Luận văn Thạc sĩ Sinh học: Xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------

NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN VÙNG SINH THÁI MÔI
TRƯỜNG ĐẤT PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN
NUÔI TÔM CÀNG XANH HUYỆN TAM NÔNG,
TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số : 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS-TSKH LÊ HUY BÁ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng biết ơn sâu sắc đến: GS – TSKH Lê Huy Bá là
người Thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin cảm ơn đến: Thầy, Cô của khoa Sinh; phòng Khoa Học Công Nghệ Sau Đại Học,
trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh cùng các Giáo sư Tiến Sĩ đã tạo điều kiện thuận
lợi giúp tôi học tập và trang bị kiến thức để hoàn thành đề tài. Sở Giáo Dục và Đào Tạo An Giang; Ban
Giám Hiệu cùng Thầy, Cô trường THPT Chuyên Thoại Ngọc Hầu đã động viên và tạo điều kiện tốt
nhất để tôi hoàn thành đề tài.. Các Phòng Ban và Uy Ban Nhân Dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp tài liệu, số liệu tham khảo quí báo, hữu ích để tôi thực hiện đề tài. Cuối
cùng tôi xin cảm ơn bạn bè cùng người thân của tôi.

của huyện Tam Nông, đặc biệt là tôm càng xanh trong hai năm qua đã đem lại lợi nhuận rất cao cho
người dân. Nhưng diện tích nuôi TCX còn ít, chưa phát triển trên toàn huyện, việc “ Xây dựng bản đồ
phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh Huyện Tam
Nông” lại rất cần thiết để phát triển quy mô trên toàn huyện một cách khoa học và bền vững đây cũng
là một trong những chiến lược phát triển của tỉnh Đồng Tháp nói chung, của huyện Tam Nông nói
riêng. Trong đó việc bố trí mô hình thuỷ sản phù hợp với địa hình đất đai từng vùng nhằm giúp cho
người dân có thể sống chung với lũ một cách căn cơ. Vì thế việc phân vùng đất sẽ giúp HTN tận dụng
sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản theo hướng bền vững.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI


Phân vùng sinh thái môi trường đất làm cơ sở khoa học và thực tiễn xác định khu vực cụ thể
canh tác, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, bảo tồn, lâm, ngư nghiệp trên địa bàn huyện Tam Nông tỉnh
Đồng Tháp một cách hợp lý và bền vững.
Xây dựng cơ sở, mục đích phân vùng sinh thái môi trường đất nuôi tôm càng xanh phục vụ định
hướng phát triển kinh tế xã hội và đồng thời thành phong trào mang tính phổ biến ở HTN, tỉnh Đồng
Tháp.
Phân cụ thể vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh
HTN.
Lên bản đồ các vùng sinh thái môi trường đất theo các tiêu chí thích hợp nuôi tôm càng xanh và
không thích hợp nuôi tôm càng xanh.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Khảo sát và lấy mẫu đất, nước trên địa bàn HTN.
Tìm hiểu về tình hình nuôi tôm càng xanh trên toàn huyện trong những năm qua.
Nghiên cứu về các đối tượng có liên quan đến việc phân vùng sinh thái môi trường đất với mục
đích phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng xanh, các loại bản đồ của huyện.
Thu thập, đánh giá các yếu tố tự nhiên, đặc điểm môi trường sinh thái trong mối tương quan đến
đất và nghề NTTS ở HTN.
Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên: Khí tượng, thủy văn, thổ nhưỡng và các điều kiện liên quan đến
việc nuôi TCX (chất lượng nguồn nước, đất đai, chế độ thủy văn, tính chất đất, hệ thực vật, nguồn thức

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Được thể hiện qua hình 1, gồm các phương pháp sau
5.1 Phương pháp luận


