SKKN một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 nhận biết và vận dụng tốt phép tu từ so sánh - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT TRIỆU SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 NHẬN BIẾT
VÀ VẬN DỤNG TỐT PHÉP TU TỪ SO SÁNH

Người thực hiện: Hoàng Thị Mai
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Hợp Thắng
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
TT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4
3
3.1

20
20
20


1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng: Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học hiện nay đặt ra là:
“Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở”. [1]
Trong đó, ở chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng
“kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều
thời lượng nhất.[2] Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản
cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện,
nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học,
nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt và sử dụng thành thạo các
kỹ năng của Tiếng Việt mới là mục tiêu cần hướng tới.
Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Luyện từ và câu đã góp phần không
nhỏ, ngoài việc củng cố về các mẫu câu và mở rộng vốn từ cho học sinh thì phân
môn Luyện từ và câu còn giúp các em làm quen với các biện pháp tu từ, trong
đó có biện pháp tu từ so sánh. Đây là mảng kiến thức rất mới và khó đối với học
sinh lớp 3. Mặc dù có cấu trúc đơn giản và gần gũi với học sinh song nó lại là
một hình thức, một phương diện diễn đạt nghệ thuật mà muốn có nó đòi hỏi
chúng ta phải trải qua một quá trình tư duy - thao tác tư duy - tưởng tượng - liên
tưởng - quan sát… Muốn có được những điều kiện trên đòi hỏi con người càng
có vốn kinh nghiệm sống bao nhiêu thì khả năng liên tưởng, tưởng tượng ra
những hình ảnh so sánh càng phong phú ý vị và độc đáo bấy nhiêu. Nhưng việc
dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 hiện nay mới chỉ dừng ở việc giúp học sinh
nhận biết sự thể hiện của biện pháp tu từ so sánh trong câu thơ, câu văn mà chưa

So sánh tu từ là công cụ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những
phương diện nào đó của sự vật. Nhờ có so sánh chúng ta dễ dàng tri giác về đối
tượng miêu tả một cách rõ nét hơn, hình ảnh hơn và cụ thể hơn. Bằng việc công
khai đối chiếu hai đối tượng với nhau đã khơi gợi cho người đọc, người nghe tới
một vùng liên tưởng mới tạo nên sự tri giác, sự nhận thức mới mẻ, bất ngờ và
sinh động. Do vậy so sánh tu từ có hai chức năng:
- Chức năng nhận thức:
Theo cơ chế của so sánh, A là cái được so sánh và B là cái được đem ra
làm chuẩn của sự so sánh. Giữa A và B phải có nét tương đồng giống nhau. Nhờ
B mà ta hiểu, ta cảm nhận được đặc điểm của A một cách rõ nét.[3] Như vậy so
sánh giữ vai trò thể hiện đặc điểm của sự vật này qua sự vật khác dựa vào những
nét tương đồng giống nhau giữa chúng. Nhờ đó mà người đọc, người nghe dễ
dàng nhận thức được đối tượng miêu tả. Dân gian ta đã sử dụng biện pháp tu từ
so sánh một cách sáng tạo trong các thành ngữ, tục ngữ.
Ví dụ: Nhanh như sóc; nhanh như chớp; nhanh như gió…
Gầy như cò hương; gầy như cá mắm; gầy như mèo hen…
Đẹp như tiên; hiền như bụt; béo như lợn; nhăn như khỉ…
Trong văn chương cũng vậy, các nhà văn luôn cố gắng phát hiện ra những
nét giống nhau đến chính xác, bất ngờ, điều mà người ta không để ý, không nhận
thấy… để đem ra so sánh.
Ví dụ:
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa…
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Nhờ tu từ so sánh, người ta có thể gửi tới người đọc, người nghe những
thông điệp gần gũi nhất, những điều khó nói nhất và diễn tả được tinh tế sự ý vị
của cuộc sống một cách dễ hiểu nhất.
Đã có rất nhiều sự vật, hiện tượng hay phương diện, khía cạnh khác nhau

