Hướng dẫn tổ chức các loại hoạt động giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ từ 12
đến 36 tháng tuổi ở trường mầm non.
Bài 1. Những vấn đề chung về giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ
12-36 tháng tuổi.
Số tiết: 2 tiết. Tiết 1+2
Học ngày 18/09/2016.
1. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 12- 36 tháng tuổi.
1.1. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 12-18 tháng tuổi.
Giai đoạn 12-18 tháng tuổi, bước đầu trẻ đã có thể tự di chuyển đôi chân của
mình.Trẻ thích được tự mình khám phá thế giới xung quang gần gũi. Trẻ bắt đầu tri giác
thuộc tính của đồ vật, Lắm được các mối quan hệ đơn giản nhất giữa những đồ vật
thông qua các giác quan: nhìn, nghe, cầm, lắc, gõ, đập, lăn, ném… Trẻ thích chơi những
đồ chơi có tính chất động. thích xem tranh, ảnh có màu sắc sặc sỡ, bỏ vào, lấy ra, đóng,
mở… tuy nhiên những hành động với những đồ vật của trẻ tuổi này vẫn chưa có chủ
định. Trẻ chưa biết đến các thuộc tính của đồ vật, tri giác còn sơ sài. Trẻ mới chỉ nhận
biết một số dấu hiệu có tính chất ngẫu nhiên bề ngoài của đồ vật.
Nhu ầu giao tiếp với người lớm của trẻ 12-18 tháng rất cao. Ở trẻ bắt đầu nảy sinh
khả năng bắt chiếc hành động của người lớn. Tư duy mang tính trực quan hành động, trẻ
đã biết sử dụng các mối liên hệ giữa các đối tượng để đạt được mục đích như kéo rổ để
lấy quả cam đựng trong đó. Mặc dù ngôn ngữ mới được hình thành nhưng trẻ 12-18
tháng tuổi có theerv gọi tên một số bộ phận cơ thể như: Mắt mũi, miệng, biết tên gọi của
bản thân, một số đồ dùng, đồ chơi quen thuộc… Dần dần ngôn ngữ trở thành một trong
những phương tiện quan trọng để mở rộng khả năng giao tiếp của trẻ. Khả năng chú ý,
trí nhớ của trẻ còn rất ngắn và chưa bền vững.
1.2. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 18-24 tháng tuổi.
Cảm giác, tri giác của trẻ 18-24 tháng tuổi đã được phát triển nhờ việc trẻ biết đi
và thực hiện được các hành động với đồ vật. Việc xuất hiện ngôn ngữ đã giúp cho cảm
giác của trẻ trở nên chính xác và có căn cứ hơn. Trẻ phân biệt được màu xanh đỏ, kích
thước to - nhỏ. Trẻ bắt đầu tri giác thuộc tính của đồ vật xung quanh, nắm được các mối
còn chỉ tất cả các quả bóng khác. Tuy nhiên khả năng đó của trẻ vẫn còn sơ đẳng, chỉ
dựa trên những dấu hiệu ngaauc nhiên, bên ngoài. Trẻ đã biết xác lập các mối quan hệ
chưa sẵn có giữa các đồ vật để giải quyết nhiệm vụ đơn giản và bắt đầu biết sử dụng
các thao tác của tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, phân loại, khái quát hóa dưới
dạng hình thức sơ đẳng nhất: So sánh cái này to hơn cái kia, biết cắt bánh ra tành nhiều
phần. Đến cuối 3 tuổi trên cơ sở tư duy trực quan hành động. ở trẻ bắt đầu hình thành
một số yếu tố của kiểu tu duy trực quan – hình tượng.
2. Mục tiêu, nội dung giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ từ 12- 36 tháng
tuổi.
2.1. Mục tiêu giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ từ 12- 36 tháng tuổi.
Thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh.
Có sự nhạy cảm của các giác quan
Có khả năng quan sát, nhận xét, ghi nhớ và diễn đạt hiểu biết bằng những câu nói
đơn giản.
Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân và các sự vật, hiện tượng gần giũ quen
thuộc.