Phương pháp luận
Phương pháp cụ thể

Phương
pháp tổng
hợp
vàbiên

Phương
pháp
lấy mẫu

Điều tra
khảo sát
thực tế

Phân tích, xử lý
số liệu

Phương
pháp
phân
tích
mẫu


của từng
tiểu vùng
sinh thái

Hoàn thành
đề tài

Hình 1: Sơ đồ khối nghiên cứu Phân Vùng Sinh Thái môi trường Đất phục vụ quy hoạch phát
triển nuôi tôm càng xanh ở huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp Tỷ Lệ Bản Đồ 1/25.000
Dựa vào quan điểm sinh thái môi trường, có sự liên quan chặt chẻ giũa các yếu tố thành phần với nhau
trong đó đất là thành phần chủ đạo, trong quá trình nghiên cứu xác định sự tương quan giữa các thành
phần đất, nước, khôngkhí, sinh vật, con người..., yếu tố chủ đạo mang tính diễn thế đặc trưng của hệ
sinh thái.


Trong hệ sinh thái có nhiều phân hệ khác nhau, nhiệm vụ của chúng tôi là phân thành từng vùng
sinh thái với sự đặc trưng cho việc nuôi tôm càng xanh, phân định vùng, ranh giới vùng, xác định đặc
thù theo những chỉ tiêu đánh giá nhất định chủ yếu là sử dụng phân loại đất.
Quá trình nghiên cứu xây dựng phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát
triển nuôi tôm càng xanh ở HTN được thể hiện theo sơ đồ hình 1.
5.2. Phương pháp cụ thể
5.2.1. Phương pháp tổng hợp và biên hội tài liệu
Điều tra và biên hội số liệu, dữ liệu đã có ở các cơ sở ban ngành của huyện về các điều
kiện tự nhiên. Sử dụng phương pháp “Tiếp cận cập nhật thông tin dữ liệu”, phương pháp “Tổng hợp dữ
liệu” (sách “Phương pháp nghiên cứu khoa học” Lê Huy Bá, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Tp Hồ
Chí Minh, 2005). Phương pháp tập hợp, tổng hợp các tài liệu, số liệu có liên quan đến môi trường vùng
nuôi thủy sản; trong đó, bao gồm các điều kiện đất đai, chế độ và chất lượng nước, địa hình của HTN.
Dựa trên tổ hợp các đặc điểm phù hợp về đất đai, nguồn nước, … các vùng sinh thái nuôi trồng thủy
sản được xác lập. Phương pháp này được sử dụng kết hợp với phương pháp GIS. Các tài liệu này được
thu thập từ các báo cáo tổng kết về hiện trạng môi trường, quy hoạch tổng thể về nuôi trồng thủy sản

Kí hiệu

Fluvisols
-Orthi Eutric Fluvisols.

FLe.o

-Cambic Fluvisols.

FLc

Pf
Ps

-Thioni Umbic Fluvisols.

FLu.t

X
Xf

Acrisols
-Haplic Acrisols
- Ferric Acrisols

ACh
ACf

P


Fluvisols.
-Epi Protothioni Thionic
Fluvisols.
-Orthithioni Thionic
Fluvisols.
-Epi Orthithioni Thionic
Fluvisols.
-Endo Orthithioni Thionic
Fluvisols.
-Arenithioni Thionic
Fluvisols.

FLt.p
FLt.pep
FLt.o
FLt.oep
FLt.oen
FLt.a

Nguồn: Báo cáo tổng hợp Đồng Tháp Mười sau 10 năm khai thác và phát triển kinh tế – xã hội (1985 1995).
Điều tra, thu thập và hệ thống hoá các số liệu về hiện trạng môi trường đất huyện Tam Nông,
trên cơ sở kế thừa các đề tài nghiên cứu đã có trước đây.
Tất cả các dạng tài liệu đã được thu thập, điều tra, khảo sát khi thực hiện đề tài đều được tổ
chức nhập dữ liệu vào máy tính. Các dữ liệu về điều kiện kinh tế xã hội và các điều kiện môi trường tự
nhiên của huyện sẽ được phân tích, tổng hợp theo mục tiêu của đề tài, xử lý, tổng hợp dự liệu ấy phục
vụ việc xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái và các nội dung có liên quan đến đề tài.
Thu thập các bản đồ hành chánh, giao thông, thổ nhưỡng, sông suối của huyện nhằm phục vụ đề
tài. Qua phương pháp này và theo bản đồ đất với tỷ lệ 1:100.000 [24], Bảng 1: Phân loại đất đai HTN
(phân loại theo hệ thống FAO).
5.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa, lấy mẫu và phân tích mẫu