luyện tập những bài tập trong sách giáo khoa, rất ít giáo viên sáng tạo ra các bài
tập mới, các tình huống mới hay tạo ra hoàn cảnh sử dụng từ của học sinh. Tài
liệu tham khảo dành cho giáo viên và học sinh chưa nhiều. Giáo viên hầu như
chưa kết hợp lồng ghép dạy tích hợp kiến thức Luyện từ và câu với kiến thức
Tập làm văn trong khi cái đích của việc đưa vào dạy biện pháp so sánh trong
phân môn Luyện từ và câu là để học sinh biết vận dụng những điều đã học vào
trong cuộc sống hàng ngày cũng như khi nói và viết văn. Vì vậy, học sinh học
xong thường không biết và không có ý thức vận dụng những điều đã học vào các
tình huống giao tiếp cụ thể, nhất là trong khi tạo lập văn bản.
2. Về phía học sinh
Khi học xong, tôi trực tiếp kiểm tra một số học sinh của các lớp thì thấy
các em nắm kiến thức chưa vững và sâu, có rất nhiều học sinh không nhận diện
được hình ảnh so sánh không chứa từ so sánh như: Quả dừa – đàn lợn con nằm
trên cao, Trường Sơn – chí lớn ông cha, Cửu Long – lòng mẹ bao la sóng
trào, không chỉ được điểm giống nhau giữa các sự vật không gần gũi với với học
sinh như: Ngôi nhà như trẻ nhỏ, ông hiền như hạt gạo, bà hiền như suối
trong… và phần lớn các em còn rất lúng túng khi tôi yêu cầu tạo lập một câu nói
có hình ảnh so sánh hoặc viết đoạn văn có hình ảnh so sánh cho trước vv….Phần
lớn học sinh lớp 3 chỉ biết thụ động với những hình ảnh so sánh có sẵn trong bài
học hoặc trong chương trình chứ chưa thể nói và viết với những hình ảnh so
sánh mà bản thân thấy trong cuộc sống thực tế.
Vì nội dung dạy học về biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 nằm gọn trong
chương trình học kì 1 nên hết học kì 1 năm học 2016 – 2017, tôi đã tiến hành
khảo sát trình độ học sinh về việc nhận biết và vận dụng biện pháp tu từ so sánh
Đề bài:
3


1. Tìm các hình ảnh so sánh có trong đoạn văn sau và nêu được đặc điểm
của sự vật được dùng để so sánh:

23
62.2%
3B
35
0
0
15
42.8%
20
57.2%
Kết quả trên cho thấy: Sau khi đã học xong kiến thức về biện pháp tu từ so sánh
nhưng học sinh mới chỉ dừng ở việc nhận diện chứ chưa vận dụng nói và viết
được. Như vậy, ý đồ của sách giáo khoa chưa thực hiện được.
* Nguyên nhân:
- Hệ thống bài tập đưa vào dạy cho học sinh chiếm lĩnh tri thức còn sơ sài.
Các dạng bài tập chủ yếu là nhận diện ít có tính sáng tạo, đôi chỗ quá cao so với
trình độ nhận thức của học sinh đại trà, chưa mang tính đồng đều và có ít yếu tố
thực tiễn.
- Sách giáo viên đôi chỗ còn giải thích sơ sài, quá tóm lược thậm chí chưa
chính xác kiến thức (Ví dụ: Giải thích: “Hai bàn tay em” được so sánh “Như hoa
đầu cành” vì cùng giống nhau ở đặc điểm “nhỏ, xinh” là chưa sát, mà sự giống
nhau phải ở đặc điểm đặc điểm (bàn tay, bông hoa) cùng vươn lên từ cánh tay,
cuống hoa, cùng xòe ra,…, Như vậy, nếu chỉ giải thích với học sinh là hai sự vật
(bàn tay, bông hoa) giống nhau ở đặc điểm nhỏ xinh thì học sinh chưa thể cảm
nhận và hình dung được sự so sánh tường minh và có tác dụng như thế nào.
2. 3 Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Nghiên cứu và nắm vững cấu trúc, nội dung chương trình
sách giáo khoa, phân nhóm các dạng bài tập so sánh.
a. Nội dung chương trình sách giáo khoa:
Muốn giảng dạy tốt phần này thì việc đầu tiên người giáo viên phải

