1
2
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CTNY còn hạn chế mặc dù vấn đề này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ
các nhà quản lý doanh nghiệp, người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư và các cơ
quan quản lý. Thêm vào đó, những hạn chế của bản thân hệ thống kế toán Việt
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian gần đây, gian lận báo cáo tài chính (BCTC) ngày càng trở thành
một vấn đề nghiêm trọng cho Chính phủ, CTNY và các nhà đầu tư, đe dọa làm
mất đi niềm tin của thị trường tài chính, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho các công ty rơi vào tình
trạng tài chính cạn kiệt, kéo theo sự gia tăng không ngừng số lượng doanh
nghiệp bị phá sản và trở thành động cơ cho các hành vi gian lận BCTC ngày
càng tăng. Điều đó đã đặt ra nhu cầu bức thiết phải tăng cường quản lý và
kiểm soát tốt hành vi gian lận BTCT của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ có thể thống kê được những thiệt
hại do hành vi gian lận trên BCTC gây ra trực tiếp về mặt kinh tế mà không
thể đo lường được hết những thiệt hại vô hình không được biểu hiện bằng con
số cụ thể như niềm tin và việc tác động xấu đến TTCK, bởi không phải tất cả
những gian lận trên BCTC đều bị phát hiện. Theo ACFE (2014), chỉ có
khoảng 3% trong tổng số các cuộc gian lận tài chính bị phát hiện tại các tập
đoàn kinh tế trên thế giới 2014. Mặt khác, các kết quả kiểm toán chỉ có thể
cho biết có xảy ra hiện tượng gian lận BCTC hay không nhưng lại không chỉ
ra được nguyên nhân dẫn đến hành vi gian lận BCTC. Vì thế, việc nghiên
cứu các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC sẽ làm cơ sở giúp cho
các nhà quản lý trong việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty, đồng thời
không phải là đối tượng và mục tiêu nghiên cứu chính mà chỉ là một phần
nhỏ trong nghiên cứu, do đó các nghiên cứu về nhân tố tác động đến hành vi
gian lận BCTC chưa được hệ thống đầy đủ và cũng chưa lượng hóa được mức
độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến hành vi gian lận báo cáo chính (Ngô
Thị Thu Hà, 2007; Hà Hồng Hạnh, 2012; Nguyễn Thị Phương, 2012).
Về mô hình nghiên cứu, để phát hiện hành vi gian lận BCTC, các nghiên
cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994), Healy (1985) và Jones (1991) sử
dụng mô hình dồn tích có điều chỉnh (Discretionary accruals models). Ngoài
ra có thể kể đến mô hình F-score của Dechow và các cộng sự (2011). Mô
hình này cũng được phát triển dựa trên M-score của Beneish, bổ sung các
biến số phi tài chínhvà dữ liệu thị trường ngoài các biến số từ BCTC. Tại Việt
3
4
Nam, có một số nghiên sử dụng mô hình dồn tích như gồm có: Nguyễn Thị
Uyên Phương (2014), Phan Thị Thùy Dương (2015). Sử dụng kỹ thuật thống
kê tiêu biểu gồm nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2013) và nghiên cứu
của Nguyễn Trần Nguyên Trân, 2014 và Hoàng Khánh & Trần Thị Thu Hiền,
2015 áp dụng mô hình Beneish dự đoán sai sót trọng yếu trong BCTC (Phụ
lục 2.2). Hạn chế của các nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở mức độ ứng dụng
mô hình có sẵn, chưa có những thay đổi phù hợp với thị trường chứng khoán
Việt Nam
Câu 3: Mức độ tác động của các nhóm nhân tố động cơ/áp lực, cơ hội và
thái độ đến hành vi gian lận BCTC tại các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện
nay như thế nào?
Câu 4: Các khuyến nghị nhằm kiểm soát tối đa hành vi gian lận BCTC
vi gian lận BCTC tại các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới
góc nhìn của KTV độc lập thuộc các công ty kiểm toán được chấp thuận.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi gian lận
BCTC dựa trên mô hình tam giác gian lận với cơ sở hướng dẫn của chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) và các dấu hiệu đỏ trong mô
hình bàn cân gian lận về khía cạnh quản lý thực tiễn. Nghiên cứu này lựa
chọn các Công ty Cổ phần phi tài chính trên TTCK Việt Nam.