2.2. Nội dung giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ từ 12- 36 tháng tuổi.
a. Luyện tập, phối hợp các giác quan
b. Nhận biết
- Tên gọi, chức năng một số bộ phận của cơ thể người.
- Tên gọi đặc điểm nổi bật, công dụng và cách sử dụng một số đồ dùng, đồ chơi,
phương tiện giao thông quen thuộc với trẻ.
- Một số mầu cơ bản( Đỏ, vàng, xanh), Kích thước ( To, nhỏ), hình dạng ( tròn,
vuông), Số lượng ( Một, nhiều) Và vị trí không gian( trên- dưới, trước- sau) so với bản
thân trẻ.
- nội dung giáo dục theo độ tuổi chương trình giáo dục mầm non.
3. Các hoạt động giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ từ 12- 36 tháng tuổi.
3.1. Hoạt động chơi- tập.
1.2.1. Hướng dẫn chung.
Bước 1. Tạo hứng thú lôi cuốn trẻ vào hoạt động chơi tự chọn theo ý thích.
Bước 2. Bao quát quá trình trẻ chơi.
Bước 3. Kết thúc chơi.
1.2.2. Hướng dẫn từng độ tuổi.
2. Các hoạt động khác.
2.1. Hoạt động dạo chơi ngoài trời.
2.1.1 Hướng dẫn chung.
Hoạt động dạo chơi ngoài trời là hoạt động thường xuyên của trẻ ở trường mầm
non, được tổ chức ở không gian bên ngoài lớp học nhằm thỏa mãn các nhu cầu thực
hiện các hoạt động thực tiễn đối với những sự vật, hiện tượng tồn tại trong không gian
bên ngoài phòng học của trẻ. Hoạt động dạo chơi ngoài trời giúp trẻ tự tin, mạnh dạn,
ham muốn tìm hiểu, khám phá trong môi trường mới lạ, kích thích sự tập trung chú ý,
hứng thú hoạt động.Giáo viên có thể tổ chức phát triển nhận thức cho trẻ qua hoạt động
dạo chơi ngoài trời như sau.
Trước khi cho trẻ dạo chơi ngoài trời, giáo viên cần tìm hiểu về các điều kiện vệ
sinh, thời tiết ở ngoài trời… để lên kế hoạch cho trẻ dạo chơi. Thời gian, địa điểm tổ
chức, xác định đối tượng nhận thức và nội dung hoạt động nhận thức mà trẻ thực hiện ở
ngoài trời.
Khi tổ chức cho trẻ dạo chơi ở ngoài trời:
+ Cho trẻ đến địa điểm dạo chơi. Cho trẻ đứng quan sát ở vị trí phù hợp. Vị trí
quan sát của trẻ cần được an toàn, thoải mái khi trẻ tham gia hoạt động. Trẻ quan sát,
gọi tên, nghe âm thanh, nhìn màu sắc, vẻ đẹp của sự vật, hiện tượng thiên nhiên, cuộc
sống gần gũi với trẻ.
+ Tổ chức cho trẻ quan sát trò chuyện, khuyến khích trẻ quan sát và trả lời các
câu hỏi của giáo viên về những gì trẻ thích, trẻ quan sát thấy gì? Trẻ cảm thấy như thế
nào? Khuyến khích trẻ quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh. Động viên trẻ chơi các
trò chơi bằng cách cầm, nắm, sờ, lăc, gõ, lăn…để không chỉ củng cố kiến thức đã được
hoa quả trong vườn, cho trẻ cảm nhận gió thổi cây cối đung đưa, cảnh mưa rơi, lá
rụng…
Trong quá trình hoạt động giáo viên chú ý đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ.
Giáo viên quan sát nhưng khả năng, biểu hiện về khả năng của các giác quan ở trẻ như
khả năng nhìn, nghe… để có những hỗ trợ kịp thời và điều chỉnh các hoạt động giáo dục
phát triển nhận thức tiếp theo cho phù hợp.
* Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi.