Tiết 5 (Tuần10) Học sinh nắm bắt thêm cách so sánh: So sánh âm thanh với
âm thanh.
Tiết 6(Tuần 12) Học sinh biết cách so sánh hoạt động với hoạt động.
Tiết 7(Tuần 15) Học sinh đặt được câu văn có hình ảnh so sánh.
b. Các dạng bài tập về biện pháp So sánh:
- Nhận biết những sự vật so sánh, những hình ảnh so sánh, những đặc điểm
so sánh và những từ so sánh trong câu: Tiết 1, 2, 3, 4, 5, 6.
- Cảm nhận và nêu tác dụng của so sánh, tập đặt câu có sử dụng phép so
sánh: Tiết 7
Như vậy, mỗi tiết học về so sánh có yêu cầu khác nhau. Tiết học sau đòi
hỏi kiến thức cao hơn tiết học trước, mỗi tiết học cung cấp một mảng kiến thức,
một dạng bài tập. Tất cả các tiết đều là một vòng xoáy trôn ốc xung quanh phép
tu từ so sánh [6].
* Một số yêu cầu cơ bản khi dạy So sánh
Học sinh Tiểu học với nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng nên việc hướng dẫn các em tìm hiểu những biện pháp tu từ không phải là
dễ. Bởi vậy, khi dạy phép so sánh trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh,
tôi đã chú ý đến những yêu cầu cơ bản sau:
- Sử dụng đồ dùng trực quan và thông qua các ví dụ cụ thể để dẫn dắt học
sinh dần dần hiểu, nắm bắt, vận dụng biện pháp tu từ so sánh theo mức độ từ
dễđến khó, từ đơn giản đến phức tạp để từ đó nâng dần khả năng tư duy, óc sáng
tạo cho học sinh.
- Thông qua các bài tập nhận biết, học sinh được luyện tập và vận dụng
biện pháp tu từ so sánh trong khi nói và viết. Bên cạnh đó, học sinh còn cần
được tiếp xúc với ngôn ngữ nghệ thuật để biết cách cảm thụ cái hay, cái đẹp của
thơ văn.
5


Biện pháp 2: Giáo viên cần nắm vững khái niệm, cấu trúc của phép tu từ so

Như vậy, so sánh tu từ học và so sánh logic khác nhau ở 3 yếu tố:
- Tính hình tượng
- Tính biểu cảm
- Tính dị loại (không cùng loại) của các sự vật.
2.3. Cấu trúc của phép so sánh tu từ:
Về cấu trúc đầy đủ của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố:
Đối tượng
Phương diện, đặc Từ so sánh Đối tượng đưa ra để
được so sánh
điểm so sánh
làm chuẩn so sánh
(1)
(2)
(3)
(4)
Mây
trắng
như
Bông
Trong đó :
- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo
việc so sánh là tích cực hay tiêu cực.

6


- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng
thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõ
phương diện so sánh.
- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang bằng

Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh.
Trong đoạn thơ trên, nhà thơ đã dùng chỗ ngắt giọng (được ghi lại bằng
dấu gạch ngang) và đối chọi (giữa quả dừa và tàu dừa) để tạo nên một hình thức
so sánh có âm điệu nhịp nhàng. Không cần phải yếu tố (2) và (3) nhưng vẫn chỉ
ra được các sự vật được so sánh với nhau. Với dạng này GV cần khắc sâu để học
sinh biết cách đọc làm rõ được hai yếu tố so sánh.
Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đối
tượng so sánh với nhiều đối tượng được so sánh.
Ví dụ:
Người là cha, là bác, là anh.
Dựa vào mặt ngữ nghĩa thì so sánh tu từ có 2 kiểu: so sánh ngang bằng và
so sánh hơn - kém.
+ Kiểu so sánh ngang bằng.
Đây là kiểu so sánh phổ biến thường dùng từ “ như”, “ là”, “tựa”, “ tựa
7


như”… để làm từ so sánh. Kiểu so sánh này được dùng nhiều trong nói, viết văn
bản cũng như trong thực tiễn.
Ví dụ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
+ Kiểu so sánh hơn- kém
Đây là kiểu so sánh luôn gắn với từ hơn: khỏe hơn, đẹp hơn hoặc chẳng bằng.
Ví dụ:
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánh khác

