mình, sau đó phát triển thêm. Với ý tưởng này tôi hi vọng

5


sẽ từng bước góp phần đổi mới được phương pháp giảng dạy một cách có hiệu
quả làm cho chất lượng giáo dục ngày càng cao hơn.
2.2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM
Trường THPT Đặng Thai Mai được thành thành lập ngày 20/08/2001,
theo quyết định số 2109/QĐ-UB của Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hoá. Trường
đóng trên địa bàn thuộc xã Quảng Bình - Huyện Quảng Xương - Tỉnh Thanh

thí nghiệm trên máy chiếu) với thí nghiệm biểu diễn vào các khâu của giờ học
thì chất lượng giờ dạy được nâng cao.
Qua tìm hiểu tình hình giảng dạy của nhiều giáo viên về vấn đề sử dụng
thí nghiệm trong dạy học, tôi thấy gần như ít được áp dụng vào khâu đặt vấn đề,
khởi động để khai thác kiến thức mới. Vì vậy hiệu quả giờ dạy còn chưa cao,

6


chưa thực sự tạo được niềm say mê tìm hiểu tự nhiên của học sinh và thể hiện
được đặc thù của môn học.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên nên đã không ít gây ảnh hưởng đến
chất lượng giảng dạy nói chung và môn vật lí nói riêng. Kết quả kiểm tra khảo
sát cơ bản môn vật lí của học sinh nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được yêu
cầu. Học sinh nắm kiến thức còn mơ hồ, kỹ năng trình bày các thí nghiệm còn
yếu. Nguyên nhân chính là do phương pháp dạy học cũ chưa tạo được cho học
sinh tính tự giác, chủ động chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động thực
hành, thí nghiệm, thậm chí học sinh không được tự mình làm các thí nghiệm để
phát hiện tri thức. Vì vậy cần phải sử dụng phương pháp dạy học bằng thực
nghiệm đặc biệt ở khâu đặt vấn đề của bài học nhằm thu hút, kích thích tính tò
mò, hứng thú của học sinh, từ đó các em chủ động tìm hiểu và chiếm lĩnh kiến
thức một cách sâu sắc và lâu dài. Qua đó học sinh có niềm yêu thích môn học,
chủ động tư duy, giải quyết vấn đề bài học, các em sẽ nắm kiến thức một cách
chắc chắn và có kỹ năng thực hành thí nghiệm, từ đó đưa chất lượng giảng dạy
bộ môn được nâng cao.
2.3. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn vật lí, trong các năm
học và đặc biệt trong năm 2016 - 2017 tôi đã thực hiện nghiên cứu dạy học bằng
phương pháp đưa thí nghiệm, hiện tượng vật lí thực tiễn vào khâu đặt vấn đề,
khởi động của bài học nhằm tạo tình huống có vấn đề ở một số bài học trong

nghiệm để kiểm tra điều dự đoán. Giáo viên tổ chức phát dụng cụ cho các nhóm
tiến hành làm thí nghiệm, quan sát và ghi nhận kết quả, các nhóm công bố kết
quả. Lưu ý: Trong hoạt động này rèn luyện cho học sinh thái độ làm việc nghiêm
túc, khoa học tránh được những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình làm thí
nghiệm. Mặt khác bồi dưỡng năng lực ứng xử, giáo viên tổ chức cho học sinh
thảo luận nhóm, thảo luận giữa các nhóm với nhau và thống nhất kết quả cuối
cùng. Trong hoạt động này cần lưu ý cho học sinh bằng những định hướng của
các phương án thí nghiệm trên các em thực tế bắt tay vào sờ mó và điều khiển,
tiến hành thí nghiệm, thu thập thông tin. Việc ghi chép các thông tin thu được,
thành lập biểu bảng một cách trung thực. Trong khi hình thành kiến thức cần chú
trọng nhiều đến phương pháp suy luận quy nạp. Cần chú trọng việc phát triển
ngôn ngữ cho học sinh, rèn luyện cho các em kĩ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác
ngôn ngữ vật lí thông qua việc thảo luận nhóm, tạo điều kiện cho các em được
nói nhiều hơn ở nhóm, ở lớp.
- Thứ tư: Thảo luận để mọi người chấp nhận kết quả. Giáo viên tổ chức
cho học sinh thảo luận theo nhóm. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh thảo luận
rút ra kết quả.
- Thứ năm: Ứng dụng kiến thức mới. Từ kết quả rút ra, giáo viên hướng
cho học sinh giải thích một số hiện tượng trong thực tế. Trên cơ sở đó có thể
hướng dẫn học sinh chế tạo thiết bị khoa học được đưa vào bài tập ở nhà nhằm
khuyến khích học sinh khá giỏi làm việc hoặc giao nhiệm vụ cho các nhóm làm
ở nhà. Phải làm cho học sinh có hứng thú và yêu thích bộ môn vật lí. Phải xây
dựng đội ngũ cán sự bộ môn của lớp mình giảng dạy. Để làm được điều đó giáo
viên cần chọn những học sinh từ khá giỏi trở lên, có năng lực quản lí nhóm, có
kỷ luật, nhiệt tình. Cán sự bộ môn phải được giáo viên tập huấn về cách thức
thực hiện các thí nghiệm của tất cả các bài ở trong chương. Sau đó đội ngũ cán
sự bộ môn sẽ được phân công chỉ đạo từng nhóm cụ thể. Ngoài ra, trong từng
tiết học phải cho học sinh tiếp xúc đầy đủ với các dụng cụ thí nghiệm. Trong khi
tiến hành thí nghiệm trên lớp cố gắng tạo điều kiện cho nhiều học sinh trong
nhóm được trực tiếp tiến hành thí nghiệm. Khi đó học sinh sẽ tự mình làm chủ