Ngoài tổ chức hoạt động dạo chơi ngoài trời cho trẻ như độ tuổi trước, giáo viên
khuyến khích cho trẻ chơi thao tác vai như: Chăm sóc con vật, bác tạp vụ tưới cây, nhặt
lá… nhằm giúp trẻ củng cố, ôn luyện nhận biết tên goi, một số đặc điểm, công dụng của
cây, rau, củ, quả, con vật gần gũi…Qua đó hình thành và phát triển ở trẻ , óc tò mò ham
hiểu biết, tính tích cực về nhận biết thế giới xung quanh.
Cho trẻ chơi với nước, cát… để khuyến khích sự tìm tòi, khám phá, nhận biết tên
gọi, công dụng của một số đồ dùng, đồ chơi như: Xẻng để xúc cát,ca cốc để uống
nước…Qua đó phát triển các giác quan ở trẻ.
Cho trẻ chơi một số trò chơi dân gian nhằm phát triển vận động, tăng cường khả
năng tập trung chú ý, tạo hứng thú nhận biết xung quanhnhuw: Bắt chước tạo dáng, cây
cao, cỏ thấp, chi chi chành chành.
Khuyến khích trẻ thiết lập các mối quan hệ với bạn chơi khi chơi cạnh bạn, cùng
bạn một cách hòa thuận.
2.2. Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh.
Trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ ngoài hoạt động chơi tập, hoạt động dạo chơi
ngoài trời còn có các hoạt động khác như: Ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân… Các hoạt động
này đều có thể sử dụng vào quá trình giáo ducjphats triển nhận thức cho trẻ, xuất phát từ
thực tế và đi vào thực tế cuộc sống của trẻ, qua đó củng cố, luyện tập, khắc sâu nội dung
giáo dục này cho trer12-36 tháng tuổi
2.2.1. Hướng dẫn chung
Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh là hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ
xung quanh.
* Đối với trẻ 18-24 tháng tuổi: Bên cạnh việc thường xuyên trò chuyện giao lưu
với trẻ khi thực hiện các hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân giáo viên chú ý đồng thời
thực hiện nội dung nhận biết thế giới xung quanh, gần gũi với việc luyện tập và phối
hợp các giác quan cho trẻ như: Luyện vị giác qua cảm nhận các mùi vị các món ăn;
Luyện thính giác qua nghe các bài thơ, giai điệu của bài hát khi đi ăn, ngủ; luyện xúc
giác qua thực hiện các thao tác vệ sinh thân thể… khuyến khích trẻ thể hiện sự nhận
biết bằng lời nói.
* Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi.
Giáo viên chú ý luyện tập và phối hợp các giác quancho trẻ như luyện vị giác qua
cảm nhận về mùi vị các món ăn; luyện thính giác qua nghe giai điệu của các bài thơ bài
hát khi đi ăn, ngủ; luyện xúc giác qua việc thực hiện các thao tác vệ sinh thân thể…
khuyến khích trẻ trò chuyện về các sự vật, hiện tượng xung quanh, cuộc sống gần gũi
mà trẻ quan sát được để ôn luyện, củng cố, mở rộng hoặc gợi mở về những đối tượng
mà trẻ đã và sẽ nhận biết
2.3. Hoạt động đón/ trả trẻ.
2.3.1. Hướng dẫn chung: Đây là hoạt động diễn ra hàng ngày, giáo viên có thể tận
dụng các tình huống thực tế giúp trẻ nhận biết các đồ dùng, đồ chơi quen thuộc hoặc tận
dụng mọi cơ hội xung quanh để giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ.
Khi đón và trả trẻ giáo viên thường xuyên trò chuyện vui vẻ, tình cảm, xưng tên
của mình và gọi tên trẻ qua đó củng cố những nhận biết của trẻ về những sự vật hiện
tượng xung quanh trẻ. Giáo viên tập cho trẻ gọi tên những người gần gũi như tên mình,
tên bố mẹ, ông bà, anh chị, giáo viên, các bạn trong nhóm bằng cách gợi ý
Đốn/ trả trẻ trong môi trường phong phú, sinh động với các bài thơ bài bài hát gắn
liền với những nội dung mà trẻ được nhận biết nhằm hình thành tính tích cực nhận thức
ở trẻ.