sinh: Muốn so sánh chúng ta phải có mấy sự vật? (Có hai sự vật). Trong ví dụ
trên đó là những sự vật nào? (Sự vật 1: Hai bàn tay em - Sự vật 2: Hoa đầu cành)
? Vì sao hai bàn tay em được so sánh với hoa đầu cành? (Vì hai bàn tay của bé
nhỏ, xinh như một bông hoa).
Sau đó giáo viên cho học sinh tự gạch chân các sự vật ở những câu văn
còn lại (GV có thể quan sát và giúp đỡ nhưng học sinh còn lúng túng). Sau khi
8


học sinh đã gạch chân xong, giáo viên kết hợp nói và dùng thước chỉ vào các sự
vật được so sánh với nhau để khắc sâu kiến thức cho các em bằng cách đặt câu
hỏi:
? Trong một phép so sánh cần có mấy sự vật? – Có hai sự vật.
? Vì sao cánh diều lại so sánh được với dấu á? – Vì cánh diều và dấu á đều cong
cong giống nhau.
*Giáo viên chốt: Khi hai sự vật có những điểm giống nhau thì chúng ta mới có
thể đem ra để so sánh chúng với nhau.
Ta có thể tổng hợp kiến thức bằng bảng sau :
Sự vật 1
Điểm giống nhau
Sự vật 2
a) Hai bàn tay em
cùng xòe ra; nhỏ, xinh
Hoa đầu cành
b) Cánh diều
cong cong
Dấu á
c) Mặt biển
rộng, phẳng, êm
Tấm thảm khổng lồ

b) Hoa xao xuyến nở như
Mây từng chùm
c) Trời

Cái tủ ướp lạnh
Trời

Cái bếp lò lung
d) Dòng sông

Một đường trăng
GV chỉ ra cho học sinh thấy rằng: Cứ có từ chỉ sự so sánh là có dấu hiệu
của sự so sánh ở câu văn, câu thơ đó rồi.
9


Cho HS thử tìm các từ khác có thể thay thế các từ chỉ quan hệ so sánh trên
và nhận xét xem dùng từ chỉ quan hệ so sánh nào thì hay hơn, phù hợp hơn.Từ
đó giúp học sinh chọn lựa từ sát hợp khi viết câu.
*Nhiệm vụ thứ ba: Cho HS so sánh những những sự vật trong cuộc sống xung
quanh các em với các từ chỉ sự so sánh thường dùng: như, là, tựa như, tựa, …
HS nêu: Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo.
hay: Cô giáo là người mẹ hiền thứ hai của em.
Sau tiết học, nhằm củng cố lại kiến thức cho học sinh, tôi yêu cầu học
sinh làm bài tập sau:
Tìm các sự vật được so sánh, sự vật dùng để so sánh và từ so sánh trong
câu sau:
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây.
Đáp án:

vào ô thứ nhất:
Hình ảnh so sánh
Các kiểu so sánh
a) Cháu khỏe hơn ông nhiều
So sánh hơn
Ông là buổi trời chiều
Ngang bằng
Cháu là ngày rạng sáng
Ngang bằng
b) Trăng khuya sáng hơn đèn
So sánh hơn
c) Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
So sánh kém
10


c) Mẹ là ngọn gió của con suốt đời
Ngang bằng
Sau đó mời một số học sinh lên bảng gạch chân dưới từ chỉ quan hệ so
sánh có trong bài. Giáo viên làm mẫu để học sinh nhận diện các kiểu so sánh:
Các em đã biết ngoài từ “như” là từ thường dùng để chỉ quan hệ so sánh chúng
ta còn làm quen với rất nhiều từ khác như: tựa; giống; là…Tất cả những từ đó
đều được sử dụng trong phép so sánh ngang bằng. Ngoài ra hôm nay, chúng ta
còn được làm quen thêm một số từ chỉ quan hệ so sánh như: “hơn” trong phép
so sánh hơn, “chẳng bằng” trong phép so sánh kém.
Ở bài học này, tôi đã nhấn mạnh cho học sinh: Sự khác nhau về cách so
sánh là do từ chỉ sự so sánh tạo nên.
+ Nếu từ chỉ quan hệ so sánh là: tựa, như, là, giống như, như là, bằng… thuộc
kiểu so sánh ngang bằng.