1.5. Các đóng góp mới của luận án
1. Xác định được các cơ sở lý thuyết nghiên cứu phù hợp với bối cảnh thị
trường chứng khoán Việt Nam về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận
BCTC của các CTNY.
2. Thông qua việc phỏng vấn các chuyên gia trong các lĩnh vực thị trường
chứng khoán, tài chính, kiểm toán, tác giả đã phát triển mới 10 tiêu chí đo lường
3 biến độc lập thuộc nhóm nhân tố cơ hội bao gồm Môi trường pháp lý, Môi
trường kinh tế vĩ mô và Kiểm soát của Nhà nước đối với hành vi gian lận BCTC)
cho phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.
3. Xây dựng và kiểm định được mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động
đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Kết quả kiểm định thông qua việc khảo sát 485 KTV cho thấy: trong 12
biến độc lập mang ý nghĩa thống kê giải thích nguyên nhân xảy ra hành vi gian
lận BCTC của các CTNY thì có 8 biến mang dấu dương, chứng tỏ tồn tại mối
quan hệ thuận chiều giữa các biến này đến biến phụ thuộc là hành vi gian lận
BCTC. 4 biến còn lại là Đặc tính của HĐQT, Kiểm soát của Nhà nước, Kiểm
toán độc lập và Trình độ chuyên môn của BGĐ có mức tương quan âm đến
5
6
NC ñịnh lượng
(Khảo sát)
4. ðề xuất các khuyến nghị.
Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án
1.7. Kết cấu của Luận án
Luận án được chia thành 5 chương có kết cấu chặt chẽ với nhau. Bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi gian lận báo cáo tài chính công ty niêm
yết và các nhân tố ảnh hưởng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị.
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
2.1. Khái quát về gian lận báo cáo tài chính
2.1.1. Khái niệm gian lận và gian lận báo cáo tài chính
2.1.1.1. Khái niệm gian lận
Trên thế giới, Edwin H. Sutherland - nhà nghiên cứu về tội phạm người Mỹ
là người đã khai sinh ra thuật ngữ “white - collar crime”, để ám chỉ tới hành vi
gian lận do những nhà quản trị cao cấp của công ty gây ra nhằm lường gạt công
chúng. Các nghiên cứu sau này đều sử dụng thuật ngữ này để thay thế cho thuật
ngữ gian lận thông thường.
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu đến
hành vi gian lận dựa trên cơ sở hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
240 ( VSA 240). Theo VSA 240, “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều
người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ 3 thực hiện
2.1.2. Các hình thức gian lận báo cáo tài chính.
Kết quả nghiên cứu của COSO (2010), Ngô Thị Thu Hà (2007), ACFE
(2012), Nguyễn Thị Hương Giang (2013), Lê Nguyễn Thế Cường (2013) đều cho
thấy khai khống lợi nhuận/tài sản là hình thức phổ biến trong các hành vi gian lận
BCTC của các CTNY. Vì thế, Luận án tập trung nghiên cứu về hành vi gian lận
BCTC phổ biến là hành vi khai khống lợi nhuận/tài sản.
Đối cơ quan thuế và các cơ quan liên quan: làm giảm số thuế phải nộp gây
thất thoát thuế và làm giảm thu ngân sách, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và
thịnh vượng của quốc gia.
2.1.3. Động cơ thực hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính.
Trong luận án này, tác giả khái quát một số động cơ thực hiện hành vi gian
lận BCTC phổ biến đó là: sự ổn định tài chính, áp lực từ bên thứ ba và mục tiêu
tài chính.
2.1.4. Tác hại của hành vi gian lận báo cáo tài chính
Đối với CTNY. Nếu các CTNY có hành vi gian lận BCTC bị phát hiện sẽ
phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng khác như bị phá sản, uy tín của
CTNY bị giảm sút nghiêm trọng.