 Mẫu nước: Lấy mẫu nước cần thiết để đánh giá chất lượng môi trường nước tại các tiểu vùng, qua
đó đánh giá được chất lượng nước của từng tiểu vùng phục vụ cho việc nuôi tôm càng xanh.
Mỗi tiểu vùng lấy 2 mẫu nước, ta có 5 tiểu vùng, như vậy có 2 mẫu x 5 =10 mẫu nước được lấy
trên địa bàn HTN.
Lấy mẫu theo mặt cắt dọc, cách mặt nước 30 – 40 cm, miệng can đựng mẫu hướng về phía dòng
nước tới, tránh các chất rắn có kích thước lớn như rác, lá cây, xác chết sinh vật... Thể tích nước lấy là
0,5 lít, bảo quản mẫu trong thùng nhựa và giữ lạnh trong thùng đá.
Các chỉ tiêu phân tích: nhiệt độ; pH; Fe; Al.
Ngoài ra còn lấy 8 mẫu nước trong ao nuôi thuỷ sản, 28 mẫu nước trên sông, kênh rạch vào các
mùa khác nhau trong năm: Đầu mùa mưa, đầu mùa lũ, đỉnh lũ, mùa khô, phân bố mẫu tuỳ thuộc vào hệ
thống thuỷ văn và điều kiện canh tác (hình 2) [7]. Các chỉ tiêu phân tích mẫu nước này nhằm xác định
các chỉ số: Nhiệt độ

(0 C); pH; SS (mg/l); DO (mg/l); BOD5 (mg/l).

5.5. Phương pháp GIS
Đây là phương pháp kết hợp giữa dữ liệu thông tin địa lý được nối kết với các lớp thông tin môi
trường có liên quan đến tính chất đất, chất lượng nước, chế độ nước (ngập lũ, phèn hóa), khu dân cư,
khu công nghiệp, …


Tất cả dữ liệu đầu vào được xử lý bằng máy tính để đưa ra kết quả trực quan phục vụ cho việc
xây dựng bản đồ phân vùng sinh thái môi trường đất. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi xây
dựng các cơ sở dữ liệu và bản đồ phân vùng trên nền bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000. Việc số hoá các lớp
thông tin từ các bản đồ nền trong khu vực nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ phân vùng
sinh thái dựa trên các tiêu chí thực thông qua việc chồng lớp các dữ liệu liên quan.
Các bước thực hiện:
-Điều tra, thu thập số liệu và hệ thống hóa các dữ liệu thông tin về bản đồ nền của huyện tỷ lệ
1/25.000:
 Bản đồ Hành chánh.

Số hóa bản đồ HTN
để khởi tạo cơ sở dữ
liệu nền

Sử dụng phần mềm
Mapinfo

Bản đồ số hóa HTN

Xây dựng cơ sở dữ liệu
nền từ nguồn dữ liệu bản
đồ được số hóa

Hiệu chỉnh dữ liệu

Nhập vị trí và kết quả
phân tích mẫu

Hiệu chỉnh dữ liệu,
biên tập và in ấn bản
đồ chuyên đề

Bản đồ lưu trong máy tính, có thể cập nhập sửa chữa
bổ sung, ứng dụng trong các mục đích khác

Hình 3: Qui trình thực hiện thành lập dữ liệu hệ thống thông tin địa lý ( GIS)
5.4. Phương pháp xử lý số liệu
Nhập, xử lý các số liệu phân tích bằng phần mềm Excel: Nhập các kết quả thống kê điều tra đã
thực hiện ở trên; các kết quả phân tích mẫu và xử lý để đưa ra các sai số, độ tin cậy (f), độ tương quan
(r) của các dãy số liệu, . . .