c) Cây pơ- mu im như người lính canh
vật.
d) Bà như quả ngọt chín rồi
Học sinh đọc và so sánh các hình ảnh trong bài tập 1 và cho các em nhận xét
đây là kiểu so sánh: So sánh sự vật với con người: Con người với sự vật
*Nhiệm vụ thứ ba: Cho HS lấy ví dụ minh hoạ về một sự vật trong lớp để so
sánh theo ví dụ vừa học.
11


VD: Chiếc cặp như người bạn thân hàng ngày của em.
Tiết 5 – Tuần 10 ( Chủ đề Quê hương )
* Nhiệm vụ thứ nhất: Những kiến thức cần cung cấp
Mở rộng về các sự vật đem ra để so sánh với nhau là âm thanh với âm
thanh:
* Nhiệm vụ thứ hai: Các cách tổ chức:
Với hai bài tập nhận biết hình ảnh so sánh, học sinh tiếp tục luyện tập về
một cách so sánh mới: So sánh âm thanh với âm thanh. Ở bài học này tôi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu như sau:
+ Bài tập 1.
Đọc đoạn thơ:
Đã có ai lắng nghe
Tiếng mưa trong rừng cọ
Như tiếng thác dội về
Như ào ào trận gió.
- Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp trả lời câu hỏi:
+ Tiếng mưa trong rừng cọ được so sánh với những âm thanh nào?
HS trả lời: như tiếng thác, tiếng gió
Như vậy, không chỉ có các sự vật, con người mới dùng làm đối tượng so
sánh mà những âm thanh trong tự nhiên cũng được chọn làm hình ảnh so sánh.

với hoạt động trong tự nhiên bằng cách đặt câu và nói.
* Như vậy qua 6 tiết học, học sinh đã nhận biết được các sự vật so sánh,
các từ so sánh, kiểu so sánh và các cách so sánh.
3.2. Dạng bài tập cảm nhận và nêu tác dụng của so sánh
* Ví dụ 1: Tiết 5 - Tuần 10 (Bài tập 1/Trang 79 - TV3, Tập 1)
* Nhiệm vụ thứ nhất:
Với dạng bài này cần cho học sinh giải quyết các câu hỏi sau:
Nếu coi : A là sự vật so sánh.
B là sự vật được so sánh.
Học sinh phải trả lời được các câu hỏi mà GV đưa ra để làm nổi bật yêu
cầu tiết học.
+ So sánh các sự vật, sự việc với nhau như vậy để làm gì?
+ Cách so sánh như vậy có tác dụng gì?
+ Em thấy cách so sánh như vậy có dễ hiểu hơn về sự vật A không?
Khi trả lời được câu hỏi này là học sinh đã hiểu được tác dụng của biện
pháp tu từ so sánh và cách dùng biện pháp tu từ so sánh trong văn chương, thơ
ca.
* Nhiệm vụ thứ hai: Các cách tổ chức:
Để học sinh cảm nhận được giá trị nhận thức cũng như giá trị thẩm mĩ của
một hình ảnh so sánh, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu bằng các câu hỏi sau:
+Sự vật B giúp các em hình dung ra sự vật A như thế nào?
+ B giúp em cảm nhận điều gì mới mẻ về A?
+ Hình ảnh so sánh đó gợi cho em cảm xúc gì?
+ Khi dùng cách so sánh như vậy e thấy dễ hiểu hơn về sự vật so sánh
không?
*Ví dụ:
Sau khi tìm được những âm thanh so sánh với tiếng mưa trong rừng cọ là
tiếng thác đổ và tiếng gió, tôi đưa tiếp câu hỏi:
Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ như thế nào?
GV có thể tổng kết: Nhờ cách so sánh đó đã giúp cho người đọc, người