Đối với nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn được quan tâm nhiều nhất. Khi
báo cáo tài chính sai lệch có chủ đích sẽ dẫn việc nhà đầu tư kỳ vọng quá cao
hoặc quá thấp vào doanh nghiệp niêm yết, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh
lời của vốn thậm chí làm mất vốn bỏ ra.
Đối với người cho vay đặc biệt là các tổ chức tín dụng như ngân hàng sẽ
gặp rủi ro khi cho vay các doanh nghiệp có hành vi gian lận báo cáo tài chính.
Trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ dẫn đến tình trạng
nợ xấu tồn đọng trong các ngân hàng, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng
nói chung, làm giảm tăng trưởng kinh tế quốc gia.
2.1.5. Một số vấn đề chung về thị trường chứng khoán và công ty niêm
10
2.2. Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi gian lận báo cáo tài
chính của công ty niêm yết
Lịch sử phát triển của các công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi gian
lận thông qua các lý thuyết nền tảng sau:
CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HÀNH VI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng
- Lý thuyết đại diện
- Lý thuyết bàn cân gian lận dựa trên các dấu hiệu đỏ
- Lý thuyết tam giác gian lận
2.3. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận
báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết.
Ngoài việc tổng quan các công trình nghiên cứu về chủ đề gian lận BCTC,
luận án tập trung tổng kết những nghiên cứu liên quan về các nhân tố tác động
đến hành vi gian lận BCTC được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau. Theo
đó, các nhóm nhân tố bao gồm:
2.3.1.Nhóm nhân tố về động cơ/áp lực
- Sự ổn định tài chính
- Áp lực từ bên thứ 3
- Mục tiêu tài chính
2.3.2.Nhóm nhân tố về cơ hội
- Đặc điểm BCTC và ngành nghề hoạt động của CTNY
- Chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ
Dựa trên mô hình nghiên cứu, giả thuyết thiết lập như sau:
H: Các nhân tố áp lực/động cơ (ĐCAL), cơ hội (CH), thái độ (TĐ) của nhà
quản lý có tác động tới gian lận trong lập BCTC của các CTPTCNY trên TTCK
Việt Nam.
Các nhân tố được lựa chọn khảo sát bao gồm 15 nhân tố (3nhân tố áp
lực/động cơ, 8 nhân tố cơ hội, 4 nhân tố thái độ của nhà quản lý). Các nhân tố
này được đánh giá có tính phổ biến và quan trọng thông qua kết quả của tổng
quan nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, kết quả phỏng vấn sâu các chuyên
gia trong lĩnh vực chứng khoán – tài chính - kế toán có nhiều kinh nghiệm tại
Việt Nam.
11
Sự ổn định tài chính (H1)
12
(chiếm 74,62%). Phiếu phản hồi có độ tin cậy cao và thể hiện đối tượng khảo sát
có ý thức trả lời cũng như hiểu sâu về các câu hỏi trong phiếu khảo sát. Sau đó,
khai báo và nhập dữ liệu trên phần mềm SPSS. Kiểm định độ tin cậy của thang đo
đối với các biến nhân tố bằng chỉ số Cronbach Alpha. Cuối cùng đánh giá kết quả
thống kê mô tả.
Nhân tố về
động cơ/áp
lực
Áp lực từ bên thứ 3 (H2)
Mục tiêu tài chính (H3)
Đặc điểm BCTC, ngành nghề
luật của BGĐ (H14)
Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phàn mềm xử lý SPSS
22 để loại bỏ tiêu chí quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn.
Bước 4: Phân tích tương quan: Phân tích tương quan cho biết giữa các biến
nghiên cứu trong mô hình có quan hệ với nhau hay không. Nếu hệ số tương quan
bằng không thì có thể xem các biến là độc lập với nhau, hệ số tương quan khác
không có thể xem các biến có mối quan hệ với nhau.
Kiểm toán độc lập (H10)
Trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của BGĐ (H13)
Bước 2: Kiểm định độ tin cậy thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên
cứu được thực hiện bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và hệ số
tương quan biến tổng.
Nhân tố về
thái độ
Thái độ, tính chuyên nghiệp
của BGĐ (H15)
Sơ đồ 4.1: Mô hình nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu (đối tượng khảo sát được lựa chọn) để gửi phiếu khảo sát
là các Kiểm toán viên độc lập.