nông thôn TĐT đã nghiên cứu xây dựng “Đề án quy hoạch phát triển sản xuất thuỷ sản đến năm
2010”. Đề án quy hoạch phát triển thuỷ sản là sự tập hợp những ý tưởng, nguyện vọng phát
triển thuỷ sản thông qua các chương trình hành động, các mục tiêu phát triển cụ thể nhằm tạo
sự phát triển bền vững trong tương lai. Đề án quy hoạch phát triển thuỷ sản sẽ tìm ra những
phương pháp tiếp cận hợp lý các phương án sản xuất hiệu quả cao [31, tr. 2].
Đề án quy hoạch phát triển sản xuất thuỷ sản đến năm 2010 của TĐT thực hiện thành
công thì không thể thiếu được phân vùng sinh thái môi trường nuôi trồng thuỷ sản. Phân vùng
sinh thái môi trường nuôi trồng thuỷ sản, ngoài việc nó liên quan chặt chẽ đến phân vùng chất
lượng nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản nó còn liên quan đến phân vùng sinh thái môi trường
đất phục vụ nuôi trồng thuỷ sản.
NTTS đã trở thành thế mạnh kinh tế quan trọng của ĐBSCL. Tổng diện tích có khả năng
phát triển NTTS của vùng năm 2001- 2005 lên đến 1.304.530 ha, với nhiều loại hình nuôi, khả
năng nuôi mặn lợ mặn 826.780 ha, diện tích có khả năng nuôi nước ngọt là 77.740 ha. Diện tích
nuôi của vùng tăng từ 510.160 ha năm 2001 lên 708.300 ha năm 2005 [10].
Theo số liệu thống kê, năm 1990 ở Việt Nam có hơn 96.000 ha diện tích mặt nước nuôi
tôm, với sản lượng gần 33.000 tấn/năm. Đến năm 1995, diện tích mặt nước nuôi tôm tăng lên
hơn 216.657ha, với sản lượng là 55.593 tấn/năm, và đến năm 2004 diện tích mặt nước nuôi là
587.426ha, với sản lượng trên 290.000 tấn/năm. Trong đó, diện tích nuôi công nghiệp và bán


công nghiệp là 42.31ha (chiếm khoảng 7, 2% diện tích); còn lại là quảng canh, quảng canh cải
tiến (báo cáo NTTS năm 2004, Bộ Thủy sản).
1.1. SINH THÁI MÔI TRƯỜNG ĐẤT LÀ GÌ?
C.Linne – nhà khoa học tự nhiên vĩ đại, người cha đẻ của khoa học phân loại và hệ thống
sinh vật học đã từng chia thế giới thành ba thể tự nhiên là: khoáng vật, thực vật, động vật. Đến
cuối thế kỷ XIX, nhà khoa học Nga

V. Dokuchaev, người khai sinh khoa học thổ nhưỡng

học lại phân biệt thêm một thể thứ tư là đất. Sống trong đất, đó là cuộc sống âm thầm trong