Cho trẻ chơi tự do với đồ dùng đồ chơi, xem tranh ảnh, theo sở thích hoặc chơi
trò chơi dân gian, trò chơi vận động nhẹ nhàng… Trong quá trình chờ đợi được đón về,
phương pháp, biện pháp giáo dục phát triển nhận thức cho trẻ 12-36 tháng tuổi.
BÀI 3 NỘI DUNG NUÔI DƯỠNG THEO ĐỘ TUỔI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC MẦM NON
Số tiết: 2 tiết. Tiết 7 + 8
Học ngày: 15/10/2016
1. Xây dựng thực đơn cho bữa ăn của trẻ tại trường mầm non.
1.1.
Nguyên tắc và các bước xây dựng thực đơn
* Nguyên tắc xây dựng thực đơn:
- Xây dựng thực đơn phù hợp nhu cầu và chế độ ăn của lứa tuổi.
- Xây dựng thực đơn theo từng ngày, tuần, tháng, và theo mùa để dễ điều hòa thực
phẩm.
- Xây dựng thực đơn cho nhiều ngày cần thay đổi món ăn. Khi thay đổi cần đảm
bảo thay thế thực phẩm cùng nhóm hoặc phối hợp các thực phẩm thay thế để đạt được
giá trị dinh dưỡng tương đương
- Thay đổi thực đơn không đơn thuần là thay đổi thực phẩm mà cần thay đổi cả
dạng chế biến của cùng 1 loại thực phẩm ( luộc, rán, xào, kho…)
- Xây dựng thực đơn cho bữa chính, bữa phụ cho phù hợp mức đóng góp. Trong
một ngày nên sử dụng thực phẩm giống nhau cho các chế độ ăn để tiện cho việc tiếp
phẩm.
* Các bước xây dựng thực đơn
- Xác định số ngày trẻ ăn trong tuần và số bữa ăn trong ngày của từng chế độ
ăn( số bữa chính, số bữa phụ )
- Chọn thực phẩm giàu đạm động vật, thực vật
- Chọn các loại rau theo mùa.
bánh mì
250g bánh phở
300g bún
2
100g mỡ nước
350g khơi tươi
100g dầu thực vật hoặc bơ
150g lạc vừng100g thịt bò
100g trứng ( 2 quả trứng vịt hoặc 3 quả trứng gà,
hoặc 10 quả trứng chim cut )
150g thịt gà, vịt, chim.100g tôm + 15g dầu mỡ
150g tép+ 15g dầu mỡ
200g cá + 15 g dầu mỡ
300 g cua+ 15 g dầu mỡ
1kg trai hoặc trùng trục + 15g dầu mỡ
150g lạc vừng
300g đậu phụ
Chú ý: Nơi có tập quán ăn ng: cần xay ngô thành bộ, nên cho thêm đạu đỗ, dầu ăn hoặc
mỡ để bữa ăn có chất lượng hơn. Nên hầm nhừ để các thức ăn có thể hấp thụ tốt hơn.
Nếu thay gạo bằng các loại thực phẩm khác nên phối hợp với tương tự như trên.
Gà, cá, tôm, cua….tính theo con còn sống ( chưa làm sạch) và phối hợp bổ xung
thêm dầu mỡ như bảng trên.
1.3 Một số lưu ý khi xây dựng thực đơn
- Thiết kế bố trí các khu vực của bếp như: Khu tiếp nhận, sơ chế thực phẩm sống,
khu chế biến nấu nướng, khu bảo quản, chia thức ăn; kho nguyên liệu thực phẩm, kho
lưu trữ bảo quản thực phẩm, khu vực rửa tay và nhà vệ sinh phải có phân khu cách biệ.
+ Để thuận lợi cho việc thực hiện chế biến thực phẩm bếp an trong trường mầm
non phải được thiết kế theo quy tắc 1 chiều
+ Các khu vực phải có biển roc ràng. Bảo đảm đường đi của thực phẩm theo một
chiều từ khi tiếp nhận thực phẩm sống đến khâu chia thức ăn.
Tiếp nhận thực phẩm – >Sơ chế thức phẩm –> Chế biến thực phẩm –>Chia
thức ăn
- Có đủ dụng cụ để sơ chế, chế biến thực phẩm. Dụng cụ sử dụng hco sơ chế, chế
biến thực phẩm tươi sống riêng và thực phẩm đã qua chế biến riêng.