Thu thập dữ liệu: Tổng số phiếu khảo sát tác giả đã phát ra là 650 phiếu,
dưới 2 hình thức sau: Gửi phiếu khảo sát qua mail và gửi trực tiếp phiếu khảo sát
tới đối tượng khảo sát. Tổng số phiếu khảo sát thu hồi được là 485 phiếu hợp lệ
Các hoạt động kiểm tra, giám sát và Mức độ thay đổi chính sách thuế vì có hệ số
tương quan thấp
4.1. Kết quả thông tin nhân khẩu học của đối tượng khảo sát
Số lượng các đối tượng khảo sát trung bình trên 5 năm kinh nghiệm
chiếm tỷ lệ lớn hơn 90% và số lượng KTV có kinh nghiệm trong việc phát
hiện gian lận chiếm 76,7% thì việc khảo sát các KTV này để đưa ra nhận định
về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC tại
các CTNY trên TTCK Việt Nam là đáng tin cậy cho kết quả nghiên cứu của
Luận án.
4.2. Kết quả nghiên cứu về hành vi gian lận báo cáo tài chính của các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
4.2.1. Kết quả thống kê mô tả
Đối với hình thức thực hiện hành vi gian lận BCTC, hình thức khai khống
lợi nhuận/tài sản chiếm giá trị trung bình cao nhất là 2,91 điểm so với hai hình
thức thực hiện gian lận BCTC còn lại. Trong đó, hình thức điều hòa lợi nhuận/tài
sản là 2,85 điểm và hình thức gian lận ít phổ biến trong lập BCTC là khai giảm
lợi nhuận/tài sản (2,74 điểm).
Đối với nhân tố hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên thị trường
chứng khoán Việt Nam về tiêu chí đánh giá. Kết quả khảo sát cho thấy tiêu chí
dùng để đánh giá hành vi gian lận BCTC của các CTNY thường dựa theo tiêu chí
Hình thức thực hiện tinh vi, khó phát hiện là phổ biến (4,48 điểm), tiếp đến là tiêu
chí Quy mô thực hiện hành vi gian lận BCTC (4,71 điểm) và cuối cùng là tiêu
chí Tần suất thực hiện hành vi gian lận (4,17 điểm).
4.2.2. Đánh giá độ tin cậy của các thang đo
Theo kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo, các chỉ số Cronbach’s
Alpha đều lớn hơn 0,8 chứng tỏ các thang đo đều đảm bảo độ tin cậy đo lường
tính phổ biến của các hình thức, cách thức và khoản mục dễ bị gian lận trong lập
BCTC, các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC của các CTNT trên
TTCK Việt Nam.
Biến độc lập là 15 nhân tố tác động nêu trên. Kết quả của phần phân tích này là
cơ sở cho phân tích hồi quy. Đồng thời, việc phân tích tương quan còn làm cơ sở
để dò tìm hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu. Nếu hệ số tương
quan bằng 0 thì có thể xem các biến là độc lập với nhau, hệ số tương quan khác 0
thì có thể xem các biến phân tích có mối quan hệ với nhau. Kết quả nghiên cứu về
mối quan hệ tương quan giữa các biến thu được như sau:
Dựa vào kết quả phân tích cho thấy, giá trị P-value tương ứng của từng biến
độc lập với biến phụ thuộc là hành vi gian lận BCTC của các CTNY đều có giá trị
nhỏ hơn mức ý nghĩa 0,05 và hệ số tương quan Pearson khác 0 chứng tỏ giữa các
biến độc lập và biến phụ thuộc có mối tương quan với nhau.
4.3.5. Kết quả phân tích hồi quy đa biến
Phân tích hồi qui nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK tại Việt Nam. Do hệ số tương
quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc là khá chặt chẽ nên trước khi
thực hiện phân tích hồi quy cần kiểm tra đa cộng tuyến. Hiện tượng đa cộng
tuyến (Multicollinearity) là hiện tượng các biến độc lập có quan hệ gần như
tuyến tính. Việc bỏ qua hiện tượng đa cộng tuyến làm các sai số chuẩn thường
cao hơn, giá trị thống kê thấp hơn và có thể không có ý nghĩa. Để kiểm tra hiện
tượng này, ta sử dụng thước đo độ phóng đại phương sai (Variance Inflation
Factor - VIF) để kiểm định hiện tượng tương quan giữa các biến độc lập. Điều
kiện là VIF < 2 để không có hiện tượng đa cộng tuyến Nguyễn Đình Thọ
(2013), (Đinh Phi Hổ, 2014).