Cấu tử đất
Tác động của con người

Môi trường vật lý
Đất

Hệ động vật

Các nguồn năng lượng

Hệ thực vật
Tầng mùn

Mẫu chất

Đá mẹ
Hình 1.1: Sơ đồ biểu thị khái niệm đất là một môi trường sinh thái
1.2. PHÂN VÙNG SINH THÁI
Khi nó đến phân vùng thì có rất nhiều kiểu phân vùng như: phân vùng văn hoá, phân
vùng đánh bắt cá bờ biển, phân vùng động đất, phân vùng hành chánh, phân vùng kinh tế – xã
hội, phân vùng nước, phân vùng sinh thái…
Trong phân vùng sinh thái lại có rất nhiều kiểu vì trong tự nhiên và hoạt động sống của
con người có rất nhiều hệ sinh thái như: HST nông nghiệp, HST môi trường đất, HST nuôi
trồng thuỷ sản, HST rừng ngập mặn, HST nhiệt đới,… Mỗi kiểu phân vùng hệ sinh thái, đều có
đặc thù riêng để làm tiêu chí, cơ sở xem xét để phân vùng sinh thái.
- Viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp (1996), dựa vào các tiêu chí: Vị trí địa lý, địa
hình, khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, khả năng sử dụng đất đã phân vùng sinh thái nông nghiệp
Việt Nam thành 5 miền sinh thái: Miền sinh thái nông nghiệp phía bắc; Miền sinh thái nông
nghiệp Bắc trung bộ – đông Trường Sơn; Miền sinh thái nông nghiệp Tây Trường Sơn – Nam


phân vùng thuỷ sản cho các tỉnh ven biển ĐBSCL (Lê Huy Bá và cộng tác viên, 2003).


Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá
chủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng sản
xuất tập trung ở nước ta nói chung và ở TĐT nói riêng. Thời kỳ này thuỷ sản trở thành ngành
sản xuất hàng hoá đã được khẳng định từ giữa những năm 80 và gặt hái thành quả. Từ năm
1990 trở lại đây nuôi tôm cho xuất khẩu là một đột phá quan trọng, do đó phân vùng nuôi tôm
rất thiết yếu [7]. Tuy nhiên, việc phát triển diện tích nuôi trồng với tốc độ nhanh hoàn toàn
mang tính tự phát. Các nghiên cứu về hình thức nuôi cũng như vùng nuôi chưa được quan tâm
và đầu tư đúng mức. Do đó vấn đề phân vùng quy hoạch phát triển chưa kịp thực tế nuôi nên
làm cho hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản chưa cao song song đó ảnh hưởng xấu đến môi trường
sinh thái khu vực. Để thúc đẩy nghề nuôi thuỷ sản phát triển theo hướng tăng hiệu quả, đảm bảo
môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, đòi hỏi phải quan tâm đến một số yêu cầu nghiên cứu
khoa học trọng điểm liên quan đến vấn đề phân vùng sinh thái nuôi tôm và quy hoạch vùng
nuôi.
Trong xu thế hội nhập kinh tế, quốc tế, đòi hỏi hàng hoá phải có chất lượng cao, sản
phẩm khối lượng lớn ổn định, đáp ứng tiêu dùng và xuất khẩu. Vấn đề bảo vệ môi trường trong
nuôi trồng thuỷ sản là một vấn đề có tầm chiến lược cần trú trọng quan tâm. Để bảo vệ môi
trường trong phát triển nuôi trồng thuỷ sản HTN, cần: Tiến hành quy hoạch phát triển NTTS và
quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Phân chia vùng sinh thái trọng điểm vùng nuôi
trồng thuỷ sản đặc biệt nuôi TCX, phân vùng sinh thái ngập lụt, phân vùng sinh thái đầm trũng
chua phèn để có thể đầu tư đồng bộ phát triển kinh tế nuôi trồng thuỷ sản của huyện.
Việc phân vùng nuôi trồng thuỷ sản ĐBSCL nói chung HTN nói riêng không thể tách rời
tính chất của đất đặc biệt là những vùng đất phèn vùng ĐTM, Tứ Giác Long Xuyên,…
Khi nói đến phân vùng đất lại có rất nhiều nghiên cứu về phân vùng đất, với các mục
đích khác nhau như: Phân vùng đất nông nghiệp, phân vùng đất để xây dựng, phân vùng đất để
phát triển kinh tế,… Ví dụ: Đề tài khoa học “ Thu thập, kiểm chứng các tài liệu đã có, nghiên
cứu bổ sung lập bản đồ phân vùng đất yếu Hà Nội phục vụ phát triển bền vững Thủ đô” [8]. Do
đó đề tài “ Phân vùng sinh thái môi trường đất phục vụ quy hoạch phát triển nuôi tôm càng