mà nghĩa không thay đổi.
Với kiểu so sánh đó, học sinh sẽ tìm được rất nhiều từ ngữ thay thế: như,
như là, tựa, tựa như, giống như…
- Quả dừa giống như đàn lợn con nằm trên cao.
- Tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh.
*Nhiệm vụ thứ ba: Cho HS tự đặt câu nói ngoài bài với kiểu so sánh có các từ
ngữ thay thế như trên.
Viết câu văn so sánh các sự vật với nhau:
a. Cánh đồng lúa ………tấm thảm
b. Dòng sông uốn lượn……..dải lụa đào.
Với bài tập này, ngoài việc tìm ra được phép so sánh, bằng óc liên tưởng của
mình học sinh sẽ tìm được những điểm giống nhau của các sự vật để đặt câu:
a. Cánh đồng lúa chín vàng tựa như tấm thảm khổng lồ.
b. Dòng sông uốn lượn như một dải lụa đào.
Với cách lấy VD minh hoạ ngoài bài và nêu miệng như vậy, HS sẽ dễ dàng áp
dụng được khi viết đoạn văn trong bài Tập làm văn.
* Ví dụ 2: Tiết 7 - Tuần 15(Bài tập 3/ Trang 126 - TV3,Tập 1)
* Nhiệm vụ thứ nhất: Quan sát từng cặp sự vật được vẽ dưới đây rồi viết
những câu văn có hình ảnh so sánh các sự vật trong tranh.
* Nhiệm vụ thứ hai : Để tạo hứng thú cho học sinh đặt câu, tôi cho HS
quan sát bức tranh trong sách giáo khoa và hướng dẫn học sinh nói tên các cặp
sự vật có trong mỗi tranh.
- Tranh 1: + Mặt trăng so sánh với quả bóng
- Tranh 2: + Nụ cười của bé so sánh với bông hoa
+ Khuôn mặt của bé so sánh với bông hoa
- Tranh 3: + Ngọn đèn so sánh với ngôi sao
+ Ngọn đèn so sánh với ánh trăng
- Tranh 4: + Hình dáng nước ta được so sánh với chữ S

14

Tôi nhấn mạnh cho học sinh thấy sự khác nhau giữa hai bài tập: Bài tập 3
là so sánh cặp đôi sự vật có sẵn và có điểm tương đồng chung còn bài tập 4 là đã
có sẵn một sự vật, cần tìm một sự vật khác có điểm giống hoặc tương đồng để
so sánh.
Qua bài học này tôi chốt lại cho học sinh cấu trúc chung của so sánh để
các em nhớ, biết vận dụng khi đặt câu có hình ảnh so sánh:
Sự vật A
Đặc điểm so sánh
Từ so sánh
Sự vật B

15


* Ngoài việc giúp cho học sinh nhận biết được biện pháp tu từ so sánh qua
các tiết học và các bài tập của phân môn Luyện từ và câu, tôi còn giúp học sinh
khai thác và tìm hiểu các hình ảnh so sánh trong các phân môn khác như: Tập
đọc, Tập làm văn, …Từ đó học sinh được củng cố, khắc sâu, mở rộng thêm kiến
thức về So sánh.
* Ví dụ: Bài tập đọc Ông ngoại (Tuần 5) có đoạn văn tả thành phố sắp
vào thu như sau:
Thành phố sắp vào thu. Những cơn gió nóng mùa hè đã nhường chỗ cho
luồng khí mát dịu mỗi sáng. Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong,
trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.
Sau phần tìm hiểu đoạn, tôi yêu cầu học sinh tìm câu văn có hình ảnh so
sánh trong đoạn và chỉ ra hình ảnh so sánh trong câu. Hình ảnh so sánh giúp em
hiểu thêm điều gì?
(Câu: Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong, trôi lặng lẽ giữa
những ngọn cây hè phố. Hình ảnh so sánh: Trời - dòng sông trong. Hình ảnh so
sánh giúp người đọc hình dung rõ hơn về bầu trời mùa thu.)

thêm từ “như” để câu văn có hình ảnh so sánh:
a) Buổi sáng, những cánh buồm nâu trên biển đẹp quá.
b) Đôi cánh gà mẹ xòe ra chắc chắn che chở cho các chú gà con.
(cánh bướm dập dờn,, chiếc nơ, hai mái nhà, chiếc dù)
Tôi đưa bài tập trên nhằm giúp học sinh nhận dạng được câu văn có hình
16