Kết quả tại cho thấy VIF của các biến đưa vào mô hình là rất thấp, đều nhỏ
hơn 2. Vì vậy, hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra giữa các biến này.
Mức độ giải thích của mô hình
Để đánh giá sự phù hợp của mô hình, chúng ta căn cứ vào giá trị F-statistic
và Adjusted R2
b
chỉnh cho biết mức độ (%) sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi
biến độc lập. Trong trường hợp này, có thể nói sự biến động của biến phụ thuộc
(hành vi gian lận BCTC) do tác động bởi các biến độc lập là 56%. Ngoài ra, hệ số
Durbin –Watson = 1,972 gần bằng 2 cho thấy không có hiện tượng tự tương quan.
Mức độ phù hợp của mô hình.
Mục tiêu của kiểm định này nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa các
biến độc lập với biến phụ thuộc hay không. Mô hình được xem là không phù hợp
khi tất cả các hệ số hồi quy đều bằng không, và mô hình được xem là phù hợp
khi có ít nhất một hệ số hồi quy khác không. Phân tích phương sai (Analysis of
Variance - ANOVA) được sử dụng để kiểm định mức độ phù hợp của mô hình.
Nếu mức ý nghĩa đảm bảo có độ tin cậy ít nhất 95% (Sig. < 0,05), mô hình được
xem là phù hợp (Nguyễn Đình Thọ, 2013), (Đinh Phi Hổ, 2014).
ANOVAa
Model
1
Sum of Squares
df
Mean Square
F
Sig.
Regression
29,265
17
18
Kết quả phân tích hồi quy ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi gian lận
BCTC của các CTNY trên TTCK VN
Hệ số hồi quy (Coefflcientsa)
Tác giả tiến hành kiểm định để đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi
gian lận gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam thông qua đánh giá
mức ý nghĩa của hệ số hồi quy βi với cặp giả thiết:
H0: βi = 0
H1: βi ≠ 0
Kết quả kiểm định cho thấy có ý nghĩa với hệ số hồi quy của 3 nhóm nhân tố
này nên có thể bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1 tức là các nhân tố thuộc
các nhóm nhân tố về động cơ/áp lực và cơ hội, thái độ này thực sự có tác động đến
hành vi gian lận gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Cụ thể như
sau:
Dựa vào bảng 4.1 ta thấy, có 12 biến có ý nghĩa thống kê tác động đến hành
vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Trong đó, có 8 biến độc
lập có quan hệ thuận chiều với biến phụ thuộc. Đó là cả 3 nhân tố của nhóm nhân
tố động cơ/áp lực: sự ổn định tài chính, áp lực từ bên thứ 3, mục tiêu tài chính, hệ
số beta của các nhân tố này cho thấy: áp lực đến từ các nhân tố này càng cao thì
khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam
càng lớn. Tiếp đến là 3 nhân tố thuộc nhóm nhân tố về thái độ cũng có mối quan hệ
thuận chiều với hành vi gian lận BCTC và có ý nghĩa thống kê, cho thấy sự vi
phạm về thái độ của BGĐ càng cao thì khả năng xảy ra hành vi gian lận BCTC của
các CTNY trên TTCK Việt Nam càng nhiều. Cuối cùng là 2 nhân tố thuộc nhóm
nhân tố về cơ hội cũng có mối quan hệ thuận chiều với hành vi gian lận BCTC: đặc
điểm BCTC và ngành nghề hoạt động của CTNY, môi trường pháp lý.