Gv: Yêu cầu hs rút kết luận.
Tiếp tục cho nội dung hình thành khái niệm rơi tự do Gv làm thí nghiệm với
viên bi, lông vũ rơi trong bình chân không, quan sát Hs rút ra khái niệm.

[22]
Đối với phần đặc điểm rơi tự do Gv tiếp tục phát triển bài học yêu cầu HS xây
dựng phương án đo đạc kiểm chứng.
+ Ví dụ 2: Bài “Các dạng cân bằng. Cân bằng của vật có mặt chân
đế”.
- Dụng cụ thí nghiệm: chiếc thước, cái hộp.
- Tiến hành: Gv đặt vấn đề theo các em có những dạng cân bằng nào? Gv làm thí
nghiệm cân bằng với chiếc thước mỏng, yêu cầu Hs nhận xét vị trí cân bằng của
chiếc thước trong các trường hợp khác nhau. Hs rút kết luận.
Gv: cho Hs quan sát cân bằng của chiếc hộp, của cái bàn, của người trên mặt
đất, hình thành khái niệm mặt chân đế và điều kiện cân bằng của mặt chân đế.

9


[22]
+ Ví dụ 3: Bài “Các hiện tượng bề mặt chất lỏng”.
- Dụng cụ thí nghiệm: dung dịch xà phòng, nước, khung nhôm ở chính giữa có
sợi chỉ mảnh nhẹ có thể di chuyển, lưỡi lam, đèn dầu sử dụng bấc, các ống hút
có kích thước khác nhau làm từ nhựa và thủy tinh.
- Tiến hành: Gv sưu tầm hình ảnh hiện tượng bề mặt trong tự nhiên chiếu cho
Hs quan sát, tìm tòi, sau đó Gv giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm đã chuẩn bị.
Phần lực căng, Gv tiến hành thí nghiệm như hình

Hiện tượng dính ướt, không dính ướt.


- Tiến hành: Gv khởi động với thí nghiệm “ tái hiện đồng xu” như hình sau

Tiếp tục cho Hs quan sát

[22]
11


Cuối cùng tiến hành thí nghiệm SGK để rút định luật khúc xạ ánh sáng

+ Ví dụ 4: Bài “Phản xạ toàn phần”.
- Dụng cụ thí nghiệm: bình nhựa trong suốt đựng nước nguyên chất trên thân có
1 lỗ nhỏ ở sát gần đáy, một đèn chiếu Laze. Tiến hành thí nghiệm uốn cong tia
sáng theo dòng nước.
- Tiến hành: Gv hỏi theo các em ta có thể uốn cong được tia sáng? Sau đó tiến
hành thí nghiệm như sau

[22]
*Vật lí 12:
+ Ví dụ 1: Bài “Dao động cưỡng bức. Dao động tắt dần”.
- Dụng cụ thí nghiệm: con lắc đơn, đồng hồ lên dây cót (nếu có), một số đồ chơi
sử dụng dây cót.
- Tiến hành: Gv tiến hành các thí nghiệm về dao động cưỡng bức và dao động
duy trì với các dụng cụ trên kết hợp cho Hs quan sát một số hình ảnh trong đời
sống hàng ngày. Yêu cầu Hs tìm ra sự khác nhau của hai loại dao động.
+ Ví dụ 2: Bài “Giao thoa sóng”.
- Dụng cụ thí nghiệm: ngoài bộ giao thoa sóng nước, ở đây giáo viên có thể làm
video thí nghiệm giao thoa sóng trên mặt ao bằng hai quả cam sau đó trình chiếu
cho học sinh quan sát.
- Tiến hành: Cho Hs xem video tạo giao thoa trên mặt ao như hình sau