- Khu thực phẩm chín phải đảm bảo vệ sinh; thức ăn ngay, thực phẩm chín phải
bày trên bàn ăn hoặc giá cao cách mặt đất ít nhất 60cm; có đủ trang bị và ccs vật dụng
khác để phòng, chống bui bẩn, ruồi rán và côn trùng gây bệnh, có đủ dụng cụ bảo đảm
vệ sinh để kẹp,gắp, xúc thức ăn khi chia thức ăn chín. Có đủ dụng cụ đựng thức ăn dụng
cụ ăn uống đảm bảo sạch sẽ, thực hiện chế độ vệ sinh hằng ngày; trang bị găng tay sạch
sử dụng một lần khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn.
- Có tủ lạnh để cất giữ thực phẩm và lưu mẫu thức ăn cho trẻ ăn bán trú.
- Có đủ nước sạc để suwr dụng, chất lượng nước phải được cơ quan y tế kiểm
định. Dụng cụ chứa nước đảm bảo sạch, không thôi các chấy gây độc và định kì thau
rửa.
2. Yêu cầu về nhân viên nhà bếp
- Có kiến thức về nấu ăn và vệ sinh an toàn thuwcjphaamr.
- Khỏe mạnh – không mắc bệnh truyền nhiễm, được khám sức khỏe định kì.
- Thường xuyên mặc quần áo công tác khi đi làm. Không để móng tay dài. Không
ăn uống hút thuốc khi làm việc, không khạc nhổ trong khu vực nấu ăn.
- Thực hiện rửa tay theo quy định:
+ Rửa tay sau khi ăn: Đi vệ sinh, tiếp xúc với thực phẩm sống, chạm tay vào
thùng rác, sau mỗi lần nghỉ….
2. Giao nhạn thực phẩm
`
Khi giao nhận thực phẩm hằng ngày, phải có sổ ghi chép về tình trạng thực phẩm
( chất lượng, số lượng)
- Khi nhận thực phẩm ngoài nhân viên nhà bếp, phải có đại diện của trường cùng
kiểm tra chất lượng thực phẩm.( Ban giám hiệu, giáo viên hoặc ban đại diện cha mẹ học
sinh….)
- Mặc dù có hợp dodpnhf cun cấp thực phẩm nhưng người tiếp nhận thực phẩm
tại trường mầm non phải có trách nhiệm và phái kiến thức có thể nhận biết được các
thực phẩm tươi sachjhoawcj không đảm bảo về vệ sinh an toàn.
3. Sơ chế và chế biến thực phẩm
3.1 Sơ chế thực phẩm
* Sơ chế thực sống
- Khi đã có thực phẩm tươi, phải sơ chế và cho chế biến ngayy.
- Sơ chế trên bàn hoặc kệ, tránh để thực phẩm xuống đất hoặc sát đất.
- Lựa chọn phần ăn được, loại bỏ các vật lạ lẫn vào thực phẩm như sạn, xương,
kim loại, thủy tinh, lông, tóc ….
- Các lọa thực phẩm đông lanhjphair làm tan băng giá hoàn toàn và rửa sạch trước
khi chế biến, nấu nướng ( nên hạn chế tối đa dùng thực phẩm đông lạnh)
- Rau phải rửa kĩ dưới vòi nước chảy hoặc rửa 3 lần trở lên. Nếu lượng rau nhiều
phải chia thành nhỏ ra rửa làm nhiều đợt. Sau đó nên ngâm khoảng 30 phút rồi rưa lại
một lần nữa
- Đối với các loại quả phải rửa sạch, gọt vỏ trước khi sử dụng
* Để riêng thuwcjphaamr sống và chín
Trong thực phẩm sống đặc biệt là thịt, gia cầm và hải sản có thể chứa các vi sinh
vật nguy hại, chúng có thể truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và bảo
quản. Vì vậy:
Chế biến thực phẩm phù hợp với đặc điểm sinh lý và khả năng tiêu hóa của
trẻ như: Cơm mềm dẻo, thức ăn chín tới, thơm, ngon, nóng hấp dẫn cả mùi vị và màu
sắc, thực phẩm thái chín nhỏ và vừa ăn với trẻ.