CN
Hệ số chưa
chuẩn hóa
Hệ số
chuẩn
hóa
Correlations
t
Sig
B
Sai số
chuẩn
2,682
,118
22,810 ,000
,038
,038
,035
,034
,012
,100 2,959 ,003 ,292
,033
,898 ,370 ,247
,063 1,736 ,083 ,270
-,147 -4,213 ,000 -,383
,136 3,877 ,000 ,401
,013
,409 ,683 ,106
-,118 -3,271 ,001 -,374
-,205 -5,473 ,000 -,465
,156 4,713 ,000 ,305
-,125 -3,916 ,000 -,222
,126 3,752 ,000 ,322
,114 3,376 ,001 ,375
a. Dependent Variable: GL
Thống kê đa
cộng tuyến
Zero Partial Part Tolerance VIF
oder
Beta
,145
,153
,146
,135
,041
,080
,669
,691
,745
,736
,948
,693
,651
,826
,894
,811
,794
1,280
1,229
1,205
1,253
1,495
1,447
1,341
1,359
1,055
1,442
1,537
1,210
1,119
1,234
1,259
Nguồn: kết quả phân tích từ phần mềm SPSS
Các hệ số trong mô hình hồi quy và mức ý nghĩa p-value là những thông số
Nhóm nhân tố về Động cơ/ áp lực là nhóm nhân tố có các biến đều tác động
thuận chiều tới hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Trong
đó, áp lực đối với BGĐ để đạt được các mục tiêu tài chính của BQT đặt ra; áp lực từ
việc hoàn thành thủ tục yêu cầu niêm yết trên TTCK; lỗ từ hoạt động kinh doanh đe
dọa khả năng phá sản hoặc hủy niêm yết trên TTCK; tỷ suất lợi nhuận hay kỳ vọng
của bên thứ ba, BGĐ quá lạc quan về thông tin trong báo cáo thường niên, đã tạo ra
động cơ khiến các CTNY thực hiện hành vi gian lận BCTC.
Điều này được giải thích bởi đặc điểm của TTCK Việt Nam, một thị trường
còn nhiều bất cập, rủi ro và còn non trẻ, nhà đầu tư phần lớn là đầu tư ngắn hạn,
chỉ quan tâm đến những CTNYcó mức sinh lời nhanh, thiếu các tổ chức tạo lập
thị trường. Hơn nữa, nhiều nhà đầu tư Việt Nam khi tham gia vào thị trường thiếu
sự am hiểu cơ bản cần thiết, thiếu tính phân tích và dự đoán, thường đầu tư theo
yếu tố tâm lý và bị ảnh hưởng bởi cảm tính. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả
Nguyễn Hồng Việt Thành và cộng sự (2013) về tâm lý của các nhà đầu tư Việt
Nam thì “các nhà đầu tư Việt Nam có tâm lý đầu tư bầy đàn, tâm lý đầu tư theo
phong trào, thiếu kiến thức, thiếu kỳ vọng riêng”. Do thiếu sự chuyên nghiệp và
thiếu kiến thức nên hầu hết các nhà đầu tư đôi khi chỉ quan tâm những công ty có
lợi nhuận cao và liên tục, điều này khiến các CTNY gặp áp lực trong việc duy trì
mức lợi nhuận cao và ổn định để giữ chân hoặc thu hút nhà đầu tư mới. Với
những đặc điểm như vậy, rõ ràng cả phía cơ quan quản lý và bên đầu tư đều cần
phải có những giải pháp bền vững nhằm chung tay xây dựng một TTCK đúng
nghĩa, hiện đại và hiệu quả.
Mặc khác, với thực trạng TTCK của Việt Nam hiện nay, các CTNY huy
động vốn vẫn chủ yếu là từ kênh ngân hàng. Thị trường chứng khoán cần được
cải thiện từng bước nhằm hướng tới việc xây dựng một thị trường vững mạnh,
như vậy, áp lực trong mâu thuẫn của quan hệ đại diện giữa chủ nợ - nhà quản lý
5.1.2. Nhóm nhân tố về Thái độ
Tiếp theo, nhóm nhân tố thứ hai tác động phổ biến tới gian lận trong lập
BCTC là nhóm nhân tố về Thái độ (BGĐ cố tình can thiệp vào chính sách kế toán
năng xảy ra hành vi gian lận BCTC càng nhiều.