chất lượng học tập bộ môn vật lí toàn trường và kết quả kiểm tra vật lí được
nâng lên một bước.
Ở đây tôi đơn cử kết quả thu được khi tiến hành thực hiện giảng dạy bài “
phản xạ toàn phần” trong chương trình vật lí 11 trên hai nhóm lớp: nhóm đối
chứng 11A5 và nhóm thực nghiệm 11A7. Sau đó, tiến hành cho hai nhóm làm
bài kiểm tra trắc nghiệm 15 phút (nội dung đề kiểm tra xem phụ lục) tôi thu
được kết quả sau :
Kết quả thực nghiệm sư phạm (TNSP), xử lí số liệu và đánh giá kết quả
thực nghiệm tiết giảng dạy có đưa thí nghiệm khởi động bài học.
* Thống kê điểm số của bài kiểm tra 15 phút trên hai lớp

13


T
T

1

Lớp

Sĩ số

Giỏi

Khá

TB

Yếu

11A5
42
nhóm
đối
chứng
11A7
2
41
25 60,98 10 24,39% 6 14,63% 0
0
nhóm
%
thực
nghiệm
Kết quả thực nghiệm sư phạm đã chứng tỏ khi sử dụng phương pháp thực
nghiệm đưa thí nghiệm biểu diễn vào đặt vấn đề khởi động bài học trong dạy
học thì chất luợng dạy và học được nâng cao:
- Khơi gợi hứng thú, ham muốn tìm hiểu chiếm lĩnh kiến thức ở học sinh,
phát huy được tính cực của học sinh khi học môn Vật lí. Học sinh hào hứng, yêu
thích giờ học vật lí hơn rất nhiều, kĩ năng thực hành và vận dụng thực tiễn của
các em được nâng lên rõ rệt.
- Tiết học sôi nổi với sự tham gia tương tác tích cực từ phía học sinh, yêu
cầu về chuyên môn của tiết học đạt hiệu quả cao.
- Điểm trung bình bài kiểm tra khảo sát của lớp thực nghiệm cao hơn
điểm trung bình của học sinh lớp đối chứng.
- Sự phân bố điểm xung quanh điểm trung bình của học sinh lớp thực
nghiệm đồng đều hơn học sinh lớp đối chứng.
2.4.2. Kết quả định tính
Qua kết quả trên và thực tế giảng dạy của tôi ở rất nhiều chuyên đề và bài
học ở nhiều lớp học tôi nhận thấy rằng việc sử dụng phương pháp dạy học bằng

cho học sinh thói quen chủ động trong việc tư duy tìm hiểu kiến thức, tìm cách
tự giải thích các hiện tượng vật lí, từ đó chiếm lĩnh kiến thức một cách tự
nhiên, chủ động và lâu dài không chỉ dừng lại ở bộ môn vật lí mà còn ở các bộ
môn thực nghiệm khác như Hóa học, Sinh học,...
Việc đầu tư, chuẩn bị cho bài dạy của giáo viên càng cao thì hiệu quả tiết
dạy mang lại càng lớn. Tôi thiết nghĩ đây là một cách, một phương pháp dạy
hiệu quả với bộ môn vật lí. Trong khuôn khổ đề tài tôi mới chỉ đưa ra một số
thí nghiệm ở một số bài học trong chương trình, đó là gợi ý để có thể thiết kế
cho rất nhiều các bài học khác nữa, bởi đa phần kiến thức vật lí phổ thông là
kiếm thức thực nghiệm. Chính vì thế, thiết kế dạy tiết bài tập đòi hỏi rất nhiều
phẩm chất chuyên môn, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, sự yêu nghề tận tụy
với công việc của người giáo viên.
Trong quá trình thực hiện đề tài và vận dụng trong giảng dạy, tôi nhận
thấy ngoài việc đưa thí nghiệm vào khâu khởi động, giáo viên còn có thể đặt vấn
đề mở rộng hoặc vấn đề cho kiến thức bài tiếp theo bằng cách yêu cầu học sinh
về nhà tự tìm hiểu, tự xây dựng ý tưởng và thực hiện thí nghiệm để trình bày
trước cả lớp ở buổi học tiếp theo. Việc này có thể các em làm việc cá nhân cũng
có thể làm việc theo nhóm tùy vào qui mô của vấn đề giáo viên giao. Đến tiết
học bài mới, giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh trình bày từ đó kích thích khả
năng độc lập, sáng tạo và khả năng hoạt động nhóm, trình bày vấn đề của mỗi
học sinh.
Từ tình hình thực tiễn dạy học môn vật lí tôi đã có một số giải pháp để sử
dụng phương pháp dạy học bằng thực nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn vật lí và đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên đây chỉ
mới là một số kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình dạy học của bản thân.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài chắc chắn sẽ có những tồn tại,
khiếm khuyết không thể tránh khỏi. Tôi rất mong được sự góp ý chân thành,
thẳng thắn của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh
15