ảnh so sánh, nắm vững mô hình, cấu trúc của câu văn so sánh cũng như phân
biệt rõ các thành phần trong câu văn có hình ảnh so sánh.
Bài 4: Tìm những hình ảnh so sánh thích hợp điền vào chỗ trống để câu văn có
hình ảnh so sánh phù hợp nhất:
a) ……….. lơ lửng giữa trời như cánh diều đang bay.
b) ……….. cuồn cuộn chảy như những con ngựa tung bờm phi nước đại.
c) Mùa xuân, hoa xoan nở từng chùm tím biếc trông như …………..
d) Trăng rằm trung thu tròn như ……………
Đây là bài tập không phải là khó, nhưng để làm tốt bài bập này thì giáo
viên phải hướng dẫn học sinh quan sát, suy nghĩ, liên tưởng để tìm ra những sự
vật có nét tương đồng với sự vật đã cho, từ đó tạo câu văn có hình ảnh so sánh.
Ví dụ: Trong câu a, con thấy có những sự vật nào giống như một cánh
diều? (mặt trăng lưỡi liềm, hạt cau, dấu á…)
? Trong các sự vật trên, có sự vật nào ta thấy lơ lửng được trên không?
(Mặt trăng lưỡi liềm)
Từ đó học sinh chọn được hình ảnh phù hợp điền vào chỗ trống để tạo
thành câu văn đúng và hay: Mảnh trăng lưỡi liềm lơ lửng giữa trời như cánh
diều đang bay.
Tương tự với các trường hợp còn lại, học sinh sẽ viết được những câu văn
có hình ảnh so sánh như:
b) Dòng sông mùa lũ cuồn cuộn như những con ngựa tung bờm phi nước đại.
c) Mùa xuân, hoa xoan nở từng chùm tím biếc trông như những đám mây

đó chưa sinh động, chưa làm cho hình ảnh hoa mướp được tôn nổi bật lên. Câu
văn trở nên khô khan, kém hay hẳn đi.
Như vậy, qua phân tích học sinh sẽ lựa chọn được câu văn hay và các em
còn hiểu được: khi so sánh, muốn cho sự vật miêu tả được đẹp và sinh động thì
cần so sánh với một sự vật khác đẹp hơn chứ không phải cứ chọn hình ảnh có
điểm tương đồng nhưng không hay hơn, đẹp hơn để so sánh. Và như thế câu văn
có được sức gợi tả, gợi cảm cho người đọc.
4.3.Dạng bài tập vận dụng biện pháp tu từ so sánh
Bài 1: Em hãy sử dụng biện pháp so sánh để diễn đạt lại các câu sau cho sinh
động, gợi cảm hơn:
a) Những bông hoa xoan màu trắng, nhỏ li ti.
b) Ông của em đã già, tóc của ông bạc trắng.
c) Chú chim vành khuyên đang hót trong nắng mai.
Với bài tập này học sinh sẽ suy nghĩ và viết lại câu văn theo ý mình. Tôi
chú ý hướng dẫn, chữa cho các em nhưng không áp đặt theo ý cô. Đồng thời, tôi
ghi nhanh một số câu văn hay lên bảng cho các em khác học tập.
Ví dụ:
a) Những bông hoa xoan màu trắng, nhỏ li ti như những hạt cườm trên cành cây.
b) Ông của em đã già, tóc của ông bạc trắng như mây.
c) Chú chim vành khuyên đang hót trong nắng mai như tiếng đàn thánh thót.
Sau khi học sinh đã thành thạo dạng bài tập này tôi lại ra một số bài tập ở
mức độ khó hơn.
Với cách làm như vậy thì trí tưởng tượng của học sinh sẽ ngày một phong
phú, khả năng diễn đạt câu văn sẽ tốt hơn.
Bài 2: Hãy dùng biện pháp so sánh để diễn đạt về mỗi sự vật sau: cánh đồng
lúa chín, dòng sông, bông hoa, ông mặt trời buổi sáng mùa hè….
Với dạng bài tập này, đòi hỏi học sinh phải có một trí tưởng tượng thật
phong phú kết hợp với khả năng diễn đạt thật thành thạo thì mới có thể viết được
những câu văn có hình ảnh so sánh hay. Tôi cũng có biện pháp hướng dẫn cụ thể
các em học sinh bằng cánh sau khi học sinh đã trình bày hết ý kiến, tôi cho học