độ Đông.
Ranh giới hành chánh của HTN được phân chia như sau (Bản đồ hành chánh huyện Tam Nông):
 Phía Bắc giáp hai huyện Hồng Ngự và Tân Hồng.
 Phía Nam giáp huyện Thanh Bình.
 Phía Đông giáp huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười và tỉnh Long An.
 Phía Tây giáp sông Tiền.
HTN nằm ở trung tâm phía bắc của tỉnh Đồng Tháp, có đoạn sông Tiền và Quốc lộ 30 đi
ngang qua, trên khắp địa bàn của huyện đều có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thuỷ, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá và phát triển kinh tế [13], [29].
Toàn huyện có diện tích tự nhiên là 46.081,860 ha đựơc chia thành 11 xã và 1 thị trấn, với 48
khóm ấp thể hiện qua bảng 2.1. Đặc biệt trên địa bàn huyện có Vườn Quốc Gia Tràm Chim thuộc địa
phận 5 xã: Xã Tân Công Sính, xã Phú Đức, xã Phú Thọ, xã Phú Thành B, xã Phú Hiệp và thị trấn
Tràm Chim [13],[29].


Bảng 2.1: Đơn vị hành chánh – Diện tích các xã trong HTN

Số ấp

Diện tích
tự nhiên
(ha)

Diện tích tự
nhiên
(Km2)

Diện tích
(%)


5

559.601

55,96

12,14

Xã Phú Đức

3

504.145

50,41

10,94

Xã Phú Thành B

4

496.564

49,66

10,78

Xã Phú Hiệp


3

205.247

20,53

4,46

Xã An Long

5

171.473

17,15

3,72

Xã Phú Ninh

3

135.704

13,57

2,95

TT Tràm Chim


huyện tương đối thấp. Có thể chia địa hình HTN thành 3 nhóm chính [13]:
Nhóm 1: Nhóm địa hình cao: Có độ cao  + 2,0 m tập trung chủ yếu ở các xã ven sông Tiền và
rải rác một số nơi trong huyện theo dạng gò đồi.
Nhóm 2: Nhóm địa hình trung bình, có độ cao từ +1,5m đến +2,0 m phần lớn tập trung ở phía
đông kênh 2/9 và phía bắc của huyện, một số ít rải rác trên địa bàn huyện. Trong nhóm địa hình trung
bình này HTN có xây dựng “Dự án đầu tư thí điểm hạ tầng thuỷ lợi phục vụ nuôi tôm càng xanh trên
chân ruộng”.
Nhóm 3: Nhóm địa hình thấp, có độ cao phổ biến từ + 0,9 m đến 1,5m chiếm hơn 60% diên tích của
toàn huyện.
Mặc dù có ba nhóm địa hình như vậy, nhưng trên từng tiểu vùng được giới hạn bởi các kênh
rạch chính và các kênh nhánh, chính vì thế mà trên từng tiểu vùng có địa hình tương đối bằng phẳng,


độ chênh lệch về độ cao rất thấp từ 10 cm đến 20 cm nên rất thuận lợi cho việc bố trí hệ thống tưới tiêu
và nuôi trồng thuỷ sản.
2.1.3. Các yếu tố khí hậu thuỷ văn [13], [29]
HTN có khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, một
Bảng 2.2 : Các chỉ tiêu khí hậu ở HTN
Yếu tố khí tượng

Các chỉ số

Nhiệt độ: (o C)
-Trung bình

27

-Cao nhất

37,2


73% -76%.