nghiệm thực hành vật lí ở chương trình phổ thông để giáo viên và học sinh có
điều kiện tiếp cận, nghiên cứu.
- Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các phòng học chức năng bộ môn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2018
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người khác.
Tác giả
Cao Thị Hảo

16


PHỤ LỤC
PHIẾU KIỂM TRA KHẢO SÁT
Câu 1/ Chọn câu trả lời sai.
A. Tia khúc xạ và tia tới ở trong hai môi trường khác nhau.
B. Tia khúc xạ nằm trong mặt phẳng tới và ở bên kia pháp tuyến so với điểm
tới .
C. Hiện tượng khúc xạ là hiện tượng tia sáng bị lệch phương khi truyền qua
mặt phân cách hai môi trường trong suốt.
D. Góc khúc xạ r và góc tới i tỉ lệ với nhau .
Câu 2/ Chọn câu trả lời sai.
Khi áng sáng đi từ môi trường chiết quang hơn sang môi trường chiết
quang nhỏ hơn thì
A. Góc giới hạn xác định bởi
B. Khi góc tới i=igh thì tia khúc xạ đi sát mặt phân cách.
C. Khi tăng góc tới thì tia phản xạ yếu dần còn tia khúc xạ sáng dần lên.

theo pháp tuyến của mặt phân cách. Góc khúc xạ bằng
17


A. 00
B. Một góc nào đó tùy thuộc vào chiết suất của hai môi trường.
C. igh
D. 900
Câu 8/ Chùm tia sáng hẹp đi từ không khí đến một môi trường trong suốt chiết
suất n=1,5. Để tia phản xạ và tia khúc xạ vuông góc với nhau thì góc tới i là
A. 420
B. 600.
C. 56,30
D.
48,50
Câu 9/ Tia sáng đi từ không khí vào chất lỏng trong suốt vớí góc tới i = 60 0 thì
góc phản xạ r = 300. Để xảy ra hiện tượng phản xạ toàn phần khi tia sáng đi từ
chất lỏng ra không khí thì góc tới
A. i > 35,260
B. i > 450
C. i > 420
D. i > 54,740
Câu 10/ Chiếu một tia sáng với góc tới i = 300 đi từ thuỷ tinh ra không khí.Cho
biết thuỷ tinh có chiết suất n .Góc khúc xạ của tia sáng bằng
A. 65,370
B. 450
C. 67,50
D. 45,50
Câu
Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu

chương trình và sách giáo khoa Vật lí 10.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quyết định số 16/2006/QĐ -BGDĐT
phê duyệt Chương trình giáo dục phổ thông.
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình giáo dục phổ thông
môn Vật lí, NXB Giáo dục.
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng người dạy thực
hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Vật lí, NXB Giáo dục.
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng người dạy thực
hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12, môn Vật lí, NXB Giáo dục.
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình,
sách giáo khoa lớp 12, môn Vật lí, NXB Giáo dục.
15. Phương pháp giảng dạy- Gtr ĐHSP Thái Nguyên
16. Tài liệu nghiên cứu KHSPUD- BGD& ĐT
17. Những phương pháp dạy học tích cực- NXB Hà Nội

19


18. Cách triển khai phương pháp hoạt động nhóm hiệu quả- nguồn
Internet.
19. Khoa tâm lí giáo dục, trường ĐHSP Thái Nguyên: Phương pháp
nghiên cứu khoa học giáo dục, Thái Nguyên, 2002.
20. Nguyễn Đức Thâm (Chủ biên) : Phương pháp dạy học vật lí ở phổ
thông. NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2002.
21. Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông – NXB Đại học sư
phạm.
22. Các hình ảnh thí nghiệm- nguồn Internet.
23. Tài liệu thí nghiệm thực hành vật lí ở THPT-nguồn Internet.
24. Sách giáo khoa và sách giáo viên Vật lí 10, 11, 12 –NXB Giáo Dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status