Luôn thay đổi cách chế biến món ăn: Cùng một loại thực phẩm có thể kho hoặc
rim, chưng, hấp, xào, ninh, hầm, rán….đặc biệt lưu ý đến khẩu vị của trẻ ăn hết suất.
* Lưu ý trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ
- Dùng nước sạch, an toàn để chế biến thức ăn, đồ uống và rửa dụng cụ
+ Sử dụng nước máy, nước giếng, nước mưa, sông suối…. đac qua xử lý hoặc
lắng lọc.
+ Nước phải trong không màu không mùi, không vị lạ. Nếu nguồn nước có nghi
ngờ nên đề nghị cơ quan y tế kiểm tra.
- Đun, nấu kĩ
+ Khi đun kĩ thực phẩm, mọi phần của thực phẩm đều nóng và nhiệt độ trung tâm
70 độ C sẽ tiêu diệt hầu hết các vi sinh vật nguy hại, đảm bảo an toàn cho người tiêu
dùng. Đặc biệt chú ý các thực phẩm như thịt băm, thịt quay, hỗn hợp nhiều loại thịt và
gia cầm nguyên con.
+ Đun, nấu kĩ thực phẩm, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.
+ Các món chế biến như súp hầm … phải đun sôi sao cho nhiệt độ ở trung tâm
miếng thịt phải đạt 70 độ C. Đối với thịt và gia cầm, sau khi nấu phải đảm bảo nước
trong miếng thịt trong và không màu hồng.
+ Dùng nước đã đun sôi ddeere uống hoặc pha chế nước giải khát, làm kem, nước
đá.
- Lưu ý khi sử dụng dầu ăn, mỡ
+ Dầu ăn, mỡ phải được để trong dụng cụ có nắp đậy kin, tránh tiếp xúc với
không khí. Tránh để dầu ăn, mỡ ở nhiệt độ cao, nhiều ánh sáng.
+ Không đựng dầu ăn, mỡ trong các đồ đựng bằng đồng, gang, sắt tây nên đựng
cả nhóm, lớp.
+ Mỗi trẻ có khăn mặt riêng và kí hiệu riêng
+ Đủ ca, cốc, thìa bát sạch ( ca,cốc không sứt mẻ)
- Bình nước đậy có nắp đậy sạch sẽ, không có cặn bẩn. Cốc uống nước sạch: vệ
sinh ca, cốc hàng ngày.
- Khăn mặt của trẻ sạch không hôi mốc. Khăn đước giặt hàng ngày bằng xà
phòng và phơi ra khô.
-Nhà vệ sinh sạch ( không có ruồi nhặng, không ó mùi hôi, khai ), cống rãnh khô,
thoát nước, vệ sinh xung quanh lớp sạch sẽ.
2. Yêu cầu nhiệm vụ của giáo viên
- Giáo viên phải thường xuyên mặc quần áo công tác khi làm việc. Móng tay cắt
ngắn, đầu tóc gọn gàng. Hiện tại không mắc bệnh lây nhiễm nếu mắc bệnh truyền nhiễm
thì tạm thời nghỉ việc hoặc bố trí làm các công việc khác để không tiếp xúc với trẻ
phòng sự lây bệnh.
Thường xuyên rửa sạch tay bằng xà phòng trước khi chia thức ăn cho trẻ, sau khi
đi vệ sinh. Thường xuyên đeo khẩu trang đội mũ khi chia thức ăn cho trẻ.
- Thức ăn được che đậy cẩn thận trước và sau khi chia về lớp. Chia thức ăn bằng
dụng cụ , không bốc thức ăn khi chia. Cho trẻ ăn ngay sau khi chia. Không cho trẻ ăn
thức ăn đã qua 2 giờ kể từ khi nấu xong.
- Thường xuyên rửa tay cho trẻ bằng xà phòng ( nhóm bé ). Đối với nhóm lớn khi
trẻ tự rửa phải có sự giám sát của giáo viên tại các thời điểm trước khi ăn., sau khi đi vệ
sinh và khi tay bẩn.