Chế độ gió: Chế độ gió ở HTN phân bố theo 2 mùa
 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc chiếm
tầng suất 60%-70%. Do gió này xuất phát từ lục địa nên khô và hanh, làm tăng độ bóc hơi và lượng
mưa giảm rõ rệt.
 Mùa mưa từ tháng 5 đến thánh 11, hướng gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam chiếm tầng suất
70% gió theo hướng từ biển vào nên mang theo nhiều hơi nước gây mưa, vào các tháng mùa mưa tốc
độ gió trung bình lớn hơn mùa khô, nhưng chênh lệch về tốc độ gió giữa các tháng trong năm không
nhiều . Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm từ khoảng 2-2,5 m/s, mạnh nhất 2,6 m/s, yếu nhất 2
m/s. Tuy nhiên tốc độ gió mạnh nhất quan trắc được có thể đạt vào khoảng 30 m/s – 40 m/s và thường
xảy ra trong cơn giông và phần lớn các cơn giông thường xảy ra trong mùa mưa với hướng gió Tây
hoặc gió Tây Nam.


Tốc độ gió có ảnh hưởng đến việc nuôi thuỷ sản do làm tăng khả năng bốc hơi và làm thay đổi chất
lượng nước trong các thuỷ vực nuôi thuỷ sản. Tuy nhiên đến nay chưa có nghiên cứu nào về mối
quan hệ giữa gió với sự sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản.
Độ bốc hơi: Lượng bốc hơi phân bố theo mùa khá rõ và ít biến động theo không gian, lượng
bốc hơi trung bình hàng năm trong huyện 1.657 mm/ năm (chiếm 111% lượng mưa trung bình hàng
năm).
 Mùa mưa lượng bốc hơi khoảng 2 -3 mm/ngày.
 Mùa khô lượng bốc hơi khoảng 4 -5 mm/ngày.
Chế độ mưa:
 Mùa mưa từ tháng 5 đến thánh 11 với lượng mưa tương đối ổn định qua các năm. Lượng mưa
trung bình trong năm 1.500mm, qua các năm lượng mưa dao động từ 1.300 -1.700 mm. Hệ số biến
động lượng mưa không lớn đạt trên dưới 2. Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 đến tháng 10.
 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thấp.
Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều giữa các năm, giữa các vùng lượng mưa có xu hướng giảm

Nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp bởi sông Tiền qua các hệ thống kênh rạch, nguồn nước
ngọt này rất dồi dào, chất lượng nước đảm bảo cho nhu cầu sinh trưởng và phát triển nuôi thuỷ sản,
nhu cầu tưới tiêu các loại cây trồng, ngay cả những vùng đất bị nhiễm phèn. Nguồn nước trong các
kênh rạch có thể sử dụng được nhờ sự lưu thông, trao đổi nước ngọt với sông Tiền đây là điều rất thuận
lợi cho nuôi trồng thuỷ sản cũng như sản xuất nông nghiệp [29].
Nước lũ hàng năm mang đến cho ĐTM nói chung và HTN nói riêng cả hai mặt tích cực và tiêu
cực [24].
-Tích cực: Đem lại cho đồng ruộng lượng phù sa khổng lồ, cung cấp cho đất đai thêm màu mỡ,
đem lại nguồn thức ăn tự nhiên cho các loài thuỷ sản trong suốt thời gian lũ. Nên việc bố trí nuôi tôm
càng xanh trong mùa lũ rất thích hợp vì vừa tận dụng được nguồn phụ phẩm thức ăn tự nhiên vừa có
nguồn nước dồi dào chảy tràn, chất lượng nước lại tốt, tôm phát triển nhanh giảm nhẹ chi phí thức ăn
và chí phí cho việc bơm nước vào vuông nuôi.
- Tiêu cực: Những trận lũ lớn gây thiệt hại tính mạng con người, sạt lở đất đai, thất thoát tài sản
của người dân, ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến sản xuất.
2.1.4.2. Tài nguyên nước ngầm
Trên địa bàn HTN có nhiều vỉa nước ngầm, các vỉa nước ngầm ở nhiều độ sâu khác nhau, trong
đó có nhiều tầng đã bị nhiễm phèn nên không sử dụng được. Những nơi khai thác ở độ sâu từ 50 –
100m thì sử dụng cho sinh hoạt, còn ở độ sâu 300m vừa phục vụ cho sinh hoạt, vừa có thể sử dụng cho
sản xuất nông nghiệp [29].
2.1.5. Tài nguyên sinh vật [13], [24], [29]
Rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) chiếm diện tích lớn nhất ở HTN. Do tác động con người, hầu
hết những cánh Tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng Tràm trồng
thuộc loài Melaleuca cajuputi (họ Myrtaceae), nhưng nhờ được bảo tồn nhiều năm nên có những cụm
Tràm phân bố theo kiểu tự nhiên. Hiện nay HTN có 7.000 ha rừng chũ yếu là rừng thứ sinh đang phát
triển trở lại thông qua công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng, trong đó có khoảng 1.000 ha rừng sản xuất
và 6.000 ha rừng đặc dụng của Vườn Quốc Gia Tràm Chim. Ngoài ra còn có các cây đặc trưng của