+ Em có nhận xét gì về câu đố trên?
(Câu đố có sử dụng so sánh nhưng ẩn sự vật so sánh)
+ Sự vật dùng để đối chiếu trong câu đố trên là gì? (Là lá tre, hạt đỗ.)
+ Em cần phải dựa vào chi tiết nào nữa để tìm ra lời giải? (ngo ngoe dưới
nước, ăn giỗ cả làng.)
+ Vậy sự vật so sánh ở đây là sự vật nào? (Là con đỉa, con ruồi.)
Với các câu đố tôi đưa ra các em rất thích thú và tìm cách giải. Qua những
câu đố như vậy các em cũng sẽ được khắc sâu kiến thức của mình về cách tìm
sự vật có nét tương đồng với sự vật đã cho.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Cuối học kì 1 năm học 2017 – 2018, tôi đã tiến hành khảo sát 30 học sinh lớp
tôi (3A) và 31 học sinh lớp 3B Trường tiểu học Hợp Thắng với phiếu bài tập:
1. Tìm các hình ảnh so sánh có trong đoạn văn sau và nêu được đặc điểm
của sự vật được dùng để so sánh:
Trời còn tờ mờ tối vậy mà anh gà trống oai phong đã cất tiếng gáy, báo hiệu
mọi người thức dậy. Phía đằng đông, những tia nắng đầu tiên của ông mặt trời
đang dần nhô lên. Bầu trời phía đông ửng hồng lạ kì ! Ông mặt trời như lòng đỏ
một quả trứng gà được đặt trên chiếc mâm màu xám. Những chị mây lúc bấy
giờ như những chiếc thuyền trôi dạt trên trời.
2. Em hãy viết một đoạn văn khoảng 4 - 6 câu về kể đặc điểm của con vật
nuôi mà em yêu thích, trong đó có sử dụng biện pháp so sánh.
Kết quả thu được như sau:
Số học sinh viết được
Số học sinh nêu
Số học sinh nhận biết
câu có hình ảnh so
được phương diện,
được hình ảnh so sánh
Lớp
sánh theo chủ đề

3.1. Kết luận:
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và thực tế giảng dạy tôi thấy việc dạy
cho các em tìm hiểu về các biện pháp nghệ thuật là cả một quá trình thường
xuyên, liên tục và dần dần đạt được kết quả ở nhiều mức độ. Điều cơ bản để làm
được việc đó là giáo viên cần định hướng để học sinh tự phát hiện kiến thức
mới. Sau đó giáo viên cần nhấn mạnh, chốt lại kiến thức sau khi học sinh đã
hoàn thành bài tập. Ta không thể ép học sinh phải lập tức làm được điều mình
mong muốn vì “Quy tắc và khái niệm không đi trực tiếp từ đầu giáo viên sang
đầu học sinh” [2] cho nên cần phải kiên trì, tác động liên tục để các em hình
thành được kiến thức và vận dụng các bài học có hiệu quả. Suốt quá trình áp
dụng các giải pháp, tôi thấy được tính hiệu quả của SKKN như sau:
- Các em hoàn thành tương đối tốt các bài tập vận dụng, thực hành.
- Học sinh đã biết dùng từ đặt câu đúng mẫu, có đúng nghĩa .
- Nhiều học sinh đã viết những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh một
cách hiệu quả.
- Các em đã biết diễn đạt sự cảm nhận cái hay, cái đẹp của nghệ thuật so
sánh. Hơn thế nữa, thông qua luyện tập nhận biết và vận dụng các biện pháp tu
từ so sánh trong phân môn Luyện từ và câu, các em đã tích luỹ cho mình được
vốn kiến thức về ngôn ngữ nghệ thuật, đồng thời các em còn được bồi dưỡng
tình cảm yêu quý đồ vật, cây cối, loài vật và thiên nhiên gần gũi với mình.
3.2. Kiến nghị
* Về phía Nhà trường:
- Tổ chức nhiều buổi chuyên đề hơn nữa để cho giáo viên chúng tôi được
thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
- Trang bị thêm đồ dùng dạy học, các tài liệu tham khảo hiện đại cho giáo
viên và học sinh .
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi. Tôi rất mong nhận
được ý kiến tư vấn thêm của các nhà chuyên môn và các đồng nghiệp để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

T

Tên đề tài SKKN

1

Một số giải pháp giúp
học sinh lớp 4 giải bài
toán rút về đơn vị.
Một số biện pháp rèn
luyện kĩ năng đọc diễn
cảm cho học sinh lớp 2

2

Cấp đánh giá
xếp loại

Kết quả
đánh giá,
xếp loại

Năm học
đánh giá,
xếp loại

Phòng GD&ĐT
Triệu Sơn

B


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status