- Luôn chăm sóc, nhắc nhở trẻ giữ gìn vệ sinh thân thể quần áo trẻ sạch sẽ, không
có mùi hôi khai.
- Vệ sinh sạch sẽ sau khi ăn ( rửa mặt, lau mineengj, lau tay )
- Phát hiện được các cháu nghi ngờ bị ngộ độc thực phẩm, biết cách xử lí và có
ghi chép.
Giáo dục, nhắc nhở trẻ về nội dung phòng tránh ngộ độc do ăn uống ( ăn chín,
- Trẻ 8 – 9 tháng tuổi trở lên cần tập cho uống nước bằng cốc, chén, dần dần trẻ tự
bưng cốc uống.
2. Đối với trẻ ăn cơm lát cơm thường.
- Kê bàn và ghế cho trẻ và lau bàn bằng khăn ẩm.
- Chuẩn bị đủ bát, thìa ( nên chuẩn bị dư vài cái so với số trẻ hiện có ) khăn mặt
sạch và ẩm để vào đĩa đặt trên bàn.
- Chia dư thêm một suất ăn ( phòng khi ăn hết xuất trẻ còn muốn ăn thêm hoặc trẻ
đánh đổ cơm hay thức ăn )
- Cho trẻ đi vệ sinh, lau mặt, lau tay và đeo yếm ăn…. Nếu trẻ còn ngủ thì trẻ nào
dạy và tỉnh táo thì cho ăn trước, không đánh thức đồng loạt.
* Trong khi ăn:
- Xếp trẻ chưa xúc thạo ngồi riêng bàn để tiện chăm sóc, mỗi bàn 4-6 trẻ. Bàn nào
chuẩn bị xong thì cho ăn trước, không để trẻ ngồi đợi lâu quá 10 phút hoặc đợi nhau ăm
đồng loạt.
- Nên chia món mặn vào bát của trẻ rồi xới cơm vào bát và trộn đều cho trẻ ăn,
sau đó chan canh.
* Sau khi ăn:
Hướng dẫn hoặc nhắc nhở trẻ lau miệng và lau tay. Tập cho trẻ tự bưng cốc, uống
nước, hướng dẫn trẻ uống từ từ, từng ngụm để không sặc hoặc làm đổ, ướt áo.
- Nhắc nhở trẻ không đùa nhiều hoặc chạy nhảy mạnh sau khi ăn
3. Một số điểm cần lưu ý về chế độ ăn, chăm sóc ăn dối với trẻ nhà trẻ.
- Cho trẻ ăn chuyển dần từ thức ăn nghiền - > mềm - > thức ăn miếng. Sau đó cho
trẻ ăn chung với gia đình.
- Thời điểm chuyển từ chế độ ăn bột sang chế độ cháo hoặc từ cháo sang cơm nát,
cơm thường tùy thuộc vào từng trẻ. Những trẻ quá yếu hoặc phát triển chậm so với độ
tuổi, có thể chuyển chế độ ăn chậm hơn một vài tháng. Ngược lại có những trẻ có thể
chuyển chế dộ ăn sớm hơn so với độ tuổi. Những trẻ bị mệt hoặc đầy bụng, nên cho trẻ
ăn nhẹ như cháo, mì … và không nhất thiết phải ép trẻ ăn cơm.
* Sau khi ăn: Hướng dẫn trẻ xếp bát, thìa ghế vào nơi quy định, uông nước, lau
miệng, lau tay sau khi ăn, đi vệ sinh( nếu trẻ có nhu cầu)
BÀI 6: PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
VÀ THỪA CÂN BÉO PHÌ CHO TRẺ EM MẦM NON.
Số tiết: 4 tiết. Tiết 15+16+17+18
Học ngày: 26/11/2016
I: PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
1. Khái niệm
- Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không cung cấp đầy đủ năng lượng và protein
cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Suy dinh dưỡng
làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động cho trẻ.
2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng.
- Do dinh dưỡng: Nuôi trẻ không đúng phương pháp khi mẹ thiếu hoặc mất sữa,
cho trẻ ăn không đúng cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân quan trọng nhất hay
gặp là do bà mẹ thiếu kiến thức khoa học về dinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm
con.