vùng ĐTM. Đây chính là những loài thực vật hoang dại có giá trị thích nghi lâu đời ở vùng này như:
Năng (Eleocharis sp.); Súng (Nymphaea lotus); Lúa ma ( Oryzae rufipigon); Sậy(Phragmites karka) ;

2.1.7.1.Than bùn
HTN có hai dạng than bùn:


- Than bùn lòng sông cổ có trữ lượng 390.000 m3 và chất lượng tốt, phân bố ở Trà Mơn gần
kênh Gáo Đôi.
- Than bùn vỉa trong các bưng lầy cổ, trữ lượng 1.500.000 m3, chất lượng kém.
Than bùn ở đây có nhiệt lượng cháy từ 4.100 – 5.700 Kcalo/ kg nên thuận lợi cho việc khai thác
ly trích chất kích thích tăng trưởng cho cây trồng hoặc chế biến phân bón. Đến nay nguồn nguyên liệu
này vẫn chưa có kế hoạch khai thác.
2.1.7.2. Cát sông
Có ở dọc sông Tiền từ xã An Hoà đến xã Phú Ninh, dạng trầm tích theo dòng chảy.
Được khai thác sử dụng trong công nghiệp xây dựng, gồm cát san lấp mặt bằng và cát xây dựng.
2.1.7.3. Sét
Sét keolin được phân bố ở xã An Long, Phú Cường, Phú Đức, Phú Hiệp có nguồn gốc trầm tích
sông. Đây là nguồn nguyên liệu phát triển sành sứ, đồ mỹ nghệ nhưng chưa được khai thác sử dụng.
Sét gạch ngói hiện có ở hầu hết ở các xã trong huyện, có trữ lượng lớn có tầng dầy hơn 10 mét,
đã được khai thác sử dụng trong sản xuất gạch ngói.
2.1.8 .Đánh giá điều kiện tự nhiên [29, tr.11]
HTN có hệ thống giao thông thuỷ, bộ phân bố đều trên địa bàn toàn huyện nên rất thuận lợi
trong việc lưu thông hàng hoá tiếp cận thị trường.
Khí hậu tương đối ôn hoà nền nhiệt độ cao đều trong năm thuận cho sinh trưởng và phát triển
nhiều loại cây trồng, vật nuôi.
Địa hình bằng phẳng, hệ thống thuỷ lợi tốt thuận lợi cho việc canh tác và nuôi trồng thuỷ sản.
Đặc biệt trong huyện còn có Vườn Quốc Gia Tràm Chim, đây chính là một ĐTM thu nhỏ với
lịch sử tự nhiên của vùng sinh thái tổng hợp, có nhiều loài động, thực vật. Nơi đây có thể xây dựng
thành khu du lịch sinh thái thu hút khách trong và ngoài nước.
Ngập lũ hàng năm mang lại lượng phù sa và nguồn thuỷ sản tự nhiên dồi dào và rất thuận lợi
nuôi tôm mùa lũ.
Tuy nhiên huyện lại nằm sâu trong vùng ĐTM nên chưa thật sự thu hút các nhà đầu tư , lũ lụt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status