Việt nam hiện nay thường là nhỏ, mang nhiều yếu tố gia đình do đó nhu cầu thực
sự cho việc thiết lập và duy trì kiểm soát nội bộ nhiều khi không thực sự được quan
tâm. Mặt khác xây dựng và duy trì kiểm soát nội bộ sẽ làm tăng chi phí của CTNY.
Kết quả nghiên cứu của đề tài trùng với kết quả nghiên cứu của Albrecht và
Romney (1986), Heiman và cộng sự (1996), Bell và Carcello (2000), Apostolou và
cộng sự (2001), Graham và Bedard (2003), Moyes và cộng sự (2005), Mock và cộng
sự (2005), Moyes (2007), Gullkvist và Jokoppi (2012) và Albullatif (2013), Trần Thị
Giang Tân và cộng sự (2014). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Luận án không
tương đồng với một số nghiên cứu Apostolou và cộng sự (2001), Gramling và Myres
(2003), Moyes và cộng sự (2005), Moyes (2007), Gulkvist và cộng sự (2012),
Albullatif (2013) cho rằng nhóm nhân tố thái độ của nhà quản lý phổ biến và tác động
lớn nhất tới hành vi gian lận BCTC so nhóm nhân tố cơ hội và áp lực.
5.1.3. Nhóm nhân tố về Cơ hội
Nhóm nhân tố về Cơ hội: Trong số 8 nhân tố thuộc nhóm nhân tố cơ hội thì
có 5 nhân tố mang ý nghĩa thống kê giải thích nguyên nhân các CTNY trên thị
trường chứng khoán Việt Nam thực hiện hành vi gian lận BCTC. Đó là: Nhân tố
“Đặc điểm BCTC và ngành nghề hoạt động của CTNY” (NN) có quan hệ thuận
chiều với hành vi gian lận BCTC của CTNY trên TTCK Việt Nam, có hệ số beta
= 0,100 và p-value = 0,003 < 0,05. Với kết quả này, Đặc điểm BCTC và ngành
nghề hoạt động của CTNY càng phức tạp thì khả năng thực hiện hành vi gian lận
BCTC của CTNY trên TTCK Việt Nam càng nhiều. Tại Việt Nam, các khoản
mục/nghiệp vụ trên BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán thường
phức tạp vì các khoản mục như hàng tồn kho và các khoản đầu tư tài chính... là
các khoản mục gặp khó khăn trong việc đánh giá tính trung thực, hợp lý. Điều
này, sẽ càng gây khó khăn cho KTV trong việc thu thập các bằng chứng thích
hợp, cũng như khả năng phát hiện gian lận của KTV, vì vậy dẫn đến các ý kiến
kiểm toán có thể không xác đáng, theo đó sẽ là cơ hội để các CTNY thực hiện
với các CTNY.
23
24
Các nhà đầu tư cần phải nâng cao trình độ, kiến thức để có thể có sự đánh
giá đầy đủ hơn về các thông tin trên BCTC, về quản trị công ty để có quyết sách
phù hợp trong việc ra quyết định đầu tư.
Nam như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu
tư nước ngoài,...
Thứ ba là, đối tượng khảo sát trong Luận án tập trung vào KTV độc lập.
Tuy nhiên, Luận án có thể mở rộng đối tượng khảo sát là cán bộ thanh tra thuế và
các chuyên gia điều tra gian lận.
5.2.4. Khuyến nghị đối với Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, Bộ
Tài chính và Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Thứ nhất là, tăng cường các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm trong
lập BCTC của các CTNY.
Thứ hai là, tăng cường các biện pháp kỷ luật đối CTKT vi phạm quy định về
kiểm toán BCTC của các CTNY.
Thứ ba là, cập nhật chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kế
toán quốc tế.
Thứ tư là, xây dựng lộ trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các thông
tư hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt các chuẩn mực kiểm toán cơ
bản trong đó bao gồm chuẩn mực kiểm toán VSA số 240.
Thứ năm là, đối với Hội KTV hành nghề Việt Nam bồi dưỡng và nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn đối với KTV về kiểm toán gian lận
nhận chính xác hơn về các hình thức gian lận BCTC.